1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THỊ THANH
NGHỆ THUẬT KẾT CẤU TRONG TIỂU
THUYẾT CỦA HARUKI MURAKAMI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Hà Nội – năm 2012
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THỊ THANH
1.2.1. Văn chương đi từ hiện đại tới hậu hiện đại 14
1.2.2. Haruki Murakami trong nền văn chương hậu hiện đại 22
CHƯƠNG 2: KẾT CẤU CỐT TRUYỆN TRONG TIỂU THUYẾT HARUKI
MURAKAMI 34
2.1. Kết cấu cốt truyện phân mảnh 34
2.1.2. Kết cấu cốt truyện mở 41
CHƯƠNG 3. KẾT CẤU NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT HARUKI
MURAKAMI 46
3.1. Kết cấu nhân vật dưới góc độ phân tâm học 46
3.1.1. Kết cấu nhân vật dưới dạng thức của giấc mơ 46
3.1.2. Kết cấu nhân vật với cảm thức về chứng bệnh Hysteria 51
3.1.3. Kết cấu nhân vật kiểu dị biệt “méo mó về tinh thần” 56
3.2. Kết cấu nhân vật dấn thân - tìm kiếm cái tôi đích thực 59
3.2.1. Kết cấu nhân vật đa phiến và cảm giác xác thực về sự tồn tại 59
3.2.2. Kết cấu nhân vật tìm kiếm bản thể của con người hiện đại 68
4
CHƯƠNG 4. KẾT CẤU KHÔNG - THỜI GIAN TRONG TIỂU THUYẾT
HARUKI MURAKAMI 79
4.1. Kết cấu thời gian 79
4.1.1. Kết cấu thời gian đồng hiện 79
4.1.2. Kết cấu thời gian dòng ý thức 86
4.2. Kết cấu không gian 91
4.2.1. Kết cấu không gian thực 91
4.2.2. Kết cấu không gian huyền ảo 95
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
Không còn nghi ngờ gì nữa, Haruki Murakami đã trở thành nhà văn Nhật bản
được chờ đợi nhất trên thế giới hiện nay. Sách của Murakami được đón đọc, được
xuất hiện trên những kệ sách “best seller” không chỉ ở tại Nhật mà ở khắp nơi trên
2
thế giới. Ông đã biến những tác phẩm của mình thành “giấy thông hành” vượt biên
giới Nhật Bản đến với hơn 40 quốc gia trên thế giới nhanh hơn cả chính các đồng
nghiệp của mình là Kawabata Yasunary và Oe Kezaburo - những người đã sở hữu
“tấm vé đi vào cõi bất tử” - giải Nobel văn học - trước đó.
Với chúng tôi, “sức hút Murakami” không chỉ hấp dẫn bởi sự đào sâu đến tận
cùng cái gọi là bản ngã của con người, lí giải con người, khám phá con người, tìm
ra mọi chiều sâu và bến bờ của nó mà còn phải kể tới nghệ thuật biểu hiện - cái làm
nên phong cách kiểu Haruki Murakami.
Nhiều người ví von tiểu thuyết của Murakami như “món ăn lạ miệng”, đem lại
hương vị độc đáo khác biệt cho người thưởng thức. Bởi lẽ, với âm sắc duy mỹ Nhật
Bản vừa đủ, thêm một chút kiểu tư duy Âu Mỹ và cả những ngẫu hứng của những
điệu jazz nóng bỏng, Murakami khiến những độc giả khó tính nhất cũng phải gật gù
tán thưởng và thả rông tâm hồn mình theo những câu chuyện tuyệt vời. Khảo sát thế
giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của ông, khi thì người ta thấy được một vài dấu ấn
của triết học hiện sinh, lúc lại thấy được nét nào đó của Phân tâm học Freud. Tất cả
những học thuyết, triết học ấy đã được nhà văn dụng công một cách tài tình, khéo
léo trong những sáng tác của mình, lẽ dĩ nhiên là theo cái cách của riêng ông.
Tìm hiểu tiểu thuyết của Murakami, bên cạnh các phương diện được khai thác
như: kiểu con người cô đơn, sex, hay các bình diện nội dung tư tưởng… chúng tôi
mạnh dạn thực hiện đề tài Nghệ thuật kết cấu trong tiểu thuyết của ông nhằm tìm
thêm những kiến giải mới mẻ cho bài toán thủ pháp nghệ thuật - “sức hút
Murakami”.
Lựa chọn tìm hiểu tiểu thuyết Murakami từ góc độ kết cấu còn vì lí do, chúng
tôi nhận thấy với Murakami, kết cấu tiểu thuyết giống như một thủ pháp sáng tác,
một phương diện hình thức tạo nên cái gọi là phong cách tiểu thuyết Murakami.
Không một sự vật nào tồn tại mà không kết cấu; sự tồn tại của bản thân sự vật
phỏng vấn liên quan đến ông. Có thể kể đến những tên tuổi như Ihad Hassan với
Between the Eagle and the Sun; Matthew Strecher với Beyond “Pure” Literature:
Mimesis Formula, and the Postmodern in the fiction of Haruki Murakami; Glynne
4
Walley với Two Murakami and the American influence, Jay Rubin với Haruki
Murakami and the music of words, hay The other world of Murakami Haruki,
Celeste Loughman với No Place I was meant to be: Postmodern Japan in Haruki
Murakami’s fictions; Koiti Kato với Presents from the dead, Yoshio Iwamoto với A
voice from Postmodern Japan: Haruki Murakami; Naomi Matsuoka với Murakami
Haruki and Raymond Carver; Kenzaburo Oe với Japan’s Dual Identity: A winter’s
Dilemma [15]… Tất cả đều nhằm góp phần giải mã những mạch nguồn sáng tạo,
những kế thừa và cách tân các yếu tố hậu hiện đại trong tác phẩm của Murakami.
Ở Việt Nam, mảng nghiên cứu văn chương đương đại Nhật với những đại diện
như Murakami Haruki, Yoshimoto Banana hầu như chỉ mới được khai lộ qua một
vài bài viết trên Internet và vẫn còn đang mở ngõ cho những nghiên cứu tiếp theo.
Đó là những bài viết, những nhận xét, đánh giá của một số nhà nghiên cứu, dịch giả
các tác phẩm của Murakami qua các bản dịch tiếng Anh hoặc tiếng Nga. Tính đến
thời điểm hiện tại, ngoài cuốn Truyện ngắn Murakami Haruki - nghiên cứu và phê
bình của Hoàng Long in thành sách (NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh,
2006) thì chưa có một quyển sách hay chuyên luận nào về Murakami được in ấn và
xuất bản.
Năm 2007, công ty văn hóa Nhã Nam kết hợp với Đại sứ quán Nhật Bản tổ
chức hội thảo về các tác phẩm Haruki Murakami và nữ văn sĩ Yoshimoto Banana
tại Hà Nội. Kỷ yếu hội thảo đã tập hợp rất nhiều bài viết có giá trị về các sáng tác
Murakami cũng như phân tích, giải mã các thủ pháp nghệ thuật ở ông. Trong đó
phải kể đến các bài viết như Cái mà tôi muốn mô tả trong tác phẩm của tôi là
NHỮNG CON NGƯỜI (Trần Tiễn Cao Đăng dịch), Bí ẩn như là thủ pháp kể
chuyện (Cao Việt Dũng), Cuộc tìm kiếm bản thể của con người hiện đại (Nguyễn
Hoài Nam), Những vẻ đẹp trong tác phẩm của Murakami (Dịch giả Lâm Thiếu
Hoa)…
học hậu hiện đại.
“Hiện tượng” Murakami đã thu hút sự quan tâm rộng lớn của cả giới phê bình
lẫn độc giả với nhiều bài viết trên các báo Văn nghệ, Tuổi trẻ cuối tuần, các trang
6
web như , Đa phần các bài viết mới
tiếp cận tác phẩm Murakami từ góc độ nhân vật, một số thủ pháp nghệ thuật ở từng
tác phẩm riêng rẽ hoặc tập trung tranh luận về hiện tượng “Rừng Nauy” mà chưa
phân tích, mổ xẻ phương diện kết cấu trong tác phẩm của ông. Vậy với việc tìm
hiểu kết cấu trong tiểu thuyết Murakami là một hướng nghiên cứu phương diện
nghệ thuật mới. Đó cũng là mục đích của người thực hiện luận văn này. Hy vọng
cung cấp một cái nhìn đa diện về phong cách tiểu thuyết Haruki Murakami, đem lại
nhiều kiến giải mới mẻ để chúng ta có thể hiểu sâu hơn về “Hình vóc văn chương
của thế kỷ XXI” này.
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Chúng tôi mong muốn từ góc độ kết cấu phần nào chỉ ra được nét đặc trưng
trong phong cách tiểu thuyết Murakami.
- Đối tượng nghiên cứu: Chúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu kết cấu từ các
phương diện: Kết cấu cốt truyện, kết cấu nhân vật, kết cấu không - thời gian
- Phạm vi nghiên cứu: Do những hạn chế, người thực hiện không có cơ hội
tiếp xúc với văn bản gốc, cũng như dung lượng tiểu thuyết lớn với điều kiện thời
gian hạn hẹp nên luận văn chỉ tiến hành khảo sát 04 tác phẩm:
- Biên niên ký chim vặn dây cót, Trần Tiễn Cao Đăng dịch, NXB Hội nhà văn,
2006
- Rừng Nauy, Trịnh Lữ dịch, NXB Hội nhà văn, 2006
- Phía nam biên giới phía tây mặt trời, Cao Việt Dũng dịch, NXB Hội nhà
văn, 2007.
- Người tình Sputnik, Ngân Xuyên dịch, NXB Hội nhà văn, 2009.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được triển khai theo phương pháp thống kê, phân tích kết hợp một
số thao tác chứng minh, đối chiếu, so sánh để làm nổi bật vấn đề. Ngoài ra, để làm
8
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: KẾT CẤU TIỂU THUYẾT VÀ HARUKI MURAKAMI
TRONG BẦU VĂN CHƯƠNG HẬU HIỆN ĐẠI
1.1. Kết cấu tiểu thuyết
1.1.1. Khái niệm kết cấu
Kết cấu là một phương tiện cơ bản của sáng tác nghệ thuật. Trên một mức độ
lớn có thể nói sáng tác là kết cấu. Khi người ta nói xây dựng tác phẩm, xây dựng cốt
truyện, xây dựng tính cách, xây dựng cấu tứ trong thơ, thì đã xem tác phẩm như một
công trình kiến trúc. Bản thân thuật ngữ kết cấu cũng mượn từ kiến trúc, hội họa,
nhằm tạo ra một công trình hợp mục đích tối đa. Có người gọi kết cấu là nghệ thuật
thống nhất những yếu tố khác thời gian và khác không gian. Có người lại gọi kết
cấu là sự kết hợp yếu tố tinh thần với yếu tố vật chất, yếu tố vận động với yếu tố
đứng im, yếu tố hữu hạn với yếu tố vô hạn, yếu tố chủ quan với yếu tố khách quan.
Có thể nói kết cấu tác phẩm là toàn bộ tổ chức tác phẩm nhằm phục tùng đặc trưng
nghệ thuật và nhiệm vụ nghệ thuật cụ thể mà nhà văn tự đặt ra cho mình. Kết cấu
tác phẩm không bao giờ tách rời nội dung, cuộc sống và tư tưởng tác phẩm và nó
chỉ có ý nghĩa khi nào nó phục vụ cho việc biểu hiện một nội dung nhất định.
Nếu kỹ thuật, thủ pháp trong tác phẩm văn học là có giới hạn thì kết cấu là vô
hạn. Kết cấu cũng không đồng nhất với cấu trúc. Cấu trúc không cho thấy được tính
nghệ thuật sinh động của hình thức tác phẩm. Cấu trúc tác phẩm chỉ là cái phần ổn
định bất biến của kết cấu tác phẩm, chứ không phải toàn bộ kết cấu. Kết cấu là toàn
bộ tổ chức tác phẩm trong tính độc đáo, sinh động, gợi cảm của nó. Kết cấu không
giống với cách tổ chức của thể loại, bố cục chung của một thể văn, nguyên tắc của
một luật thơ cụ thể và cả mô hình tư duy của một tác giả thường theo những liên
kết, những công thức và biện pháp có sẵn mà kết cấu của một tác phẩm liên kết
phức tạp hơn bố cục. Tổ chức tác phẩm không chỉ giới hạn ở sự tiếp nối bề mặt, ở
những tương quan bên ngoài giữa các bộ phận, chương đoạn mà còn bao hàm sự
10
liên kết bên trong, nghệ thuật kiến trúc nội dung cụ thể của tác phẩm. Kết cấu bao
gồm bố cục, tổ chức tính cách, tổ chức thời gian và không gian nghệ thuật của tác
phẩm; nghệ thuật tổ chức những liên kết cụ thể của các thành phần cốt truyện, nghệ
thuật trình bày, bố trí các yếu tố ngoài cốt truyện… sao cho toàn bộ tác phẩm thực
sự trở thành một chỉnh thể nghệ thuật ” [6; tr.156].
Qua những khái niệm của nhà lí luận trên để thấy một điều rằng: Mỗi tác
phẩm là một “sinh mệnh”, một “cơ thể sống” nên kết cấu tác phẩm là một kiến trúc,
một tổ chức cụ thể, phù hợp với nội dung cụ thể của tác phẩm. Có thể ví kết cấu
giống như một mạng lưới được đan bện bởi sự cố kết của những đường dây mắt
xích mà từ mạng lưới này tác phẩm sẽ hiện lên trong tính chỉnh thể và sinh động
nhất. Kết cấu còn bộc lộ nhận thức, tài năng, phong cách của người nghệ sĩ.
Vai trò quan trọng nhất của kết cấu là tổ chức tác phẩm sao cho chủ đề tập
trung, tư tưởng thống nhất, sao cho chủ đề tư tưởng thấm sâu vào từng bộ phận của
tác phẩm kể cả những chi tiết nhỏ nhất; Kết cấu đóng vai trò quan trọng trong việc
thực hiện sự thống nhất chặt chẽ giữa chủ đề tư tưởng với hệ thống tính cách; tổ
chức bố cục của cốt truyện thành các phần, chương, đoạn, lớp, cảnh một cách hợp
lý. Nhờ kết cấu, tác phẩm văn học trở nên mạch lạc có “vẻ duyên dáng của sự trật
tự” (Horatius).
Kết cấu tác phẩm văn học gồm nhiều hình thức tổ chức: việc phân bố các nhân
vật (hệ thống hình tượng nhân vật), các sự kiện hành động (kết cấu cốt truyện), các
phương thức trần thuật (kết cấu trần thuật), các thủ pháp văn phong (kết cấu ngôn
từ), các truyện kể xen kẽ hoặc các đoạn ngoại đề (kết cấu yếu tố ngoài cốt truyện)…
Ở tác phẩm trữ tình, kết cấu còn bộc lộ ở tính cân đối của các đơn vị ngữ điệu, cú
pháp, nhịp điệu. Phạm vi kết cấu còn bao gồm sự tương ứng giữa các bình diện của
hình thức văn học nhờ đó tạo ra hệ thống môtip đặc trưng cho từng tác phẩm, từng
tác giả, từng khuynh hướng văn học.
“Nhận dạng” kết cấu tiểu thuyết trong quan hệ đối sánh với kết cấu các thể
loại khác. Trong tác phẩm trữ tình - thơ (chủ yếu là kết cấu không có cốt truyện),
kết cấu là “sự tổ chức quá trình vận động bên trong của các trạng thái cảm xúc, là sự
phân bố các đoạn thơ, các khổ thơ, các câu thơ, là cách thức sử dụng các hình ảnh,
12
các hình tượng thơ trên cơ sở một tứ thơ nhất định, qua đó nêu bật chử đề tư tưởng
của tác phẩm và bộc lộ ở tính cân đối của các đơn vị ngữ điệu, cú pháp, nhịp
điệu…” [5; tr.146].
Kịch thuộc kết cấu tự sự tuy nhiên “việc phân chia tác phẩm thành các hồi và
cảnh, bằng cách đó mỗi thời điểm nối tiếp với các thời điểm khác; thời gian được
miêu tả ứng với thời gian cảm thụ” [1; tr.169]
Người viết kịch không thể xây dựng cốt truyện, tổ chức kết cấu hoàn toàn theo
kiểu tác phẩm văn học. Bởi kịch vừa thuộc về sân khấu, vừa thuộc về văn học: nó là
cơ sở đầu tiên của vở diễn, vừa được cảm thụ bằng việc đọc. Kịch được hình thành
trên cơ sở sự tiến triển của các diễn xướng mang tính sân khấu. Cơ sở của kịch là
những mâu thuẫn xã hội, lịch sử hoặc những xung đột muôn thưở của con người.
Nét chủ đạo của kịch là kịch tính. Truyện kịch thường đơn tuyến. Mỗi vở kịch
thường chỉ tập trung phát triển một tuyến cốt truyện. Bởi yêu cầu về sự thống nhất
hành động cho phép mỗi vở kịch chỉ theo đuổi một mục đích, hướng vào một vài
chủ thể then chốt, cơ bản, nhằm gợi ra một vài hứng thú. Mọi chi tiết, cùng toàn bộ
hệ thống sự kiện, biến cố được sử dụng để tạo dựng cốt truyện đều phải dồn về một
mối, hướng tới mục đích ấy, góp phần thể hiện chủ đề ấy. Aritstote nói: “Không nên
sáng tác bi kịch bằng lối kết cấu tự sự. Tôi hiểu kết cấu tự sự là nội dung bao gồm
nhiều cốt truyện”; Bielinski cũng nói “giản dị, không rắc rối và sự thống nhất của
hành động phải trở thành một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của kịch. Mọi
thứ trong kịch đều phải hướng tới một mục đích, một ý đồ”[36; tr.336].
Chính vì những yêu cầu mang tính đặc trưng của thể loại mà kết cấu của kịch
mang mẫu số chung ở việc phân chia tác phẩm thành các hồi và cảnh, bằng cách đó
mỗi thời điểm nối tiếp với các thời điểm khác; thời gian được miêu tả ứng với thời
hay Dostoievski này, toàn bộ sự phức tạp của cốt truyện, sự phong phú của tư tưởng
hay tâm lý của nhân vật phải được biểu hiện sáng rõ; vì vậy, cảnh cũng giống như
trường hợp trong một vở kịch, trở thành cô đọng, súc tích một cách giả tạo và được
triển khai với sự chặt chẽ lôgic; để diễn tả tất cả những gì là cốt yếu nó phải từ bỏ
tất cả những gì là tầm thường, những gì là ngẫu nhiên. Chính Flaubert đã đưa tiểu
thuyết ra khỏi tính sân khấu.
14
Sau này, kết cấu của các thể loại quy phạm thường có sự cân xứng giữa các
thành phần được mô tả và các đơn vị văn bản tương ứng, điều này góp phần thể
hiện tư tưởng về sức mạnh và sự vững chãi. Văn học thế kỷ XIX - XX với xu thế
tiểu thuyết hóa, với việc thể hiện cá nhân trong “tính không hoàn tất” của nó, đôi
khi chống lại yêu cầu về sự chặt chẽ; do vậy kết cấu gây ảo giác về sự không xác
định, tính tự do hay tính lắp ghép… Sự sáng rõ và hoàn chỉnh của kết cấu là đặc
biệt quan trọng đối với những tác phẩm trữ tình, kịch; còn với tiểu thuyết kết cấu
thường tự do hơn.
Kết cấu tiểu thuyết, có nhiều dạng thức kết cấu tùy theo yêu cầu của đề tài,
chủ đề hoặc theo sở trường của người viết. Nó không gò bó trong những chế định
chặt chẽ, nó không có quy phạm cố định và người viết thậm chí có thể phá vỡ
những khuôn mẫu sẵn có để vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo các hình thức
kết cấu khác nhau: tiểu thuyết chương hồi, tiểu thuyết tâm lý, tiểu thuyết luận đề,
tiểu thuyết đa thanh… Bakhtin từng nhận xét “tiểu thuyết luôn nhận thức lại, đánh
giá lại mọi thứ”; “tiểu thuyết là thể loại văn chương duy nhất luôn biến đổi, do đó
nó phản ánh sâu sắc hơn, cơ bản hơn, nhạy bén hơn sự biến chuyển của bản thân
hiện thực”[21].
1.2. Haruki Murakami trong bầu văn chương hậu hiện đại
1.2.1. Văn chương đi từ hiện đại tới hậu hiện đại
“Hậu hiện đại” là một thuật ngữ phức tạp, trong đó nó chỉ nổi lên như là một
lĩnh vực nghiên cứu hàn lâm từ giữa thập niên 1980. Hậu hiện đại khó định nghĩa,
bởi vì nó là một khái niệm xuất hiện trong nhiều ngành, lĩnh vực nghiên cứu, bao
nay tôi vẫn luôn luôn làm trong tình trạng không hay biết gì về những việc tôi làm,
về việc tôi là ai, từ đâu đến, và tôi có tồn tại thực hay không?”[25; tr.74], đó như
một thứ nhân sinh quan hư vô chủ nghĩa. Nhật vật chỉ còn như bóng ma. Chính nhà
phê bình Pháp Pierre Boideffre đã phải thừa nhận: “Nhân vật đã bị phế bỏ, mà
không được thay thế Trong cuộc viễn du sang đầu mút của đêm khuya, nhân vật đã
thải bỏ dần tất cả những gì khiến nó nên người, để trở thành bóng ma vô danh mà
người ta chỉ còn nghe được giọng nói”(Tiểu thuyết sẽ đi đến đâu?).
16
Có lẽ cách dễ nhất để bắt đầu nghĩ về Hậu hiện đại là suy nghĩ về chủ nghĩa
hiện đại, phong trào mà từ đó Hậu hiện đại dường như đã hình thành phát triển. Hậu
hiện đại có hai khía cạnh, hay nói cách khác là có hai phương thức định nghĩa, cả
hai đều có liên quan đến sự hiểu biết hiện đại.
Cái khía cạnh đầu tiên hay định nghĩa của chủ nghĩa hiện đại đến từ các phong
trào thẩm mỹ rộng rãi được dán nhãn "chủ nghĩa hiện đại". Chủ nghĩa hiện đại là
một khái niệm chỉ trào lưu nghệ thuật thuộc phong trào tiên phong ở nửa đầu thế kỷ
XX: Chủ nghĩa biểu hiện, Chủ nghĩa đa đa, Chủ nghĩa siêu thực, Chủ nghĩa lập thể,
Chủ nghĩ vị lai, Chủ nghĩa trừu tượng… Ở thời kỳ “phát triển cao chủ nghĩa hiện
đại” từ khoảng 1910 - 1930, các nhân vật của văn học hiện đại giúp ta xác định lại
những gì văn chương đã làm được: những nhân vật như Woolf, Joyce, Eliot, Pound,
Stevens, Proust, Mallarme, Kafka, và Rilke được coi là những người sáng lập chủ
nghĩa hiện đại thế kỷ XX.
Từ góc độ văn học, ta thấy chủ nghĩa hiện đại nhấn mạnh vào ấn tượng và tính
chủ quan trong các văn bản. Xuất phát từ sự mô tả khách quan, được kể bởi nhân
vật thứ ba thông thái, một quan điểm chắc chắn, và một vị trí đạo đức rõ ràng. Xóa
mờ sự phân biệt giữa thể loại, để cho thơ có vẻ như nhiều thể loại khác. Nhấn mạnh
vào các hình thức phân mảnh, câu chuyện không liên tục, và sự kết nối các mảnh
như thể là ngẫu nhiên từ các nguyên vật liệu khác nhau để mỗi mảnh gợi sự chú ý
đến tình trạng riêng của mình như sản xuất, xây dựng và tiêu thụ bằng nhiều cách
cụ thể. Sự từ chối một hình thức thẩm mỹ trau chuốt, các lý thuyết thẩm mỹ kinh
“một bản lí lịch cá nhân” thì ở văn học hậu hiện đại, đặc điểm ấy hầu như không
còn. Tác phẩm không cho biết nhân vật có đường viền nhân thân thế nào? Khuôn
mặt tính cách ra sao? Điểm nhìn nhân vật thường xuyên di chuyển. Vì thế, chân
dung, tâm trạng nhân vật bị tán thành những mảnh vỡ. Muốn nắm được nhân vật
người đọc phải lắp ráp rất nhiều mảnh ghép nằm rải rác ngẫu nhiên đâu đó trong tác
phẩm. Hầu như người đọc khó có thể bắt gặp những đoạn văn phân tích tâm lý, tâm
trạng nhân vật một cách liền mạch, tập trung. Nhân vật thản nhiên trước những biến
cố của cuộc sống, khác hẳn với sự bộc lộ thái độ của các nhân vật văn học hiện đại.
Chẳng hạn, nhân vật của Franz Kafka rất băn khoăn khi mình biến thành con bọ thì
18
nhân vật của Gaxia Macket mặc nhiên trước việc mình rơi xuống đáy đại dương
hoặc bay lên trời. Có nhiều khi nhân vật hoàn toàn tồn tại qua cái nhìn, ấn tượng
của một nhân vật khác. Có lẽ vì thế mà nhân vật hầu như chẳng có tính cách khiến
người đọc nhầm lẫn nhân vật này và nhân vật khác.
Thời đại hậu hiện đại, cách xây dựng nhân vật theo các nhà tiểu thuyết trước
kia không còn đủ sức để triển khai hiện thực tâm lý: “Trung tâm hứng thú của tiểu
thuyết không còn là việc liệt kê ra những tính cách và cảnh ngộ nữa, không còn là
chuyện miêu tả phong tục mà là việc vạch ra những chất liệu tâm lý mới mẻ. Những
hiện thực, chất liệu hay yếu tố tâm lý này bao gồm những tình cảm mâu thuẫn, mối
xúc động nội tâm, những đối thoại tiềm ẩn, những rung động tế vi tất cả đều là
những rung động sâu thẳm nhất của con người. Từ đó trong tiểu thuyết mới, nhân
vật chỉ còn là cái “tôi”, tất cả còn lại chỉ là những mộng tưởng, mộng mơ, ác mộng
của chính tôi”[22; tr.76].
Một đặc điểm quan trọng của văn học hậu hiện đại là “bành trướng ngôn từ”.
Chủ nghĩa hiện đại coi trọng “cái được biểu đạt”-“cái được phản ánh” (signifié),
còn chủ nghĩa hậu hiện đại lại sùng bái “cái biểu đạt”- “cái phản ánh” (signifiant),
phóng đại vai trò to lớn của nó tới vô hạn, dẫn đến việc tùy tiện trong ghép từ, tạo
câu, bất kể sự trống rỗng trong nội dung. Ngôn từ trở thành ngọn nguồn của mọi
thứ, văn bản mà nó đan dệt lên là tất cả. Trước trạng thái tha hóa của nhân sinh, chủ
đại sinh ra là để chống lại sự độc tài của các chủ thuyết mà ông gọi là các siêu văn
bản (métarécit); cho không có một thứ nguyên lý nào phổ quát cho tất cả; chống lại
quan niệm rằng trật tự và ổn định là luôn luôn tốt và coi sự hỗn loạn, bất ổn là luôn
luôn xấu. Đối với hậu hiện đại, mọi sự thật vĩnh hằng sẽ biến mất, thay vào đó là
những biểu hiện của những hiện tượng không bản chất. Thời hậu hiện đại là thời
của sự lựa chọn không ngừng, nó là hệ quả của sự bùng nổ thông tin. Đó là một thời
không phải chỉ thuộc về những người giàu có mà mỗi người đàn ông đều trở thành
một công dân thế giới và mỗi người đàn bà là một cá nhân được giải phóng. Để
chống lại siêu văn bản (chủ thuyết lớn), hậu hiện đại phát huy tính chất đa dạng, coi
trọng vai trò cá nhân, các nhóm, coi trọng các lý thuyết nhỏ, những tiểu văn bản
(petits récits). Những tiểu văn bản của hậu hiện đại thường có cách nhìn tạm thời,
20
ngẫu nhiên, không khái quát tính thống nhất, tính ổn định, tính hợp lý hay sự thật
khách quan. Trong đó tất cả mọi ý kiến đều có quyền hiện diện. Lyotard viết: "Nói
một cách giản dị nhất, người ta coi "postmoderne" là sự không tin vào những lý
thuyết lớn, siêu văn bản (métarécits). Edit Deak tuyên bố: “Nghệ thuật hậu hiện đại
sản sinh ra những cú shock của nhận thức chứ không phải những cú shock của cái
mới”[19].
Về văn chương hậu hiện đại nói chung hầu như mọi sự việc và con người đều
bị bóp méo; tính trung thực và lành mạnh bị phế bỏ; nhân vật tùy tiện không thể giải
thích nổi vì chính tác phẩm cũng tồn tại như một ẩn dụ về sự phá vỡ trật tự.
Trước hết là phá vỡ trật tự thời gian: chủ nghĩa hậu hiện đại đã làm méo mó
lịch sử một cách có ý thức phản tỉnh, hư cấu những văn bản về những biến cố nổi
tiếng, sự sai niên đại, hay việc hoà lẫn lịch sử và giả tưởng, làm sai lệch cả hiện tại.
Sự nhại phỏng (pastiche): một loại hoán vị, xáo trộn những kiểu viết cũ. Các nhà
văn cho rằng không còn có thể đưa ra được những cách viết mới, chỉ có thể thực
hiện được một số kết hợp từ sự lượm lặt những văn phong đang hiện hữu trong lịch
sử văn chương. Mục đích của lối lai tạp này có tính giật gân hơn là nhại văn để giễu
cợt.
chứng)
Chủ nghĩa hậu hiện đại
(Bản thể
luận phản thực chứng)
Thực tại là khách quan (vì thế đối tượng
nghiên cứu là một hiện tượng xã hội, phản
ánh xã hội, quan điểm duy lý trong nghiên
cứu, đại luận thuyết )
Thực tại là quá trình tạo nghĩa,
không mang tính toàn thể, không ổn
định và chủ quan, không duy lý
(những luận điểm như bất tín nhận
thức, phủ nhận tri thức khách quan,
phủ nhận một trật tự xã hội mà ủng
hộ cho cái hỗn loạn vốn có, tiểu
luận thuyết…)
Phân biệt giữa chủ thể và khách thể Không phân tách giữa chủ thể và
khách thể
Xã hội (cái tổng) quy định hành vi (cái bộ
phận), hoặc cái bộ phận là phản ánh cái
tổng (mối quan hệ giữa cái phản ánh và
cái được phản ánh)
Không có mối quan hệ giữa cái cái
phản ảnh và cái được phản ánh, bản
thân cái phản ánh có ý nghĩa của nó
(những thuật ngữ như diễn ngôn, trò
chơi ngôn ngữ…)