1
Kết cấu trong tiểu thuyết Haruki Murakami
Lê Thị Thanh
Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn; Khoa Văn học
Chuyên ngành: Lý luận văn học; Mã số: 60 22 01 20
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trương Đăng Dung
Năm bảo vệ: 2012
Abstract. Giới thiệu kết cấu tiểu thuyết và Haruki Murakami trong bầu trời văn chương
hậu hiện đại. Tìm hiểu về cốt truyện trong tiểu thuyết của Haruki Murakami. Nghiên cứu
về kết cấu nhân vật trong tiểu thuyết của tác giả Haruki Murakami. Phân tích kết cấu
không gian - thời gian trong tiểu thuyết của nhà văn Haruki Murakami.
Keywords. Lý luận văn học; Nghệ thuật kết cấu; Tiểu thuyết; Văn học Nhật Bản
Content.
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nằm ở phía Đông Châu Á, Nhật Bản được mệnh danh là xứ sở “mặt trời mọc” hay
còn gọi là đất nước Phù Tang (Trong thần thoại, Phù Tang là tên một loại cây thần mọc
ở nơi mặt trời mọc); một xứ sở diệu kỳ của hoa anh đào, tuyết phủ cùng một nền công
nghiệp phát triển đứng trong tốp đầu của thế giới.
Văn hóa Nhật Bản đập vào sự chú ý của người quan sát trước hết, bởi những yếu
tố đối nghịch của nó: Nhân ái và mềm mại như đạo Phật (Trịnh Độ Tông), vụ nghĩa
cứng rắn đến tàn nhẫn như võ sĩ đạo, thực dụng như Khổng giáo và mơ mộng siêu thoát
như Thiền, biết trọng lợi ích vật chất mà cũng biết yêu cái đẹp; khép kín mà cởi mở,
truyền thống mà hiện đại, một dân tộc đầy sức sống nhưng có hẳn một triết lí chết lúc
và thả rông tâm hồn mình theo những câu chuyện tuyệt vời. Khảo sát thế giới nghệ thuật
trong tiểu thuyết của ông, khi thì người ta thấy được một vài dấu ấn của triết học hiện
sinh, lúc lại thấy được nét nào đó của Phân tâm học Freud. Tất cả những học thuyết,
triết học ấy đã được nhà văn dụng công một cách tài tình, khéo léo trong những sáng tác
của mình, lẽ dĩ nhiên là theo cái cách của riêng ông.
Tìm hiểu tiểu thuyết của Murakami, bên cạnh các phương diện được khai thác
như: kiểu con người cô đơn, sex, hay các bình diện nội dung tư tưởng… chúng tôi mạnh
dạn thực hiện đề tài Nghệ thuật kết cấu trong tiểu thuyết của ông nhằm tìm thêm những
kiến giải mới mẻ cho bài toán thủ pháp nghệ thuật - “sức hút Murakami”.
Lựa chọn tìm hiểu tiểu thuyết Murakami từ góc độ kết cấu còn vì lí do, chúng tôi
nhận thấy với Murakami, kết cấu tiểu thuyết giống như một thủ pháp sáng tác, một
phương diện hình thức tạo nên cái gọi là phong cách tiểu thuyết Murakami. Không một
sự vật nào tồn tại mà không kết cấu; sự tồn tại của bản thân sự vật khẳng định sự tồn tại
kết cấu của nó. Ngược lại cũng vậy. Trong nghệ thuật, kết cấu là một hiện tượng chức
năng, chỉ có thông qua phân tích trực tiếp mới phát hiện được giá trị thực sự và vẻ đẹp
độc đáo của nó, cũng chỉ thông qua sự phân tích trực tiếp đó chúng ta mới giải thích
được ý nghĩa của sự tồn tại của kết cấu tác phẩm. Kết cấu là liên hệ cơ bản trong quan
hệ giữa hình thức và nội dung tác phẩm văn học. Trong tác phẩm tự sự, kết cấu là cơ sở
của hình thức truyện mà đồng thời cũng là một cách bao quát của nội dung câu chuyện.
Các loại tài liệu - chất liệu đời sống thông qua sự tổ hợp đa tầng thứ, đa chiều kích của
kết cấu hình thành nên hình thức nghệ thuật mang nội dung tự sự cụ thể. Vì vậy, phân
tích kết cấu tự sự (analyse Structure du récit) là một trọng điểm trong nghiên cứu văn
học tự sự.
Với những lí do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài luận văn của mình là Nghệ thuật
kết cấu trong tiểu thuyết Haruki Murakami.
2. Lịch sử vấn đề
Do những hạn chế khách quan nên đến sau đổi mới, văn học Nhật mới được giới
thiệu một cách rộng rãi đến bạn đọc Việt Nam qua bản dịch các tác phẩm từ cổ đến hiện
đại và một số công trình nghiên cứu về lịch sử văn học Nhật, về sáng tác của các tác giả
thuộc về vẻ đẹp truyền thống Nhật Bản. Nghiên cứu và tiếp nhận các tác phẩm của
Hoàng Long in thành sách (NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2006) thì chưa có
một quyển sách hay chuyên luận nào về Murakami được in ấn và xuất bản.
Năm 2007, công ty văn hóa Nhã Nam kết hợp với Đại sứ quán Nhật Bản tổ chức
hội thảo về các tác phẩm Haruki Murakami và nữ văn sĩ Yoshimoto Banana tại Hà Nội.
Kỷ yếu hội thảo đã tập hợp rất nhiều bài viết có giá trị về các sáng tác Murakami cũng
như phân tích, giải mã các thủ pháp nghệ thuật ở ông. Trong đó phải kể đến các bài viết
như Cái mà tôi muốn mô tả trong tác phẩm của tôi là NHỮNG CON NGƯỜI (Trần
Tiễn Cao Đăng dịch), Bí ẩn như là thủ pháp kể chuyện (Cao Việt Dũng), Cuộc tìm kiếm
bản thể của con người hiện đại (Nguyễn Hoài Nam), Những vẻ đẹp trong tác phẩm của
Murakami (Dịch giả Lâm Thiếu Hoa)…
Ngoài ra, chúng tôi cũng tiếp nhận thêm những bài viết trên mạng Internet (các
website, diễn đạt văn học…) để có thêm tư liệu cho việc thực hiện luận văn. Chẳng hạn
như trong bài viết Hệ thống biểu tượng trong Biên niên ký chim vặn dây cót, Bức họa
phi lý và phản quang xã hội trong Biên niên ký chim vặn dây cót của Nguyễn Anh Dân;
Rừng Nauy - sex thuần túy hay nghệ thuật đích thực của Phan Quý Bích; Bài phỏng vấn
Murakami là một tấm gương về những nỗ lực tìm tòi và sáng tạo không ngừng của Lê
Tân đối với nhà nghiên cứu Nhật Chiêu - một trong những chuyên gia hàng đầu về văn
học Nhật Bản hay Kiểu con người đa ngã trong tiểu thuyết Haruki Murakami (đăng trên
tạp chí văn học nước ngoài số tháng 3/2010), Trần Thị Tố Loan đã nhận xét: “Những
tác phẩm của ông từ Rừng Nauy, Biên niên ký chim văn dây cót, Phía nam biên giới
phía tây mặt trời, Người tình Sputnik thực sự là những hành trình đầy trăn trở, những
cuộc lãng du kỳ lạ trong hiện thực, những cuộc vượt thoát ra ngoài không, thời gian và
thám hiểm vào cõi nội tâm đầy bí ẩn của con người để truy tìm bản ngã của mình”.
Nhiều bài viết giới thiệu về tác phẩm của Murakami cũng được đăng tải trên các trang
báo mạng như Người tình Sputnik đi sâu vào thế giới đồng tính nữ (Jang P), Những vệ
tinh cô đơn trong vô tận (Nhật Chiêu), Người tình Sputnik - sự cô độc của kiếp người
(Hạnh Linh), Kafka bên bờ biển: Câu trả lời của phương Đông về cái phi lý (Khánh
Phương)…
Bên cạnh đó, chúng tôi còn tham khảo những khóa luận tốt nghiệp, báo cáo khoa
học nghiên cứu về Murakami và các vấn đề liên quan như Yếu tố huyền ảo trong sáng
- Rừng Nauy, Trịnh Lữ dịch, NXB Hội nhà văn, 2006
- Phía nam biên giới phía tây mặt trời, Cao Việt Dũng dịch, NXB Hội nhà văn,
2007.
- Người tình Sputnik, Ngân Xuyên dịch, NXB Hội nhà văn, 2009.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được triển khai theo phương pháp thống kê, phân tích kết hợp một số
thao tác chứng minh, đối chiếu, so sánh để làm nổi bật vấn đề. Ngoài ra, để làm nổi bật
“hình vóc văn chương” của Murakami trong nền văn học đương đại, chúng tôi đặt hoàn
cảnh ra đời và thời điểm xuất hiện tác phẩm trong tiến trình phát triển chung của văn
học Nhật Bản, đối chiếu và so sánh tác phẩm của ông với tác phẩm của tác giả cùng
thời. Đồng thời, đặt trên mặt cắt đồng đại văn học chúng ta cần thấy những ảnh hưởng,
tiếp thu văn hóa phương Tây đến những sáng tạo, độc đáo, cá tính riêng biệt của
Murakami.
Ngoài ra, luận văn cũng sử dụng các kiến thức liên ngành: Hệ thống lí thuyết về tự
sự học, Thi pháp học, Phân tâm học… để tìm hiểu nghệ thuật kết cấu trong tiểu thuyết
Murakami.
5. Cấu trúc:
Luận văn thực hiện ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung gồm 4
chương:
Chương 1: Kết cấu tiểu thuyết và Haruki Murakami trong bầu trời văn chương hậu
hiện đại
5
Chương 2: Kết cấu cốt truyện trong tiểu thuyết của Haruki Murakami
Chương 3: Kết cấu nhân vật trong tiểu thuyết của Haruki Murakami
Chương 4: Kết cấu không - thời gian trong tiểu thuyết của Haruki Murakami
Cuối cùng là thư mục tài liệu tham khảo.
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: KẾT CẤU TIỂU THUYẾT VÀ HARUKI MURAKAMI
nhận thức, tài năng, phong cách của người nghệ sĩ.
Vai trò quan trọng nhất của kết cấu là tổ chức tác phẩm sao cho chủ đề tập trung,
tư tưởng thống nhất, sao cho chủ đề tư tưởng thấm sâu vào từng bộ phận của tác phẩm
kể cả những chi tiết nhỏ nhất; Kết cấu đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện sự
thống nhất chặt chẽ giữa chủ đề tư tưởng với hệ thống tính cách; tổ chức bố cục của cốt
truyện thành các phần, chương, đoạn, lớp, cảnh một cách hợp lý. Nhờ kết cấu, tác phẩm
văn học trở nên mạch lạc có “vẻ duyên dáng của sự trật tự” (Horatius).
1.1.2. Kết cấu tiểu thuyết
Khái niệm kết cấu là một công cụ lý luận quan trọng trong phê bình, phân tích tiểu
thuyết. Tiểu thuyết là một hoạt động của nghệ thuật tự sự ngôn từ, do vậy kết cấu tiểu
thuyết phải được tìm hiểu trên cơ sở quan sát cả ba bình diện sáng tác (viết), văn bản
(tác phẩm tri giác bằng sự đọc) và tiếp nhận (đọc hiểu giải mã).
6
“Nhận dạng” kết cấu tiểu thuyết trong quan hệ đối sánh với kết cấu các thể loại
khác. Trong tác phẩm trữ tình - thơ (chủ yếu là kết cấu không có cốt truyện), kết cấu là
“sự tổ chức quá trình vận động bên trong của các trạng thái cảm xúc, là sự phân bố các
đoạn thơ, các khổ thơ, các câu thơ, là cách thức sử dụng các hình ảnh, các hình tượng
thơ trên cơ sở một tứ thơ nhất định, qua đó nêu bật chử đề tư tưởng của tác phẩm và bộc
lộ ở tính cân đối của các đơn vị ngữ điệu, cú pháp, nhịp điệu…”.
Kịch thuộc kết cấu tự sự tuy nhiên việc phân chia tác phẩm thành các hồi và cảnh,
bằng cách đó mỗi thời điểm nối tiếp với các thời điểm khác; thời gian được miêu tả ứng
với thời gian cảm thụ. Người viết kịch không thể xây dựng cốt truyện, tổ chức kết cấu
hoàn toàn theo kiểu tác phẩm văn học. Bởi kịch vừa thuộc về sân khấu, vừa thuộc về
văn học: nó là cơ sở đầu tiên của vở diễn, vừa được cảm thụ bằng việc đọc. Kịch được
hình thành trên cơ sở sự tiến triển của các diễn xướng mang tính sân khấu. Cơ sở của
kịch là những mâu thuẫn xã hội, lịch sử hoặc những xung đột muôn thưở của con người.
Nét chủ đạo của kịch là kịch tính. Truyện kịch thường đơn tuyến. Mỗi vở kịch thường
chỉ tập trung phát triển một tuyến cốt truyện. Chính vì những yêu cầu mang tính đặc
trưng của thể loại mà kết cấu của kịch mang mẫu số chung ở việc phân chia tác phẩm
nhận thức và màu sắc hư vô về mặt nhân sinh. Không tách rời với những đặc điểm đó,
nền văn học hậu hiện đại từ những năm 50, 60 trở đi lan tràn khắp Âu Mỹ và cả Nhật
Bản nữa. Thời đại mà con người giống như nhân vật của Samuel Beckett băn khoăn:
7
Tôi sinh ra hay không sinh ra, tôi đã sống hay không sống, tôi đã chết hay chỉ là đang
chết, tất cả những điều này không quan trọng. Tôi chỉ sẽ làm như từ trước đến nay tôi
vẫn luôn luôn làm trong tình trạng không hay biết gì về những việc tôi làm, về việc tôi
là ai, từ đâu đến, và tôi có tồn tại thực hay không?. Nhật vật chỉ còn như bóng ma.
Chính nhà phê bình Pháp Pierre Boideffre đã phải thừa nhận: “Nhân vật đã bị phế bỏ,
mà không được thay thế Trong cuộc viễn du sang đầu mút của đêm khuya, nhân vật đã
thải bỏ dần tất cả những gì khiến nó nên người, để trở thành bóng ma vô danh mà người
ta chỉ còn nghe được giọng nói”(Tiểu thuyết sẽ đi đến đâu?).
Có lẽ cách dễ nhất để bắt đầu nghĩ về Hậu hiện đại là suy nghĩ về chủ nghĩa hiện
đại, phong trào mà từ đó Hậu hiện đại dường như đã hình thành phát triển. Hậu hiện đại
có hai khía cạnh, hay nói cách khác là có hai phương thức định nghĩa, cả hai đều có liên
quan đến sự hiểu biết hiện đại.
Chủ nghĩa hiện đại là một khái niệm chỉ trào lưu nghệ thuật thuộc phong trào tiên
phong ở nửa đầu thế kỷ XX: Chủ nghĩa biểu hiện, Chủ nghĩa đa đa, Chủ nghĩa siêu
thực, Chủ nghĩa lập thể, Chủ nghĩ vị lai, Chủ nghĩa trừu tượng…
Từ góc độ văn học, ta thấy nghệ thuật chủ nghĩa hiện đại nhấn mạnh vào ấn tượng
và tính chủ quan trong các văn bản. Còn nghệ thuật hậu hiện đại ủng hộ sự phản tỉnh và
tự ý thức, phân mảnh và gián đoạn; nhấn mạnh sự phản cấu trúc và phản trung tâm.
Chủ nghĩa hiện đại, có xu hướng quan tâm đến những mảnh vỡ của con người và
lịch sử được trình bày bằng sự phân mảnh như là một cái gì đó bi thảm, một cái gì đó để
được than khóc và chia buồn như một sự đánh mất (của con người và lịch sử). Hậu hiện
đại, ngược lại, không than thở ý tưởng phân mảnh, tính tạm bợ, hoặc không liên kết, mà
là ăn mừng những điều đó.
Tư duy chủ nghĩa hiện đại cố gắng tạo ra lĩnh vực hợp lý đối lập với không gian,
thời gian đặc thù, với xã hội và cá nhân. Còn tư duy hậu hiện đại lại cho rằng không thể
Chủ nghĩa hiện đại ít nhiều có cảm quan lịch sử, nhưng đến chủ nghĩa hậu hiện đại chỉ
còn những mối liên hệ không gian mà thôi.
Hình thức nghệ thuật hiện đại chủ nghĩa, mặc dù cũng rất dị thường, nhưng vẫn
gói ghém trong đấy một hàm ý nào đó, và vẫn có khả năng lí giải, trái lại trong tác phẩm
của chủ nghĩa hậu hiện đại, cái biểu đạt hoàn toàn tách rời với cái được biểu đạt, nhằm
cự tuyệt mọi sự lí giải, hoặc muốn lí giải thế nào tùy thích. Tác phẩm hậu hiện đại
thường viết dễ dãi với những sự việc đời thường, mang xu hướng thông tục hóa, thích
ứng với xã hội tiêu dùng.
Lyotard viết: Nói một cách giản dị nhất, người ta coi "postmoderne" là sự không
tin vào những lý thuyết lớn, siêu văn bản (métarécits). Edit Deak tuyên bố: Nghệ thuật
hậu hiện đại sản sinh ra những cú shock của nhận thức chứ không phải những cú shock
của cái mới.
Về văn chương hậu hiện đại nói chung hầu như mọi sự việc và con người đều bị
bóp méo; tính trung thực và lành mạnh bị phế bỏ; nhân vật tùy tiện không thể giải thích
nổi vì chính tác phẩm cũng tồn tại như một ẩn dụ về sự phá vỡ trật tự về thời gian, cấu
trúc và tính hỗn độn:
1.2.2. Haruki Murakami trong nền văn chƣơng hậu hiện đại
Chúng ta biết, văn học Nhật Bản điển hình cho sự liên kết chặt chẽ trong tổ chức
của họ và thể hiện thái độ đóng cửa đối với các tổ chức khác. Khuynh hướng các nhà
văn thống nhất thành những nhóm đã ít nhiều khiến nguồn tư liệu trong văn học Nhật
Bản bị hạn chế. Các nhà văn chuyên nghiệp trở nên rất thống nhất trong nhóm của họ
đến lỗi họ dường như không biết gì về thế giới bên ngoài.
Thế giới quan của người Nhật chuyển biến bởi sự thâm nhập của các hệ thống tư
tưởng nước ngoài khác nhau không nhiều bằng sự bám chặt dai dẳng vào thế giới quan
bản xứ và vào sự tích hợp bản sắc Nhật Bản đến các hệ thống ngoại nhập.
Nhật Bản những năm đầu của thế kỷ XX là một Nhật Bản đang trên đà phát triển
và hội nhập. Những làn gió phương Tây thổi vào đem lại cho Nhật Bản truyền thống
những luồng sinh khí mới. Nét chung của văn học hiện đại Nhật Bản là văn hóa phương
Tây vẫn không ngừng hấp dẫn các nhà văn trong khi truyền thống Nhật Bản lại khơi
nguồn cảm hứng.
cuộc sống của mình bộc lộ cái bản nguyên vốn có. Vấn đề là Murakami đưa ra một chân
dung thuyết phục, sống động của đời thường chứ không nên khuôn định nó bằng những
mô thức sẵn có. Ông là người luôn luôn chống lại những mô thức tiền giả lập: Kimono,
hoa anh đào, kịch Nol
Văn học Nhật thường chú trọng đến vẻ đẹp ngôn từ, do đó có thể khiến cho khả
năng diễn đạt bị giới hạn và trở nên cứng nhắc, trong khi phong cách của Murkami
tương đối thoáng đạt và uyển chuyển
Với các tác phẩm quan trọng lần lượt được giới thiệu ở Việt Nam và các nước trên
thế giới: Rừng Nauy. Biên niên ký chim vặn dây cót, Phía nam biên giới phía tây mặt
trời, và Kafka bên bờ biển, Haruki Murakami trở thành sự xuất hiện ấn tượng, tên tuổi
ông nổi lên với phong cách tiểu thuyết độc đáo, đại diện cho một “nước Nhật mới” được
khai phóng mãnh liệt năng lượng của cảm giác, dục tính và tâm linh, một thể loại văn
chương thách thức lối viết duy lý và vượt ra ngoài sự bế tắc của các trường phái tri thức
trong lối kể chuyện hậu hiện đại.
Người đọc có thể cảm thức một cách sâu sắc những ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu
hiện đại, tư duy phương Tây thể hiện rõ nét trong tác phẩm của ông: kỳ ảo, lắp ghép, ám
ảnh và sex Ở đó, chúng ta có thể phát hiện những vết tích phi lý của Kafka, tìm thấy
triết lí hiện sinh của F. Nietzsche, A. Camus, huyền ảo của Market hay nhiều nhà hiện
đại khác
CHƢƠNG 2: KẾT CẤU CỐT TRUYỆN TRONG TIỂU THUYẾT HARUKI
MURAKAMI
2.1. Kết cấu cốt truyện phân mảnh
Cốt truyện là một yếu tố thuộc nội dung của tác phẩm, là chuỗi sự kiện liên tiếp;
thực hiện diễn biến cuộc sống và xung đột xã hội; bộc lộ chủ đề, tư tưởng của tác phẩm.
Một tác phẩm văn học muốn thực hiện chủ đề, tư tưởng một cách khái quát, rộng lớn và
có sức thuyết phục thì phải thể hiện sinh động cốt truyện.
Nếu cốt truyện là yếu tố của nội dung thì kết cấu là một yếu tố của hình thức. Kết
cấu cốt truyện chính là cách tổ chức, xây dựng bố cục cốt truyện, nói cách khác là cách
tổ chức hệ thống sự kiện sao cho hợp lý, khẳng định được chủ đề tư tưởng của tác
đạo đức truyền thống, tập trung tô đậm tình cảm tha hóa sâu sắc của con người thời hiện
đại, thời bùng nổ công nghệ thông tin, sự lạnh lùng vô cảm của con người. Văn chương
dẫn ta đi đến tận cùng của sự thực trần trụi để ta có thể ngộ ra một điều gì khác so với
những ý nghĩ hàng ngày. Nó làm cho ta cảnh giác hơn với những sự thực giả dối quanh
ta cũng như tự chiêm nghiệm, tự nhận thức lại những việc mình làm. J.G.Ballard đã nói:
Chúng ta sống trong một thế giới do mọi thứ giả tưởng thống trị - thương mại, quảng
cáo, chính trị thuộc cơ chế quảng cáo và màn ảnh truyền hình làm rỗng trước mọi phản
ứng độc đáo đối với kinh nghiệm đời….
Murakami đã xây dựng những câu chuyện của mình theo lối cốt truyện phân mảnh
kiểu hậu hiện đại ấy. Chúng ta có thể thấy tiểu thuyết của ông là câu chuyện rời rạc,
những mảnh ghép số phận khác nhau, được ghép lối bởi dòng ý thức của nhân vật, được
lắp ghép không theo một trật tự nào.
Murakami lấp đầy khoảng trống tiểu thuyết của mình những câu chuyện mang hơi
hướng siêu thực, những văn bản báo chí: Bài báo về căn nhà có dớp (Biên niên ký chim
vặn dây cót); sự cắt dán, lồng ghép và tiếp nối các chương tiểu thuyết đôi khi không liên
quan, ăn nhập gì với nhau. Đưa ra các vấn đề và cách giải quyết vấn đề rất xa nhau; Các
tuyến nhân vật tưởng chừng không liên quan đến nhau, nhưng thật ra gắn bó rất chặt chẽ
với nhau. Ông đưa vào tiểu thuyết các cuộc đối thoại và thư như một sự cắt dán, gá
ghép nhiều mảng đời vào với nhau. Bằng cách này, Murakami không những thể hiện
cuộc đời của nhân vật chính một cách toàn diện dưới nhiều góc nhìn, mà còn đề cập
được số phận của biết bao con người khác, tạo bức tranh ghép hoàn chỉnh.
Với việc sử dụng cốt truyện phân mảnh, Haruki Murakami thể hiện một quan niệm
mới về hiện thực. Đó là một hiện thực không toàn vẹn, một hiện thực rời rạc, đổ vỡ, rạn
nứt, một cuộc sống đang tan ra dần dần, một cuộc sống không dễ tìm mối tương giao,
liên kết. Thế giới là tập hợp của những mảnh vụn hiện thực, mỗi mảnh vụn nằm ở một
chỗ riêng của nó - mỗi mảnh vụn tự nó là một tâm điểm, nó có giá trị tự thân của nó.
11
Bằng cách đó, Murakami đào sâu vào những ẩn ức trong sâu thẳm con người. Nó có ý
nghĩa “Một thế giới đã đổ vỡ thành từng mảnh, con người không thể tạo dựng lại nổi”.
Tác phẩm của Murakami được xây dựng một phần trên sự từ chối giải thích, nó
phải ngược lại ham muốn soi sáng của tiểu thuyết. Lẽ ra, như thông thuờng, vẫn vậy,
nhà văn phải giải thích - nếu không phải tất cả thì cũng là một phần, và nếu không ít
nhất cũng có những gợi ý cho sự tưởng tượng của người đọc, như nguyên nhân dẫn đến
tình trạng của Shimamoto-san, người đàn ông đưa phong bì tiền cho Hajime, hoặc cuộc
đời của Izumi. Có vẻ như là cuốn tiểu thuyết nhất quyết không tạo ra sự hợp tác giữa
nhà văn và người đọc.
Các nhân vật tiểu thuyết của ông một mặt hết sức thờ ơ với mọi thứ chuyện thời
cuộc, mặt khác lại không ngừng khao khát một điều gì đó từ những sự kiện đời sống xã
hội. Điều này cho phép chúng ta thấy rõ thời mà, có sự kết hợp đáng ngạc nhiên giữa
tình trạng thiếu tự do (về chính trị) và có tự do (trong âm nhạc) lại sinh ra một thứ chủ
nghĩa hư vô buông thả bề ngoài, với một nỗi thất vọng sâu xa bên trong. Đó là xúc cảm
buồn bã của dân đô thị chính hiệu. Cái nỗi sầu muộn giống như khi một gã buổi sáng soi
gương, cạo râu mà biết chắc rằng những cái mầm đen kia sẽ luôn luôn mọc lại. Đứa con
siêu đô thị (Metropolitant), hiểu qúa rõ sự có mặt của “cái địa ngục hỗn độn” thời hiện
đại luôn đối kháng với cái “địa ngục cá thể” của gã. Cho dù gã có thể sống sót một cách
sung sướng qua sự hỗn độn ấy thì khi màn đêm buông xuống, sự đối lập ấy sẽ tiếp tục,
12
cắt rời gã khỏi nơi bấu víu và sẽ rút kiệt sức lực gã. Hajime, Roru Wantanabe… là
những đứa con của “siêu đô thị” ấy.
CHƢƠNG 3. KẾT CẤU NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT HARUKI
MURAKAMI
3.1. Kết cấu nhân vật dƣới góc độ phân tâm học
3.1.1. Kết cấu nhân vật dƣới dạng thức của giấc mơ
Trong tác phẩm của Murakami, giấc mơ là biểu hiện rõ nhất cho những ẩn ức,
vùng vô thức của con người. Bởi giấc mơ là tưởng tượng được giải phóng khỏi sự kiểm
soát của lý trí, của nỗi lo phải giống như thật, đi vào những quang cảnh mà suy tưởng lý
tính không thể với tới được. Freud có nói: mỗi tác phẩm văn học là một giấc mơ. Cuộc
lí gây ảnh hưởng trực tiếp lên các quá trình sinh lí của cơ thể.
2. Các ký ức gây chấn thương thường không tự chúng “phai nhạt” đi mà vẫn
tiếp tục là một lực chuyển động và vô thức chi phối hành vi của người bệnh.
3. Sự xua đuổi những hồi ức đau đớn đó ra khỏi ý thức đòi hỏi phải có một cơ
chế dồn nén, cơ chế này hoạt động ở cấp độ vô thức của đời sống tâm hồn.
4. Vì những ký ức tiêu cực nằm ở vô thức không thể được biểu hiện ra bằng
cách bình thường, nên năng lượng cảm xúc hay tác động của chúng bị bóp nghẹt.
13
5. Cảm xúc bị bóp nghẹt này được chuyển hóa thành các triệu chứng Hystera
bởi tác nhân kích thích vô thức.
6. Các triệu chứng được kích thích bởi vô thức sẽ biến mất khi diễn ra thao tác
khơi mở, khơi mở là tiến trình giải toả một cảm xúc bị dồn nén về một biến cố trong quá
khứ mà bệnh nhân đã quên. Để chữa trị các bác sĩ phải làm sao để bệnh nhân trải qua
một lần nữa kinh nghiệm chấn thương nguyên thuỷ đó, vốn là nguồn gốc của triệu
chứng.
Như vậy nếu nhìn từ góc độ Phân tâm học của Freud, thì nhân vật Hajime trong
Phía nam biên giới phía tây mặt trời là một bệnh nhân chịu chứng Hysteria mà căn
nguyên của triệu chứng này mang tên “hồi ức Shimamoto-san”. Triệu chứng trên là một
mệnh đề khó giải thích cả với người bệnh, và đó cũng là nguồn gốc cho những bi kịch,
những bất hạnh triền miên của kiếp người.
Trong thế giới tiểu thuyết Biên niên ký chim vặn dây cót, mọi thứ trở nên hư vô và
mờ nhạt hơn bao giờ hết. Ranh giới giữa cõi thực và cõi mộng, giữa hữu thức và vô
thức mỗi lúc càng mong manh và có xu hướng xóa nhòa. Con người chới với, bơ vơ và
lạc lõng. Họ suy tưởng về thân xác mình và cõi đời này như là một chốn nương thân, cái
tạm thời hữu hạn. Bởi vậy họ luôn khát khao tìm kiếm cảm giác xác thực ở một thế giới
khác - một ngôi nhà thực sự chỉ dành cho riêng họ. Để thực hiện được điều đó, các nhân
vật của Haruki Murakami ai nấy đều chọn cho mình những con đường khác biệt, bằng
những cách thức riêng. Những con người ấy tin rằng, giữa chốn nhân gian này không ai
là người có thể hiểu và đồng cảm cùng họ, vì thế họ bỏ trốn tất cả, khép kín mình trong
3.2. Kết cấu nhân vật dấn thân - tìm kiếm cái tôi đích thực
3.2.1. Kết cấu nhân vật đa phiến và cảm giác xác thực về sự tồn tại
Trong tác phẩm của Murakami, các nhân vật kiếm tìm cảm giác xác thực về tồn
tại. Tôi đang sống đây, trên mặt đất này giữa những người đồng loại của tôi nhưng có
thực sự tôi đang tồn tại? Các nhân vật của Haruki Murakami đã luôn tự đặt ra cho mình
những câu hỏi như thế.
Haruki Murakami đã bình thường hoá những điều kì lạ, xoá bỏ khoảng cách giữa
không gian thực tại và tưởng tượng, ông cho phép nhân vật của mình có thể cùng một
lúc sống ở nhiều thế giới khác nhau.
Thế giới này vốn hỗn mang, con người có nhiều bản thể. Điều quan trọng là ta
phải lựa chọn bản thể nào trong số đó. Thông điệp giản dị nhưng cách biểu đạt ảm ảnh.
Tất cả họ đều rất mơ hồ về bản thể, họ mong muốn có một ai đó nói thật lớn vào mặt họ
rằng anh hay chị thực sự là đang hiện hữu. Nói một cách ngắn gọn, họ đều là những con
người bất bình thường. Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Murakami, họ “Là những
sinh linh cô độc, họ khép mình trước thế giới, tự dựng lên những hàng rào tâm lí, tự
buộc mình cách ly với cộng đồng. Nhìn bên ngoài, cuộc sống của họ chẳng có gì không
ổn, nhưng vẫn thiếu một cái gì đó”. Nhà nghiên cứu Patricia Welch đã viết như vậy
trong bài Thế giới truyện kể của Murakami (Bản dịch của Trần Tiễn Cao Đăng). Chính
sự “thiếu một cái gì đó” này đã tạo thành những nét bất bình thường ở các nhân vật của
Haruki Murakami. Họ thiếu một niềm tin đầy đủ và chắc chắn - một xác tín - về ý nghĩa
của sự tồn tại của chính mình trong tư cách một con người giữa xã hội loài người.
Nhân vật kiếm tìm sự xác thực về tồn tại xuất hiện với mật đồ dày đặc trong hầu
hết các tiểu thuyết của Haruki Murakami như là một hiện tượng của thời đại - cái vô
thức tập thể trong xã hội hậu công nghiệp. Sự thất bại thảm hại trong chiến trận, những
bước phát triển thần kì rồi tiếp đến là những suy giảm nhịp độ phát triển của kinh tế
Nhật Bản khiến người ta ngày càng khó nhắm mắt làm ngơ trước sự phân mảnh và
trống rỗng của xã hội Nhật ngày nay. Những trận động đất kinh hoàng, những thảm kịch
đẫm máu,… tất cả những điều đó đã xảy đến với nước Nhật hiện đại, nó cũng chính là
sự khởi đầu cho một quá trình tập thể của người dân xứ sở Phù Tang tìm kiếm lại linh
bắt được trong tay. Còn cuộc sống phía sau kia, cũng giống như cái ở phá sau đường
biên giới phía Tây đối với người Xibêri mà thôi.
Tình yêu như là nơi trú ngụ của tâm hồn ướt lạnh, run rẩy. Những quan hệ tình dục
vừa là biểu hiện tự nhiên của tình yêu nam nữ vừa là nơi trú ngụ của con người trong xã
hội hiện đại để giải thoát stress và nỗi cô đơn. Phải chăng đó là giá trị đích thực của
cuộc sống. Tình yêu là nơi trú ngụ cho nỗi cô đơn nhưng không giải thoát con người
hoàn toàn khỏi nó. Đó là điều cần thiết nhưng không đủ trong cuộc sống.
Sự trái cực của các yếu tố văn hóa, tồn tại cạnh nhau mà không bị pha trộn, khiến
người Nhật trong cuộc sống phải chạy từ cực này sang cực kia. Một mặt, tạo nên tính
năng động; mặt khác cũng dễ gây cú sốc tâm lí, sự mất ổn định xã hội trong tính cách
của người Nhật.
Tất cả những con người ấy đều tự tìm cho mình một cái đích đến, đều tự tin trên
chính con đường định số phải đi qua, không thể khác. Hajime lúc nào cũng đi tìm “một
cái gì đó” cho riêng mình. Bao câu hỏi hiện ra trong tâm trí họ về ý nghĩa cuộc đời cũng
như sự trải nghiệm dù nhỏ đến đâu, sự hoang mang về ranh giới giữa thực và hư, chân
thành và giả tạo… Giống như trong một bức thư tác giả viết cho một độc giả Trung
Quốc năm 2001 với tiêu đề “Căn phòng bí mật” có đoạn: “Bất kỳ người nào trong cuộc
đời cũng đang đi tìm một vật quý giá, nhưng người tìm lại được không nhiều. Dù may
mắn tìm thấy thì vật đó trên thực tế rất nhiều khi đã bị tổn hại đến cùng. Dẫu rằng như
thế chúng ta vẫn tiếp tục tìm kiếm. Bởi vì nếu không làm như vậy, ý nghĩa cuộc sống sẽ
không còn tồn tại”. Họ tiếp tục đi trên con đường định số của chính họ, họ đi tìm “cái
gì đó” thuộc về chính họ bằng cách này hay cách khác. Cuộc tìm kiếm bản thể của con
người hiện đại là như thế đó.
CHƢƠNG 4. KẾT CẤU KHÔNG - THỜI GIAN TRONG TIỂU THUYẾT
HARUKI MURAKAMI
4.1. Kết cấu thời gian
4.1.1. Kết cấu thời gian đồng hiện
Thời gian là một phạm trù đặc trưng của văn học, Trần Đình Sử trong Dẫn luận thi
pháp học cho rằng: “văn học là nghệ thuật thời gian”. Nói theo nhà nghiên cứu Đặng
4.1.2. Kết cấu thời gian dòng ý thức
Dòng ý thức là một trong những khuynh hướng văn học tiêu biểu của thế kỷ XX,
chủ yếu là hướng tới thể hiện đời sống nội tâm của con người. Nói như W. James (nhà
Tâm lý học Mỹ, XIX): Ý thức là một dòng chảy, một dòng sông mênh mông các ý nghĩ,
cảm giác các liên tưởng bất chợt thường xuyên chen nhau, thay nhau, đan bện vào
nhau Vì vậy dòng ý thức đã trở thành một cấp độ thời gian đặc biệt. Dòng ý thức (tiếng
Anh: Stream of consciousness) là một dòng chảy, dòng sông trong đó có các ý nghĩ,
cảm giác, các liên tưởng bất chợt thường xuyên chen nhau, thay nhau và đan bện vào
nhau một cách lạ lùng “phi logic”. Dòng ý thức là trường hợp cực đoan của độc thoại
nội tâm, khi mà các mối liên hệ khách quan với môi trường thực tại khó bề khôi phục
lại.
Tiểu thuyết dòng ý thức viết về tâm lí và ý thức nhân vật không giống như tiểu
thuyết truyền thống xuất phát từ phương diện tác giả mà để nhân vật tự bộc lộ thông qua
độc thoại nội tâm, tự do liên tưởng, phân tích tâm lí, tác giả lui vào hậu trường. Đi tìm
thời gian đã mất của Marcel Proust dài 300 vạn chữ, tất cả được hợp thành bởi hồi ức
và mộng ước, phản tỉnh, nghị luận, cảm tưởng của nhân vật, ý thức, tình cảm, tinh thần
của nhân vật phiêu hốt bất định, không liên quan nhau.
Nói tới dòng ý thức là nói tới ý thức hướng nội, tái hiện ý nghĩ của nhân vật. Nó
phá vỡ cấu trúc trần thuật truyền thống và trung thành với những rung động thầm kín
nhất của nhân vật. Trong văn học hiện đạị “dòng ý thức” là biến thái “điểm nhìn ở ngôi
thứ nhất”. Người ta thường đi sâu nghiên cứu kỹ thuật dòng ý thức gắn liền với ngôi kể
thứ nhất. Dựa vào kỹ thuật này nhà văn - Murakami lột tả được chân xác cảm xúc nhân
vật. Trong ý thức nhân vật cùng lúc xuất hiện nhiều loại ký ức, có sự chen lấn của nhiều
tiếng nói, có sự tham gia của nhiều bức tranh đồng hiện. Nói cách khác, các nhân vật
“chủ động” phơi bày đời sống nội tâm của mình trên từng trang viết của tác phẩm. Tiểu
thuyết lúc này chỉ có nhiệm vụ “ghi lại chính tả của những ý nghĩ nhân vật”.
Haruki Murakami đã phát huy tích cực tính biểu hiện của thủ pháp này trong tiểu
thuyết của mình. Ông luôn sử dụng ngôi kể thứ nhất xưng tôi và để cho nhân vật chính
kể lại câu chuyện của mình. Chính mình kể lại câu chuyện của mình là cách tái hiện
sinh động nhất đời sống tâm lí bên trong. Tâm hồn con người cũng giống như dòng
Không gian thực tồn tại hoàn toàn khách quan với ý thức con người Không gian trong
tác phẩm văn học còn gọi là không gian nghệ thuật, nó thuộc về cấu trúc nội tại của tác
phẩm văn học góp phần xây dựng hình tượng trong tác phẩm văn học. Nhiều không
gian trở thành một đặc trưng song hành khi ta nhắc tới nhân vật. Không gian là sự tương
tác của nhân vật với thế giới.
Murakami sử dụng không gian như một yếu tố nghệ thuật để khắc họa nhân vật.
Đó là không gian hoàn cảnh lẫn không gian tâm lí, không gian thực - ảo đan xen, không
gian rộng - hẹp tương phối, chúng kết hợp với nhau tạo thành mê cung trong tác phẩm
của ông. Nói về mê cung, người ta hình dung ngay tới một mạng chằng chịt những lối đi
quanh co rắc rối. Đồng thời khi nhắc đến mê cung, người ta không chỉ hình dung ra
những tầng không gian địa lý mà còn liên tưởng đến những tầng không gian của thế giới
nội tâm con người. Mê cung cũng dẫn vào nội tâm của bản thân tới một thứ điện thờ ẩn
giấu bên trong con người, nơi tọa lạc cái phần huyền bí nhất của nhân tính.
Không gian trong tiểu thuyết Murakami, đó là không gian thực sống của nhân vật:
những khu học xá, đường phố, quán bar, không gian âm nhạc, không gian tràn ngập
bóng tối quẩn quanh trong những hành lang dài. Kết thúc mỗi tác phẩm, có không gian
mưa
Không gian tâm lý thể hiện qua sự đồng cảm của con người, với con người, sự
nhận biết thế giới của những cá nhân. Murakami đi sâu vào không gian nội tâm của
nhân vật, bám sát nỗi sợ hãi, nỗi ám ảnh và niềm khát khao đổi thay của họ. Ông để họ
tự đi vào chiều sâu của nội tâm, để tìm con người trong con người. Xen vào đó là không
18
gian âm nhạc: nhạc jazz, không lời, rock tạo chiều sâu tâm lí, tâm trạng nhân vật được
biển hiện sâu sắc hơn.
Không gian âm nhạc trong tiểu thuyết của Murakami, thứ âm nhạc đưa họ vào một
thế giới khác, êm dịu nhưng đầy bí ẩn chỉ có họ mới biết cách tìm vào.
Các nhân vật trong tiểu thuyết của Murakami, họ bị bó hẹp trong khoảng không
gian tù túng, chật hẹp của xã hội tựa như ngôi nhà hoang, như cái ngõ cụt. Đó là một
không gian thiếu sức sống, bị bỏ quên giữa dòng đời ồn ào, náo nhiệt. Con người hiện
Tính kỳ ảo trong những không gian mà Murakami tạo ra mang màu sắc phi lí rõ
rệt. Các nhân vật luôn di chuyển từ không gian thực sang không gian ảo, từ lúc tỉnh vào
những giấc mơ. Ranh giới giữa hai không gian thực - ảo là “một cánh cửa”- cánh cửa
chỉ dành riêng cho một người vào: đối với Toru Okada cánh cửa đó là thành giếng mà
chỉ có anh mới đi xuyên tường được để vào thế giới bên kia. Sự tồn tại của cánh cửa là
một điều phi lí, bất khả tri đối với nhân vật. Họ cứ sống trong cảm giác thực - hư, xuất -
nhập giữa hai thế giới để tìm lại tình yêu, lý tưởng và bản ngã của mình.
Đôi khi những nhân vật trong tiểu thuyết của Murakami, họ bị giằng co trong cảm
giác lấp lửng không biết mình ở đâu trong thế giới thực - ảo lẫn lộn này.
Không gian trong tác phẩm Murakami là một thế giới nhập nhằng giữa thực và ảo,
nơi tác giả tìm thấy những mảnh vỡ của CON NGƯỜI, nơi con người bỏ quên bản thể
giữa một không gian vô định, thời gian vô hướng, nơi các huyền thoại giá trị bị lật đổ và
19
niềm tin không còn khả năng cứu rỗi linh hồn. Một thế giới thực ảo chứa nhiều thế giới,
như trong núi lại có núi, ngoài trời lại có trời là thế giới hư cấu nào đó mà cũng là thế
giới của chính chúng ta: tin là có núi thì có núi, ảo hay thực, thực hay ảo là cách mỗi
người tự cảm nhận khi bước vào không gian trong tiểu thuyết Murakami.
Không gian trong tiểu thuyêt của Murakami Haruki đó là không gian lưỡng tính:
có thực có ảo, có tâm lý song lại phi tâm lí, có nhạc, có mùi hoa Con người trong
không gian ấy cứ thoắt ẩn thoắt hiện, xuất nhập để khám phá thế giới, tìm lại niềm khát
khao yêu thương, ý nghĩa đích thực của cuộc sống. Và hơn hết, họ muốn tìm lại chính
mình trong mê cung nội tâm ấy.
KẾT LUẬN
Haruki Murakami là một trong những nhà văn Châu Á nói chung và Nhật Bản nói
riêng đã góp phần to lớn trong việc nâng tầm văn học phương Đông lên vị thế mới trên
văn đàn quốc tế giai đoạn hậu hiện đại. Ông là một tiểu thuyết gia bậc thầy; một “người
kể chuyện” bằng trí tưởng tượng và huyền thoại bậc thầy, ông tự nhận mình là “người
kể chuyện khá cừ”. Cùng với tên tuổi của Ryu Murakami, Banana Yoshimoto, Haruki
ức, đánh thức những cơ tầng sâu thẳm nơi (vùng) vô thức của con người. “Haruki
Murakami bị ám ảnh bởi những thực tại nằm trong tầm sâu kín, những câu chuyện của
ông thường quanh co trong những địa tầng thể xác và tâm lí”(Dennis Lim). “Bức họa”
20
trong tác phẩm của ông là nơi con người quẫy đạp nhiều khi đến tuyệt vọng để mong
tìm thấy đâu ý nghĩ đích thực của cõi sống này: “Tôi là ai trong thế giới này?” - những
con người dị biệt ở những nơi “trái khoáy” như xuống đáy giếng để suy nghĩ, đi tới một
nơi nào đó để nhìn nhận lại con người mình hay tự làm mình đau để tìm cảm giác, tất
cả, tất cả đều quẩn quanh trong những mối băn khoăn muôn thưở: Sở dĩ người ta suy
nghĩ nghiêm túc về chuyện họ sống trên đời để làm gì là bởi họ biết một lúc nào đó
mình sẽ chết. Việc gì phải nghĩ ngợi xem ý nghĩ cuộc sống là gì nếu ta cứ sống hoài,
những câu chuyện tưởng tượng như muôn chuyện chẳng ra đâu vào đâu, nhưng chính sự
lan man suy tưởng ấy mà tiểu thuyết của ông thành hình. Độc giả thực sự biết đến
“thương hiệu tiểu thuyết Haruki Murakami” - tiểu thuyết hậu hiện đại.
3. Ở phương diện không gian, chúng ta thấy không gian trong tiểu thuyết của
Murakami là những mảng màu tối – sáng đan xen, rộng – hẹp tương phối. Khiến các
nhân vật, họ bị giằng co trong cảm giác lấp lửng không biết mình ở đâu trong thế giới
thực ảo lẫn lộn này. Trong thế giới huyền ảo ấy họ cứ thoắt ẩn thoắt hiện, xuất nhập để
khám phá thế giới.
4. Thời gian trong tiểu thuyết Murakami không phải là thời gian hành động mà là
thời gian hiện tại của sự cảm nhận. Đó là những dòng ý thức gắn liền với nghệ thuật
đồng hiện bởi dòng tâm tư con người không bao giờ liền mạch…. Với thủ pháp này,
nhiều không gian khác nhau được thể hiện trong cùng một đơn vị thời gian, các mảnh
vỡ ký ức cùng hiện lên trong tâm trí nhân vật, ranh giới thời gian bị xóa nhòa. Nhờ vậy,
Haruki Murakami lột tả chân xác cảm xúc nhân vật, khiến những vùng mờ của vô thức
được khai lộ trước mắt người đọc.
Cuối cùng, chúng ta có thể thấy trong tác phẩm của Haruki Murakami những câu
chuyện mang hơi hướng siêu thực; nhưng con người dị biệt của thời đại khác nhau ở
khắp mọi nơi; những mảng không gian tối - sáng huyền ảo như mê cung; những dòng
1. Lại Nguyên Ân biên soạn (2004), 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc
gia, Hà Nội.
2. Nhật Chiêu (2003), Văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến 1868, Nxb Giáo dục, Hà
Nội.
3. Trương Đăng Dung, Khoa học văn học hiện đại, hậu hiện đại, Tạp chí nghiên
cứu văn học số 8, 2011.
4. Trương Đăng Dung, Khoa học văn học tiền hiện đại, Tạp chí nghiên cứu văn
học số 6, 2011.
5. Đặng Anh Đào (2001), Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại,
NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội.
6. Hà Minh Đức chủ biên (2003), Lí luận văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội.
7. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên (2004), Từ điển
thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội.
8. Nguyễn Thúy Hằng (2009), Báo cáo khoa học sinh viên: Hình ảnh con người
hiện đại trong tiểu thuyết Haruki Murakami và Nguyễn Bình Phương, Khoa Văn học
trường Đại học KHXH&NV Hà Nội
9. Đào Duy Hiệp (2008), Phê bình văn học từ lí thuyết đến hiện đại, NXB Giáo
dục, Hà Nội.
10. Haruki Murakami (2006), Biên niên ký chim vặn dây cót, Trần Tiễn Cao Đăng
dịch, NXB Hội nhà văn, Hà Nội.
11. Haruki Murakami (2006), Rừng Nauy, Trịnh Lữ dịch, NXB Hội nhà văn, Hà
Nội.
12. Haruki Murakami (2007), Phía nam biên giới phía tây mặt trời, Cao Việt
Dũng dịch, NXB Hội nhà văn, Hà Nội.
13. Haruki Murakami (2009), Người tình Sputnik, Ngân Xuyên dịch, NXB Hội
nhà văn, Hà Nội.
14. Haruki Murakami (2007), Kafka bên bờ biển, Dương Tường dịch, NXB Hội
nhà văn, Hà Nội.
15. Trần thị Thạch Hà (2011), Luận văn thạc sĩ Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết
Haruki Murakami, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế.
www.tienve.org.
32. Sinde Gregory, Murakami Haruki: tôi tự tạo ra quy tắc cho mình, nguồn
www.evan.com.
33. Simund Freud (2005), Các bài viết về giấc mơ và giải thích giấc mơ: Nhập đề
của Hermann Beland, Ngụy Hữu Tâm dịch, NXB Thế giới, Hà Nội.
34. Trần Đình Sử chủ biên (2008) Lí luận văn học (tập 2) Tác phẩm và thể loại
văn học, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội.
35. Trần Đình Sử chủ biên (2007) Tự sự học một số vấn đề lí luận và lịch sử, NXB
Đại học sư phạm, Hà Nội.
36. Trần Đình Sử chủ biên (2008) Tự sự học (phần 2) một số vấn đề lí luận và lịch
sử, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội.
37. Bùi Việt Thắng biên soạn (2000), Bàn về tiểu thuyết, NXB Văn hóa thông tin,
Hà Nội.
38. Đỗ Lai Thúy (2007), Phân tâm học và tính cách dân tộc, NXB Trí thức, HN.
39. Tzevan Todorov (2008), Dẫn luận về văn chương kỳ ảo, Nxb Đại học sư
phạm, Hà Nội.
40. Nguyễn Thị Kim Thanh (2007), Báo cáo khoa học: Kết cấu trong tiểu thuyết
Chân dung cát của Inrasara Khoa Văn học trường Đại học KHXH&NV Hà Nội.
41. Richard Appignanesi và Oscar Zarate (2006), Nhập môn Freud (Trần Tiễn
Cao Đăng dịch), Nxb Trẻ, HN.
42. Virginia Woolf (1986), Bàn về tiểu thuyết và người viết tiểu thuyết, NXB dịch
văn Thượng Hải.
43. Yasưnari Kawabata, Đất nước Phù Tang, cái đẹp và cái tôi (Cao Ngọc
Phượng dịch), Sài Gòn, Lã Bối, 1969.
B. Tài liệu mạng:
Các trang website:
www.vnexpress.net
www.vietbao.vn
www.phongdiep.net
www.vienvanhoc.org.vn