z
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
MỘT SỐ BIỆN PHÁP THÚC ĐẨY
XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ
NGHỆ Ở CÔNG TY ARTEXPORT G
G
i
i
á
á
o
ov
v
i
i
ê
ê
r
r
ầ
ầ
n
nV
V
ă
ă
n
nB
B
ã
ã
o
oS
S
i
i
n
n
n
n:
:L
L
ê
êT
T
h
h
ị
ịN
N
g
g
ọ
ọ
c
c
LỜI NÓI ĐẦU
Đại hội đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đã đánh dấu một bước ngoặt
chói lọi trên con đường chuyển đổi nền kinh tế từ chế độ tập trung bao cấp sang
kinh tế thị trường có sự định hướng của nhà nước. Từ đại hội này đã tạo điều
1
kiện cho các thành phần kinh tế tự do hoạt động theo hành lang pháp lý ( giấy
phép kinh doanh và trong khoảng một thập kỷ lại đây nhà nước ta có chủ trương
pháp huy và bảo tồn những ngành nghề truyền thống, đưa ra những chính sách
khuyến khích các tổ chức tham gia hoạt động xuất khẩu và những mặt hàng thủ
công mỹ nghệ góp phần tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá
đất nước, phát huy và tận dụng triệt để tiềm năng thế mạnh của đất nước, đồng
thời giải quyết công ăn việc làm cho hàng vạn lao động nông nhàn.
Là một trong 10 mặt hàng xuất khẩu quan trọng của Việt Nam, các sản
phẩm thủ công mỹ nghệ của nước ta đã chứng tỏ được ưu thế của mình, cụ thể
năm 1998 kim ngạch xuất khẩu đạt 120 triệu USD, năm 140 triệu USD, năm
2000 đạt gần 160 triệu USD.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây do sự tác động của những nhân tố
khách quan và chủ quan khác nhau nên hoạt động xuất khẩu nói chung và hoạt
xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam có xu hướng chững lại, đó là lý
do tôi lựa chọn đề tại “
Một Số Biện Pháp Thúc Đẩy Xuất Khẩu Hàng
Thủ Công Mỹ Nghệ ở Công Ty ARTEXPORT
” với mục đích.
Đưa ra một hệ thống cơ sở lý luận khoa học về việc thực hiện hoạt
động xuất khẩu
Trên cơ sở lý luận về việc nghiên cứu đi vào phân tích thực tiễn
thực hiện hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ tại công ty
3
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT
KHẨU I. BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA XUẤT KHẨU
1. Khái niệm
Trong mỗi một giai đoạn phát triển quan hệ kinh tế thì người ta đưa ra một
khái niệm về xuất khẩu khác nhau sao cho nó có thể phản ánh một cách toàn
diện sự nhận thức ở giai đoạn đó cũng như trình độ phát triển của nó.
Ngày nay, xuất khẩu được hiểu là việc bán hàng hoá hoặc hàng hoá hoặc
cung cấp dịch vụ cho nước ngoài trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh
toán, tiền tệ ở đây phải là ngoại tệ đối với một bên hoặc đối với cả hai bên.
Hoạt động xuất khẩu diễn ra trong một lĩnh vực, mọi điều kiện nền kinh tế
xã hội hàng tiêu dùng cho đến hàng sản xuất công nghiệp, từ máy móc thiết bị
cho tới các công nghệ kỹ thuật cao. Tất cả các hoạt động trao đổi đó nhằm mục
tiêu đem lại lợi ích cho các quốc gia.
Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên phạm vi rất rộng cả về phạm vi không
gian lẫn điều kiện thời gian. Nó có thể diễn ra trong một ngày hay cũng có thể
kéo dài hàng năm, có thể tiến hành trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia hay
nhiều quốc gia khác nhau.
2. Tính tất yếu của việc mở rộng hoạt động xuất khẩu
Hoạt động xuất khẩu là một yếu tố quan trọng để mỗi quốc gia phát triển
đặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp cũng như phát triển kinh tế của
mỗi quốc gia.
3.1. Đối với nền kinh tế mỗi quốc gia
Xuất khẩu là một tất yếu khách quan và có vai trò quan trọng đối với các
quốc gia, các lý thuyết về tăng trưởng và phát triển kinh tế chỉ ra rằng để tăng
trưởng và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia cần có bốn điều kiện là : Nguồn
nhân lực, tài nguyên, vốn và kỹ thuật công nghệ. Hầu hết các quốc gia đang
phát triên như Việt Nam đều thiếu vốn và kỹ thuật, để có vốn và kỹ thuật thì con
đường ngắn nhất là phải thông qua thương mại quốc tế.
a.Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hoá hiện
đại hoá đất nước
Công nghiệp hoá với bước đi phù hợp là con đường tất yếu để khắc phục
tình trạng nghèo nàn lạc hậu nhưng công nghiệp hoá đòi hỏi phải có lượng vốn
lớn để nhập khẩu máy móc thiết bị kỹ thuật công nghệ tiên tiến.
Nguồn vốn nhập khẩu có thể được hình thành từ các nguồn sau : Đầu tư
nước ngoài, vay nợ, các nguồn viện trợ, thu từ các hoạt động du lịch, dịch vụ thu
ngoại tệ trong nước.
5
Các nguồn như đầu tư nước ngoài, viện trợ hay vay nợ … có tầm quan
trọng không thể phủ nhận được, song việc huy động chúng không phải dễ dàng,
hơn nữa đi vay thường chịu thiệt thòi và phải trả về sau này.
Do vậy, xuất khẩu là nguồn vốn quan trọng nhất, xuất khẩu tạo tiền đề cho
nhập khẩu, quyết định đến quy mô tăng trưởng của nền kinh tế.
b.Xuất khẩu thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển sản
xuất.
Dưới tác động của xuất khẩu cơ cấu sản xuất và tiêu dùng của thế giới đã
và đang thay đổi mạnh mẽ xuất khẩu làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi
quốc gia từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ.
Có hai cách nhìn nhận về tác dụng của xuất khẩu đối với sản xuất và
sống nhân dân.
Xuất khẩu là công cụ giải quyết nạn thất nghiệp trong nước theo
INTERNATIONAL TRADE 1986 – 1990 ở mỹ và các nước công nghiệp phát
triển, xuất khẩu tăng lên được 1 tỷ USD thì sẽ tạo nên khoảng 35.000 – 40.000
chỗ làm trong nước, còn ở các nước đang phát triển như Việt Nam có thể tạo ra
hơn 50.000 chỗ làm.
d. Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy sự phát triển các mối quan hệ
kinh tế đối ngoại
Hoạt động xuất khẩu là một hoạt động chủ yếu cơ bản và là hình thức ban
đầu của kinh tế đối ngoại, Từ đó nó thúc đẩy các mối quan hệ khác phát triển
như du lịch quốc tế, bảo hiểm quốc tế … ngược lại sự phát triển của các ngành
này sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động xuất khẩu phát triển.
3.2 Đối với doanh nghiệp
Vươn ra thị trường nước ngoài là xu hướng chung của các quốc gia và các
doanh nghiệp. Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương phát triển kinh tế đối
ngoại theo hướng “ Hướng vế xuất khẩu, đẩy mạnh xuất khẩu, coi xuất khẩu là
hướng ưu tiên và là trọng điểm của kinh tế đối ngoại” ( Văn kiện đại hội đảng
VIII) Hoạt động xuất khẩu có vai trò to lớn trong hoạt động ở các doanh nghiệp,
thể hiện trên các điều sau:
- Hoạt động xuất khẩu giúp cho doanh nghiệp phát triển là vấn đề sống còn
đối với doanh nghiệp ngoại thương. Mở rộng thị trường, đẩy mạnh số lượng
hàng hoá tiêu thụ trên thị trường quốc tế làm tăng tốc độ quay vòng vốn, có cơ
hội mở rộng quan hệ buôn bán kinh doanh với nhiều đối tác nước ngoài trên cơ
sở hai bên cùng có lợi.
- Thông qua hoạt động xuất khẩu, các doanh nghiệp trong nước tham gia
vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả và chất lượng, buộc doanh
nghiệp phải hình thành một cơ cấu sản xuất phù hợp với thị trường, từ đó đề ra
các giải pháp nhằm củng cố và nâng cao hiệu quả trong công tác quản trị kinh
7
nước ngoài thông qua các tổ chức của mình.
Ưu điểm của xuất khẩu trực tiếp
- Giảm bớt chi phí trung gian, làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
- Có thể liên hệ trực tiếp với thị trường và khách hàng nước ngoài.
biết được nhu cầu của khách hàng và tình hình bán hàng nếu có thể thay đổi sản
8
phẩm và những điêù kiện bán hàng trong trường hợp cần thiết để đáp ứng tốt
nhu cầu của thị trường.
Nhược điểm của xuất khẩu trực tiếp
- Rủi ro trong kinh doanh cao
- Yêu cầu nghiệp vụ của cán bộ trong lĩnh vực kinh doanh xuất nhập
khẩu cao.
4.2 Xuất khẩu gia công uỷ thác
Xuất khẩu gia công uỷ thác là hình thức kinh doanh trong đó đơn vị ngoại
thương đứng ra nhập nguyên vật liệu hoặc bán thành phẩm cho xí nghiệp gia
công, sau đó thu hồi thành phẩm để bán cho bên nước ngoài, đơn vị được hưởng
phí uỷ thác theo thoả thuận với các xí nghiệp uỷ thác
Ưu điểm của xuất khẩu gia công uỷ thác
- Doanh nghiệp không cần bỏ vốn vào kinh doanh nhưng vẫn thu
được lợi nhuận.
- Rủi ro ít hơn và việc thanh toán chắc chắn hơn.
- Học tập được những kinh nghiệm quản lý của người nước ngoài
- Nhập được những thiết bị công nghệ cao, tạo vốn để xây dựng cơ
sở vật chất ban đầu
Nhược điểm của xuất khẩu gia công uỷ thác
- Giá gia công rẻ mạt và bị chi phối từ phía nước ngoài
- Không được tiếp xúc trực tiếp với thị trường để điều chỉnh sản xuất
kinh doanh cho phù hợp.
4.3 Phương thức mua bán đối lưu
xúc tiến … tại hội chợ và triển lãm đặc biệt là mặt hàng thủ công mỹ nghệ.
4.5 Giao dịch qua trung gian:
Giao dịch qua trung gian là hình thức giao dịch trong đó bên mua hoặc bên
bán thông qua người thứ ba đứng ra tiến hành công việc mua bán thay cho mình.
Những công việc này có thể nghiên cứu thị trường, đàm phán ký kết hợp đồng,
thực hiện hợp đồng. Đây là phương thức giao dịch phổ biến, chiếm khoảng 50%
tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới. Thông thường người thứ ba ở đây là
người môi giới hoặc đại lý.
Ưu điểm của phương thức giao dịch qua trung gian
-Giao dịch qua trung gian tạo điều kiện thuận lợi cho việc kinh doanh hơn
như mở rộng kênh phân phối, mạng lưới kinh doanh, am hiểu thị trường, đặc
biệt người uỷ thác có thể có lợi về cơ sở vật chất của người trung gian, tiết kiệm
được chi phí kinh doanh.
Nhược điểm của phương thức giao dịch qua trung gian
10
- Lợi nhuận bị chia sẻ do phải trả thù lao cho người trung gian thêm vào đó
là doanh nghiệp khó kiểm soát được hoạt động của người trung gian, do đó khó
kiểm soát được hoạt động của thị trường.
4.6 Giao dịch tái xuất
Giao dịch tái xuất là phương thức giao dịch trong đó hàng hoá mua về với
mục đích để tái xuất khâủ thu lợi nhuận chứ không phải với mục đích phục vụ
tiêu dùng trong nước. Giao dịch này luôn luôn thu hút ba nước, nước xuất khẩu,
nước tái xuất và nước nhập khẩu. Vì vậy, người ta còn gọi là giao dịch ba bên
hay giao dịch tam giác.
Ưu điểm giao dịch tái xuất :
- Thúc đẩy buôn bán đặc biệt trong một số trường hợp phương thức giao
dịch khác không thể vượt qua được, đó là thúc đẩy buôn bán giữa hai nước
không có mặt hàng phù hợp với yêu cầu của mình, mua bán theo hình thức tái
xuất có thể thu được lãi bằng ngoại tệ mạnh, có thể giúp các nước bị cấm vận,
sẽ làm cho dung lượng hàng xuất khẩu giảm đi và sản xuất trong nước sẽ thay
đổi bất lợi cho mặt hàng này. Trong một số trường hợp việc đánh thuế xuất khẩu
không làm cho khối lượng hàng xuất khẩu giảm đi nhiều và vẫn có lợi cho nước
xuất khẩu, nếu như họ có thể tác động đáng kể đến mức giá quốc tế. Một mức
thuế suất cao và duy trì quá lâu có thể làm lợi cho các địch thủ cạnh tranh.
Như vậy, thuể xuất khẩu nói riêng và thuế xuất nhập khẩu nói chung đều
làm giảm “ lượng cầu quá mức” đối với hàng hoá có thể nhập khẩu và giảm “
lượng cung quá mức” đối với hàng hoá xuất khẩu.
b. Các công cụ phi thuế quan
Công cụ quota ( Hạn ngạch xuất khẩu) : Hình thức này áp dụng như
một công cụ chủ yếu trong hàng rào phi thuế quan và ngày càng có vai trò quan
trọng trong xuất khẩu hàng hoá, hạn ngạch xuất khẩu hàng hoá được quyết định
theo mặt hàng, theo từng quốc gia, theo từng thời gian nhất định.
Những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật : Nó bao gồm quy định
vệ sinh, đo lường, an toàn lao động, bao bì đóng gói, đăc biệt là quy định về
vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh phòng dịch đối với thực vật tươi sống,
tiêu chuẩn và bảo vệ môi trường sinh thái và các máy móc, dây truyền thiết
bị cộng nghệ.
Trợ cấp xuất khẩu : Chính phủ có thể áp dụng các biện pháp tự cấp
trực tiếp hoặc cho vay với lãi xuất thấp đối với các nhà xuất khẩu trong nước,
bên cạnh đó chính phủ còn có thể thực hiện một khoản cho vay ưu đãi với các
bạn hàng nước ngoài để có thể có các điều kiện mua các sản phẩm do nước mình
sản xuất ra và để xuất khẩu ra bên ngoài.
Với mục đích thúc đẩy xuất khẩu, mở rộng hợp tác kinh doanh với
nước ngoài, chính phủ đã có những chính sách như “ Nhà nước khuyến
khích và có chính sách hỗ trợ đối với các doanh nghiệp phát triển và mở
12
rộng thị trường mới, xuất khẩu các mặt hàng mà nhà nước khuyến khích
xuất khẩu”
xuất khẩu được nhanh chóng và an toàn.
Nước ta có vị trí thuận lợi về giao thông là trung tâm vận hành đường biển
trong khu vực Đông Nam á, rất thuận tiện cho hoạt động ngoại thương, tuy
13
nhiên phương tiện đường xá, cơ sở vật chất còn rất lạc hậu. Khắc phục, đổi mới
hệ thống giao thông vận tải đang là vấn đề cấp bách được đặt ra.
5. Ảnh hưởng của hệ thống tài chính ngân hàng
Hệ thống tài chính ngân hàng giúp cho việc quản lý, cung cấp vốn, đảm
trách việc thanh toán một cách thuận tiện, nhanh chóng, chính xác và an toàn
cho doanh nghiệp điều này rất quan trọng đối với doanh nghiệp hoạt động trong
lĩnh vực xuất khẩu. Hiện nay, hệ thống tài chính ngân hàng đã phát triển hết sức
lớn mạnh, can thiệp đến tất cả các doanh nghiệp trong nền kinh tế, làm cho hoạt
động xuất khẩu hết sức thuận lợi.
6. Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp
Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp là tập lợp những điều kiện,
những yếu tố bên trong hoặc bên ngoài ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh là các yếu tố khách quan mà
doanh nghiệp không thể kiểm soát được. Nghiên cứu các yếu tố này không
nhằm để điều khiển nó theo ý muốn của doanh nghiệp mà nhằm tạo ra khả năng
thích ứng một cách tốt nhất với xu hướng vận động của nó.
Mỗi một doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường đều có một
môi trường kinh doanh nhất định. Môi trường kinh doanh tác động liên tục
đến hoạt động của doanh nghiệp theo những xu hướng khác nhau vừa tạo ra
cơ hội, vừa hạn chế khả năng thực hiện mục tiêu kinh doanh của doanh
nghiệp. ảnh hưởng của môi trường kinh doanh có thể ở các tầng ( thứ bậc)
khác nhau vĩ mô/vi mô, mạnh/yếu, trực tiếp/giám tiếp … Nhưng về mặt
nguyên tắc cần phản ánh được sự tác động của nó trong chiến lược kinh
doanh của doanh nghiệp. Sự ổn định hay bất ổn về chính trị xã hội … là
trường, với khả năng của doanh nghiệp.
Lựa chọn điều kiện cơ sở giao dịch
Lựa chọn phương thức thanh toán
Các phương tiện lưu thông tín dụng ( hối phiếu, kỳ phiếu, séc …) được dùng
làm phương tiện thanh toán quốc tế hình thành trên cơ sở của sự phát triển tín dụng
thương nghiệp và tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng trong thanh toán quốc tế.
2. Tổ chức điều tra nghiên cứu thị trường
Nghiên cứu thị trường trong kinh doanh thương mại quốc tế là một loạt các
thủ tục và kỹ thuật được đưa ra để giúp các nhà kinh doanh thương mại có đầy
đủ thông tin cần thiết để từ đó đưa ra những quyết định chính xác về Marketing
bởi vậy nghiên cứu thị trường giúp các nhà kinh doanh đạt hiệu quả cao trong
công tác kinh doanh thương mại quốc tế.
Nghiên cứu thị trường là phương pháp đã được tiêu chuẩn hoá có hệ thống và tỉ mỉ
xử lý vấn đề marketting với mục đích tìm ra những điều cần thiết, thích hợp để tìm thị
trường cho các loại hàng hoá, dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian và nguồn lực
hạn chế
Nghiên cứu thị trường bao gồm ba bước sau :
15
-Thu nhập các thông tin về thị trường
-Xử lý các thông tin
-Rút ra những quyết định phù hợp
Để làm công tác nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp thường dùng các biện
pháp sau: Nghiên cứu tại bàn và nghiên cứu tại hiện trường, tuỳ theo thị trường
và kinh phí của mình mà doanh nghiệp tìm ra phương pháp nghiên cứu thị
trường cho phù hợp.
3. Tổ chức ký kết hợp đồng
Ký kết hợp đồng là khâu cơ bản, quan trọng nhất của qúa trình đàm phán,
nó đảm bảo quyền lợi cho các bên và khẳng định tính khả thi của hợp đồng
bằng sự rằng buộc nghĩa vụ trách nhiệm của các bên một cách hợp lý.
-Dựa vào tài liệu kỹ thuật
-Dựa vào nhãn hiệu hàng hoá
-Dựa vào mô tả hàng hoá
c. Điều kiện số lượng :
Nhằm nói lên “lượng” của hàng hoá được giao dịch, điều khoản này bao
gồm các vấn đề về đơn vị tính số lượng ( hoặc trọng lượng) của hàng hoá,
phương pháp quy định số lượng và phương pháp xác định trọng lượng
Trong khi mua bán hàng hoá, người ta thường dùng một số phương pháp
sau:
-Trọng lượng cả bì : Đó là trọng lượng của hàng hoá cùng với trọng
lượng của các loại bao bì hàng đó ( VD : một số mặt hàng giấy làm báo, các
loại đậu tập …)
-Trọng lượng tịnh ( TLT) : đó là trọng lượng thực tiế của bản thân
hàng hoá
TLT = Trọng lượng cả bì - Trọng lượng của vật liệu bao bì
-Trọng lượng thương mại : Là trọng lượng của hàng hoá có độ ẩm tiêu
chuẩn.
100 + W
TC
G
TM
= G
TT
x
100 + W
TT
Trong đó G
TM
: Trọng lượng thương mại
G
e. Điều kiện giá cả :
Là điều kiện rất quan trọng nó bao gồm những vấn đề : Đồng tiền tính giá,
mức giá, phương pháp quy định giá, phương pháp xắc định mức giá, cơ sở của
giá cả và việc giảm giá.
- Đồng tiền tính giá ; giá cả trong buôn bán quốc tế có thể được thực hiện
bằng đồng tiền của nước xuất khẩu, nước nhập khẩu hoặc của một nước thứ ba
nhưng phải là đồng tiền ấn định và tự do chuyển đổi được.
- Mức giá nêu ra là mức giá quốc tế : Việc xuất khẩu thấp hơn giá quốc tế
và nhập khẩu cao hơn giá quốc tế làm tổn hại đến tài sản quốc gia, tuỳ từng điều
kiện mà doanh nghiệp thoả thuận phương pháp quy định giá cố định , giá quy
định sau, giá linh hoạt, giá đi động.
- Giá di động : là giá cả được tính toàn dứt khoát vào lúc thực hiện hợp
đồng trên cơ sở giá cả quy định ban đầu.
b
1
c
1
P
1
= P
0
( A + B + C )
b
0
c
0
Trong đó P
1
: Là giá cuối cùng để thanh toán
- Giảm giá do trả tiền sớm
- Giảm giá thời vụ
- Giảm giá đổi hàng cũ để mua hàng mới
- Giảm giá đối với những thiết bị đã dùng rồi
- Giảm giá do mua
- Giảm giá đơn
- Giảm giá kép
- Giảm giá luỹ tiến
- Giảm giá tăng trưởng
f. Điều kiện giao hàng :
Nội dung cơ bản của điều kiện giao hàng là sự xác định thời hạn và
địa điểm giao hàng, sự xác định phương thức giao hàng và việc thông báo
giao hàng. 19
Khiếu nại là một bên yêu cầu bên kia phải giải quyết những tổn thất
hoặc thiệt hại mà bên kia đã gây ra, hoặc những sự vi phạm điều đã được
cam kết giữa hai bên. Nội dung cơ bản của điều kiện khiếu nại bao gồm các
vấn đề : Thể thức khiếu nại, thời hạn khiếu nại, quyền hạn và nghĩa vụ các
bên có liên quan đến khiếu nại, cách thức giải quyết khiếu nại ( bằng văn
bản với các nội dung về hàng hoá khiếu nại, yêu cầu khiếu nại và các tài
liệu chứng minh).
i. Điều kiện bảo hành :
Bảo hành là sự bảo đảm của người bán về chất lượng hàng hoá trong
một thời gian nhất định. Thời hạn này gọi là thời hạn bảo hành. Trong hợp
đồng quy định phạm vi đảm bảo của người bán thời hạn bảo hành và trách
nhiệm của người bán trong thời gian bảo hành.
k. Điều kiện về trường hợp miễn trách :
Theo văn bản số 421 của phòng thương mại quốc tế, một bên được
21
4. Tổ chức thực hiện hợp đồng
Trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán ngoại thương, đơn vị kinh
doanh xuất nhập khẩu phải tiến hành các công việc dưới đây :
Xin giấy
phép
Xuất khẩu
Chuẩn bị
hàng hoá
xuất khẩu
Kiểm tra chất
lượng
Thuê tàu lưu
cước
Mua bảo hiểm
Làm thủ tục
hải quan
tình hình thị trường thuê tàu và tinh thông các điều kiện thuê tàu.
4.4 Mua bảo hiểm
Khi mua bảo hiểm doanh nghiệp phải lưu ý tới cái điều kiện bảo hiểm và
lựa chọn công ty bảo hiểm. Có 3 điều kiện bảo hiểm chính :
- Bảo hiểm mọi rủi ro ( điều kiện A)
- Bảo hiểm miền bồi thường tổn thất riêng ( điều kiện B)
- Bảo hiểm miền bồi thường tổn thất riêng ( điều kiện C)
Ngoài ra còn có một số điều kiện bảo hiểm đặc biệt như : Bảo hiểm chiến
tranh, bảo hiểm đình công, bạo động …
4.5 Làm thủ tục hải quan
Hàng hoá đi ngang qua biên giới quốc gia để xuất khẩu hoặc nhập khẩu đều
phải làm thủ tục hải quan. Việc làm thủ tục hải quan bao gồm ba bước chủ yếu
sau đây :
- Khai báo hải quan
- Xuất trình hàng hoá
- Thực hiện các quyết định của hải quan
Khai báo hải quan : Yêu cầu của khai báo là trung thực và chính
xác, nội dụng của tờ khai báo gồm : Loại hàng ( hàng mậu dịch , hàng trao đổi
tiểu ngạch biên giới, hàng tạm nhập tái xuất …) tên hàng số lượng, khối lượng,
giá trị hàng, tên công cụ vận tải, xuất khẩu hoặc nhập khẩu với nước ngoài … tờ
khai báo hải quan phải được xuất trình kèm theo với một số chứng từ khác, mà
chủ yếu là : Giấy phép xuất nhập khẩu, hoá đơn, phiếu đóng gói, bảng kê chi tiết
…
Xuất trình hàng hoá : hàng hoá phải được sắp xếp trật tự, thuận tiện
cho việc kiểm soát, với hàng hoá xuất khẩu có khối lượng ít, người ta chuyến
hàng hoá tới kho của hải quan để kiểm lương, làm thủ tục hải quan và nộp thuế (
nếu có). Với hàng hoà xuất khẩu có khối lượng lớn, việc kiểm tra hàng hoá và
giấy tờ hải quan diễn ra ở tại nơi đóng gói bao kiện, tại nơi giao nhận cuối cùng,
tại cửa khẩu.
Thực hiện các quyết định của hải quan : Sau khi kiểm soát giấy
đã quy định trong hợp đồng và cần lưu ý rằng trong quá trình thực hiện hợp
đồng khi hàng hoá có tổn thất hoặc thanh toán có nhầm lẫn thì hai bên có thể
khiếu nại hoặc đi kiện.
4.8 Khiếu nại và giải quyết khiếu nại ( nếu có )
Khi thực hiện hợp đồng xuất khẩu, nếu chủ hàng xuất nhập khẩu bị
khiếu nại đòi bòi thường, cần phải có thái độ nghiêm túc, thận trọng trong
24