TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---o0o---
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Đề tài:
NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG TIỂU THUYẾT CỦA LÊ LỰU
(KHẢO SÁT QUA CÁC TÁC PHẨM: THỜI XA VẮNG,
CHUYỆN LÀNG CUỘI VÀ SÓNG Ở ĐÁY SÔNG)
Sinh viên thực hiện
: Lê Ngọc Bích Hạnh
Lớp
: D15NV03
Khoá
: 2015 – 2019
Ngành
: Sư phạm Ngữ Văn
Giảng viên hướng dẫn
: ThS. Nguyễn Thị Thanh Xuân
Bình Dương, tháng 05 năm 2019
: ThS. Nguyễn Thị Thanh Xuân
Bình Dương, tháng 05 năm 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả được trình bày trong báo cáo là trung
thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình
nghiên cứu nào trước đây, nếu có điều gì sai sót tôi xin hoàn
toàn chịu trách nhiệm.
Thủ Dầu Một, ngày 15 tháng 05 năm 2019
Sinh viên
LÊ NGỌC BÍCH HẠNH
i
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy
cô, cán bộ và nhân viên trong khoa Khoa học Xã hội và Nhân
văn đã quan tâm, tận tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong những năm
tháng học tập và nghiên cứu tại trường.
Qua đây, tôi cũng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý Ban
lãnh đạo trường Đại học Thủ Dầu Một, các trung tâm, phòng ban
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất và tinh thần cho
tôi. Cụ thể, thư viện của trường đã hết lòng phục vụ, cung cấp
nguồn tài liệu quý báu để tôi có thể hoàn thành báo cáo này.
Đặc biệt, tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Cô
1.2.2. Quá trình sáng tác của Lê Lựu...................................................................15
1.3. Tiểu thuyết và quan niệm sáng tác của Lê Lựu.............................................17
Chương 2
NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TIỂU THUYẾT CỦA LÊ LỰU QUA
KHẮC HỌA NHÂN VẬT, ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT VÀ
HÌNH TƯỢNG NGƯỜI KỂ CHUYỆN
2.1. Nghệ thuật khắc họa nhân vật và tạo tình huống truyện...............................22
2.1.1. Nghệ thuật khắc họa nhân vật....................................................................22
2.1.2. Nghệ thuật tạo tình huống truyện...............................................................29
iii
2.2. Nghệ thuật tổ chức điểm nhìn trần thuật.......................................................32
2.2.1. Điểm nhìn nhân vật....................................................................................34
2.2.2. Điểm nhìn không gian và thời gian............................................................37
2.3. Hình tượng người kể chuyện.........................................................................41
Chương 3
NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TIỂU THUYẾT CỦA LÊ LỰU
QUA NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU
3.1. Nghệ thuật ngôn ngữ.....................................................................................47
3.1.1. Ngôn ngữ người kể chuyện........................................................................47
3.1.2. Ngôn ngữ độc thoại nội tâm.......................................................................50
3.2. Nghệ thuật giọng điệu...................................................................................52
3.2.1. Giọng điệu trữ tình xót xa..........................................................................52
3.2.2. Giọng điệu chiêm nghiệm triết lí...............................................................55
3.2.3. Giọng điệu suy tư, khắc khoải....................................................................58
3.2.4. Giọng điệu châm biếm phê phán................................................................60
KẾT LUẬN.........................................................................................................64
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................66
PHỤ LỤC..............................................................................................................v
phần vào công cuộc đổi mới này. Lê Lựu – một nhà văn với sức sáng tạo dồi dào,
1
ông thành công ở nhiều thể loại như tiểu thuyết, truyện ngắn, bút ký, tạp văn,...
với nhiều đề tài khác nhau. Đặc biệt, với thể loại tiểu thuyết, sáng tác của ông
gắn liền với quá trình đổi mới bộ mặt tiểu thuyết của văn học Việt Nam. Trên
con đường sáng tạo nghệ thuật, Lê Lựu đã để lại dấu ấn vô cùng sâu đậm trong
lòng bạn đọc trong nước và quốc tế, không chỉ bằng tài năng mà còn bằng tất cả
tâm huyết của một nhà văn chân chính. Với những tiểu thuyết đặc sắc như Thời
xa vắng, Chuyện làng Cuội và Sóng ở đáy sông, ông được xem là người đã có
những đóng góp to lớn trong việc đặt nền móng cho tiểu thuyết thời kỳ đổi mới
và góp phần đưa tiểu thuyết Việt Nam đạt đến đỉnh cao.
1.3. Sự ra đời lần lượt các tiểu thuyết Thời xa vắng (1986), Chuyện làng
Cuội (1991), Sóng ở đáy sông (1994), tên tuổi Lê Lựu đã ghi dấu ấn sâu sắc
trong lòng người đọc. Sáng tác tiểu thuyết - một thể loại tự sự cỡ lớn, nhà văn đã
tái hiện và khám phá bức tranh cuộc sống một cách sinh động rõ nét nhất, đồng
thời cũng mở ra cách nhìn đa dạng, nhiều chiều về số phận con người. Năm
2000, tiểu thuyết Sóng ở đáy sông của Lê Lựu đã được đạo diễn Lê Đức Tiến
chuyển thể thành bộ phim điện ảnh thu hút đông đảo người xem, đến nay đã gắn
liền với nhiều thế hệ người Việt. Không lâu sau đó, Thời xa vắng cũng được Hồ
Quang Minh lựa chọn để dựng thành bộ phim truyện nhựa nổi tiếng vào năm
2003 (phim đã đoạt giải Cánh diều Bạc vào năm 2004). Người ta có thể chưa
từng đọc tác phẩm nhưng một khi đã xem phim thì không ai có thể quên được số
phận của các nhân vật như “Thằng Núi”, anh “Cu Sài”,... thậm chí nó còn “ám
ảnh” họ đến mãi sau này. Một trong những lí do tiên quyết giúp tiểu thuyết của
ông thuyết phục người đọc là nhờ nghệ thuật xây dựng tác phẩm, cụ thể là nghệ
thuật tự sự. Với niềm đam mê nghiên cứu văn học và yêu thích tiểu thuyết của
Lê Lựu, chúng tôi - sinh viên thuộc chuyên ngành Ngữ văn mong muốn được
góp thêm vào tiếng nói, cảm nhận, đánh giá về nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết
người em trong nghề rất thân thiết với Lê Lựu cũng đã có những nhìn nhận, đánh
giá “thẳng thắn” về thành tựu cũng như hạn chế của tác phẩm: “Với ba trăm
3
trang sách, tiểu thuyết Thời xa vắng đã ôm chứa một dung lượng lớn. Đấy là
một chặng đường lịch sử oai hùng. Chặng đường ba mươi năm, từ buổi lập nước
đến lúc giải phóng xong toàn bộ đất nước” [13;tr.674]. Và, ông cũng cho rằng:
“Xét về mặt nghệ thuật, cuốn sách không có gì cách tân, tìm tòi, lối viết rất cũ,
tốc độ truyện chậm, hơi văn ở phần một và phần hai hình như lạc nhau, không
liền mạch. Có cảm giác như đấy là hai cuốn tiểu thuyết cùng một nội dung gộp
lại” [13;tr.678].
Với tiểu thuyết này, nhà văn Bảo Ninh cũng từng nhận định như sau:
“Những quan niệm về tiểu thuyết có thể đúc rút được từ Thời xa vắng cũng
không lạ thường gì song, với những người viết văn trẻ tuổi hồi đó thì vẫn có tác
dụng dường như là một sự bừng tỉnh” [1;tr.47].
Hay Vũ Xuân Triệu trong bài “Những đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết của
Lê Lựu trong Chuyện làng Cuội” bên cạnh việc khái lược tình hình tiểu thuyết
Việt Nam thời kỳ đổi mới, tác giả cũng đã rút ra được những cách tân về nghệ
thuật tiểu thuyết của Lê Lựu trong Chuyện làng Cuội như sau: “Dường như
chuyển động đằng sau các sự kiện, sự việc là dòng tư tưởng, là những chiêm
nghiệm mà ông muốn gửi gắm tới bạn đọc. Đặc biệt, những tư tưởng ấy được
người cầm bút khéo léo đưa vào giữa các dòng, các chương, giữa các sự kiện,
chi tiết ngồn ngộn của đời sống” [35;tr.183].
Tác phẩm của Lê Lựu ra đời lúc bấy giờ thực sự đã góp phần làm cho đời
sống văn học Việt Nam thêm sôi động, điều này đã được Lê Hồng Lâm nhận
định: “Ông Lê Lựu từ khi được bạn đọc chú ý, hễ cứ viết ra cuốn nào là lại gây
dư luận cuốn đó. Có cuốn nổi tiếng nhờ bản thân nội dung đặc sắc, nó đi vào
mạch ngầm trong tư tưởng, tình cảm nhân vật như Thời xa vắng, có cuốn nổi
tiếng... bởi tai tiếng (Chuyện làng Cuội), lại có cuốn mãi vài năm sau khi lên
Hay, trong bài viết “Lê Lựu và giọng điệu trần thuật trong Thời xa vắng”,
tác giả đã có những phân tích, đánh giá khá tỉ mỉ về giọng điệu trần thuật trong
5
Thời xa vắng để chứng minh cho lời nhận định: “Thời xa vắng là tác phẩm tiêu
biểu mang trong mình dấu hiệu của sự đổi mới, đánh dấu tên tuổi của Lê Lựu
trong làng văn Việt Nam hiện đại, mở đầu cho khuynh hướng nhận thức lại hiện
thực của văn học Việt Nam sau năm 1975” [23].
Ở một góc độ khác, nhà nghiên cứu - phê bình văn học Bích Thu đã nhận
xét về việc khai thác đề tài trong tiểu thuyết Lê Lựu, đồng thời khẳng định tính
tích cực trong việc đề cập đến cái “bản chất tự nhiên”, vốn có của con người
thông qua tiểu thuyết Hai nhà của ông đó là: “Tiểu thuyết đã không ngần ngại
miêu tả sắc dục, tình yêu nhục thể là một lĩnh vực rất riêng của mỗi cá nhân.
Miêu tả những con người tự nhiên, khai thác những yếu tố tích cực của con
người tự nhiên cũng là một khía cạnh nhân bản của văn học” [2;tr.231].
Nhìn lại những đóng góp của Lê Lựu ở cả hai thể loại truyện ngắn và tiểu
thuyết, nhà nghiên cứu Đinh Quang Tốn đã phải công nhận: “Lê Lựu viết đều cả
truyện ngắn và tiểu thuyết và cả hai thể loại anh đều thành công, nhưng thành
công hơn vẫn là tiểu thuyết. Đề tài hậu phương nông thôn miền Bắc trong chiến
tranh chống Mĩ có nhiều người viết, nhưng Lê Lựu là người viết thành công hơn
cả. Hình ảnh anh nông dân mặc áo lính trở thành viên chức ở thành thị cũng có
những nhà văn đề cập đến, nhưng Lê Lựu đã thành công hơn. Có lẽ đó là hai
thành công tiêu biểu nhất của Lê Lựu” [5;tr.22].
Trong bài viết Chất đời thường, dân dã trong tiểu thuyết Lê Lựu, tác giả
Đinh Trí Dũng đã có những nhìn nhận xác đáng về tiểu thuyết của Lê Lựu đó là:
“Sáu cuốn tiểu thuyết của ông, đặc biệt là Thời xa vắng, Sóng ở đáy sông,
Chuyện làng Cuội đã thể hiện một sự nhạy cảm đặc biệt trong việc phát hiện
những vấn đề nóng hổi của đời sống... Một trong những nét độc đáo tạo nên sức
hấp dẫn của tiểu thuyết Lê Lựu chính là thứ ngôn ngữ rất giản dị, đời thường,
mẻ xoay quanh nghệ thuật tiểu thuyết của ông qua bộ ba tiểu thuyết nổi tiếng
Thời xa vắng, Chuyện làng Cuội và Sóng ở đáy sông. Từ đó, giúp người đọc có
7
cái nhìn chân thực, khái quát và toàn diện hơn về tiểu thuyết Lê Lựu trong dòng
chảy của tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới. Đồng thời, thấy được những
đóng góp, cách tân về nội dung và nghệ thuật của ông trong quá trình vận động,
đổi mới thể loại tiểu thuyết ở nước ta.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của Lê Lựu.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung khảo sát ba cuốn tiểu thuyết tiêu biểu thời kỳ đổi mới của
Lê Lựu: Thời xa vắng, Chuyện làng Cuội và Sóng ở đáy sông.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện báo cáo này, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp
nghiên cứu sau đây:
Phương pháp thi pháp học: Dựa vào những đặc điểm cơ bản của thi pháp
học để tìm hiểu, triển khai và đi sâu phân tích các vấn đề liên quan đến thể loại
tiểu thuyết như nhân vật, người kể chuyện, ngôn ngữ, giọng điệu,...
Phương pháp phân tích, tổng hợp: Qua việc tìm hiểu, đi sâu từng khía
cạnh để làm rõ vấn đề và khẳng định được những đóng góp nhất định của nhà
văn ở thể loại tiểu thuyết.
Phương pháp hệ thống - cấu trúc: Phương pháp được sử dụng nhằm xem
xét tác phẩm trong một chỉnh thể giữa nội dung và hình thức, từ đó làm sáng tỏ
những giá trị làm nên thành công của tiểu thuyết Lê Lựu.
Phương pháp so sánh, đối chiếu: Đây là phương pháp giúp chỉ ra sự tương
đồng và khác biệt trong sáng tác của Lê Lựu với một số tác phẩm của những nhà
TIỂU THUYẾT CỦA LÊ LỰU TRONG BỐI CẢNH TIỂU THUYẾT
VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI
1.1. Khái lược về tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới
Trước thời kỳ đổi mới, tiểu thuyết Việt Nam phát triển tương đối chậm và
tìm thấy hướng đi muộn hơn so với những thể loại văn học khác, tuy nhiên, tiểu
thuyết thời gian này không phải không có những thành tựu nhất định. Từ 1930
-1945 được xem là giai đoạn tiểu thuyết định hình, từng bước phát triển theo
hướng hiện đại. Tạo được tiếng vang lúc bấy giờ là những tác phẩm của Nhất
Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo thuộc nhóm Tự lực văn đoàn cùng với một số nhà
văn hiện thực chủ nghĩa tiêu biểu như Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Vũ
Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan,... Từ 1945 - 1975, tiểu thuyết tiếp tục phát
triển nhưng trong hoàn cảnh vô cùng đặc biệt của lịch sử khi cả dân tộc phải trải
qua ba mươi năm kháng chiến khốc liệt. “Lúc đó, Đảng đề ra cho văn nghệ sỹ
phải đứng trên lập trường kháng chiến, phải tuyên truyền chính trị, cổ vũ chiến
đấu, mọi cây bút chân chính đều thấy là hết sức hợp lý, hợp tình, thậm chí là lẽ
đương nhiên. Họ sẵn sang nhập cuộc với tinh thần ấy. Nghĩa vụ công dân là cao
cả nhất, là thiêng liêng nhất” [29;tr.20]. Cùng với những thể loại khác như: thơ,
truyện ngắn, ký,... tiểu thuyết giai đoạn này đã kịp thời phản ánh, hướng đến tinh
thần chung của dân tộc là cổ vũ, khích lệ, quyết chiến, quyết thắng kẻ thù xâm
lược, làm tròn sứ mệnh cao cả của “nền văn học kháng chiến” đó là hướng về đại
chúng, phục vụ chính trị và cổ vũ chiến đấu. Tiểu thuyết vẫn không ngừng phát
triển, dần khẳng định vị trí của mình trên văn đàn dân tộc và những thành tựu đạt
được trong giai đoạn này thật đáng tự hào có thể kể đến những tác phẩm có tầm
ảnh hưởng to lớn như: Dấu chân người lính (Nguyễn Minh Châu), Đường trong
10
mây (Nguyễn Khải), Hòn Đất (Anh Đức), Gia đình má Bảy (Phan Tứ), Đường
thời đại (Đặng Đình Loan),... Bên cạnh đó, không thể không nhắc đến những hạn
chế mang tính tất yếu của nền văn học giai đoạn này nói chung và tiểu thuyết
đến những “vùng đất mới” để có thể đào sâu, khai phá mọi mặt, kể cả những
“góc khuất” của đời sống nhằm tìm ra hướng đi mới. Trên hành trình nhọc nhằn
đó, những nhà văn tiên phong đã không ngừng đổi mới, tìm tòi, sáng tạo nhưng
vẫn theo đúng phương châm “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật và
nói rõ sự thật”. “Sự thật” ấy cũng từng được nhà Lí luận - Phê bình văn học Lê
Ngọc Trà khẳng định như sau: “Những nhà văn nhạy cảm với cuộc sống, thiết
tha với công cuộc đổi mới do Đảng đề ra đã nhìn thấy phải bắt đầu quá trình
đổi mới văn học đúng ngay từ chỗ phải bắt đầu nói sự thật. Mà người đọc từng
trải, thông minh chân tình của chúng ta cũng hiểu như vậy. Họ chú ý đến tác
phẩm mới, hoan nghênh nhà văn trước hết ở sự trung thực, ở lời nói thật. Cái
nhìn mới mẻ, trước hết bắt nguồn từ thái độ trung thực và tinh thần trách nhiệm
đối với cuộc sống, từ niềm tin vào chính nghĩa và sức mạnh của cách mạng. Do
đó mà có đủ ý thức và dũng cảm nói lên sự thật, dù đó là sự thật không đơn
giản, thậm chí phũ phàng” [16;tr.88].
Nói về tiểu thuyết thời kỳ đổi mới, Cao Tiến Lê cho rằng: “Tiểu thuyết của
ta mấy năm gần đây đã khởi sắc, nhất là những năm 1988, 1989, 1990 có đổi
mới, tự do hơn, nêu được nhiều vấn đề... Văn học đã đi vào đời thường, mỗi con
người đều bình đẳng trước cái nhìn của nhà văn. Tất cả mọi người trước nhà
văn đều là nhân vật, nhà văn coi trọng ở chỗ số phận của họ đóng góp được gì
cho văn học” [3;tr.73]. Tiểu thuyết nước ta thời kỳ này đã có sự chuyển biến
ngoạn mục so với thời kỳ trước, từ chỗ nắm được những diễn biến tinh vi nhất
của cuộc sống mới đa dạng có phần phức tạp đến việc phơi bày những mặt trái,
hiện tượng tiêu cực, nhức nhối của đời sống xã hội. Lúc này, con người được
nhìn nhận, soi chiếu ở nhiều góc độ với đầy đủ những “phẩm chất và thuộc tính,
bản năng và ý thức, cao cả và thấp hèn, phần con và phần người”,... ở bình diện
đời tư, thế sự. Cuộc sống thường nhật cũng như đời sống tâm hồn được thể hiện
12
một cách chân thực rất “đời” trên từng trang tiểu thuyết, ở đó không đơn giản chỉ
đã thôi thúc nhà văn cầm bút ghi lại những chuyển biến đó. Trong kháng chiến,
ông từng làm phóng viên tại Quân khu Ba, mặt trận chiến trường 559. Hòa bình
lập lại, ông tiếp tục làm biên tập viên, Trưởng ban văn xuôi rồi Thư ký tòa soạn
tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Từ năm 1974, ông là thành viên của Hội nhà văn
Việt Nam. Ông từng đảm nhận chức vụ Giám đốc Trung tâm Văn hóa Danh
nhân Việt Nam và Tổng biên tập Tạp chí Văn hóa Doanh nhân Việt Nam tại Hà
Nội. Ngày 25 tháng 02 năm 2014, ông thành lập Quỹ Văn học Lê Lựu - đây là
Quỹ văn học đầu tiên mang tên một nhà văn còn sống, nhằm tạo điều kiện và
khích lệ tinh thần sáng tác của những thế hệ nhà văn trẻ [42].
Về gia đình, Lê Lựu từng trải qua hai cuộc hôn nhân không hạnh phúc và
có tất cả ba người con. Thế nhưng những năm tháng cuối dốc nắng của cuộc đời,
mang trong mình nhiều căn bệnh quái ác, ông vẫn phải sống trong cảnh cô đơn,
không vợ không con, nhờ người dưng chăm sóc. Căn nhà của tổ tiên để lại cùng
với căn hộ được Quân đội cấp cho tại khu phố nhà binh từ sau khi li hôn vợ, ông
đã mất trắng tất cả. Sau đó, ông được Quân đội cấp cho một căn nhà rộng 50 mét
vuông xây 3 tầng tại số 8, đường Lý Nam Đế để công tác và nương náu những
năm tháng tuổi già.
Năm 2006, Lê Lựu bị xuất huyết não, cũng bởi dây thần kinh xúc cảm bị
tổn thương nên nhà văn đã khóc rất nhiều trong suốt những ngày tháng cô độc,
bạo bệnh. Năm 2009, Lê Lựu bị tai biến mạch máu não lần thứ ba, phải nằm viện
giành giật giữa sự sống và cái chết, thay vì chăm sóc ông thì người vợ thứ hai đã
đem đơn đòi li hôn còn hai đứa con chỉ chầu chực bố cho phép bán căn nhà ở
đường Lý Nam Đế. Ông cay đắng, bất đắc dĩ phải bán đi căn nhà đã 10 năm gắn
bó được 5 tỉ đồng, ba mẹ con họ đã lấy đi 3 tỉ, để lại cho ông 2 tỉ và từ đó cảnh
nhà li tan. Với số tiền này Lê Lựu trích ra một nửa để thành lập Quỹ Văn học Lê
14
Lựu. Năm 2012, mảnh đất của tổ tiên mà cha mẹ ông để lại ở Khoái Châu Hưng Yên cũng bị người vợ cả đã ly hôn 40 năm trước kê khai sổ đỏ chiếm đoạt,
ông không đủ sức lực để tranh đấu, đòi lại mảnh đất nên đã từ bỏ vụ kiện.
mỗi chữ, mỗi câu viết ra Lê Lựu luôn phải suy nghĩ, đắn đo, khổ sở vô cùng đến
nỗi “có những đêm lặn ngụp bì bõm, xẻ xắn từng khối chữ, vật lên trang giấy,
sáng ra mắt đỏ kè...” [31;tr.80].
Tác phẩm đầu tay của ông là Tết làng Mụa (1964), sau đó là hàng loạt
những truyện ngắn khác ra đời như Trong làng nhỏ, Phía mặt trời, Truyện kể từ
đêm trước,... Đặc biệt, với truyện ngắn Người cầm súng, ông đã xuất sắc đạt giải
Nhì (không có giải Nhất) cuộc thi truyện ngắn của Báo Văn nghệ năm 1968.
Cùng với đó, ông cũng vinh dự nhận giải Nhất cuộc thi do Bộ Lao động Thương
binh và Xã hội, Hội Nhà văn Việt Nam và Bộ Văn hóa tổ chức năm 1971 với
truyện vừa Người về đồng cói.
Từ những thành công đã đạt được ở thể loại truyện ngắn, Lê Lựu tiếp tục
thử sức mình với thể loại tiểu thuyết và một lần nữa thành công rực rỡ với các
tác phẩm Mở rừng (1976); Chuyện làng Cuội (1991); Sóng ở đáy sông (1994);...
Có thể nói, gây được tiếng vang và đạt đến đỉnh cao không thể không nhắc đến
Thời xa vắng (1986) - tiểu thuyết đã đưa tên tuổi của Lê Lựu vào hàng ngũ
những nhà văn tiêu biểu trên văn đàn lúc bấy giờ và cũng chính tác phẩm “để
đời” này, ông được trao giải A của Hội Nhà văn Việt Nam vào năm 1998. Bên
cạnh đó, Sóng ở đáy sông cũng là bộ tiểu thuyết nổi tiếng, từng gây chấn động
dư luận một thời vì tính thời sự và giá trị đặc sắc của nó. Nhà văn Lê Lựu đã
sáng tạo ra nhiều nhân vật đau khổ, bất hạnh trên con đường kiếm tìm hạnh phúc
như phản chiếu chính cuộc đời thực đầy bi kịch của mình. Không giấu khỏi vẻ
xót xa, ông từng chia sẻ rằng: “Thằng Núi trong Sóng ở đáy sông cũng tìm được
chỗ đứng của nó, đến thằng Sài trong Thời xa vắng, nó khốn khổ như thế mà
16
cũng chưa khổ bằng tôi. Tôi đúng là bố của chúng nó về nhục nhã, mất mát”
[43].
Mặc dù, cuộc sống gia đình đã gây ra cho ông biết bao tổn thương, cùng
những năm 70... Cuốn sách quả thật cuốn hút tôi, bởi Lê Lợi đã đề cập đến một
lớp người trong chiến tranh. Oai hùng và bi thảm. Giản đơn và phức tạp. Mỗi
người là một cánh rừng âm u rậm rịt, phải tự mở lấy lối mà đi. Chẳng ai giống
ai, bằng những con đường riêng, số phận riêng, họ đã đến với cuộc chiến tranh
bi tráng” [33;tr.78]. Tuy nhiên, cái tên Lê Lựu chỉ thật sự được khẳng định khi
Thời xa vắng ra đời, tác phẩm gần như một cuốn tự truyện về chính cuộc đời của
tác giả, xoay quanh số phận bi thảm của anh Giang Minh Sài. Có thể nói, Lê Lựu
đã dành không biết bao nhiêu công sức, thời gian và tâm huyết cho “đứa con
tinh thần lớn” của mình, chẳng thế mà nhà thơ Trần Đăng Khoa từng chia sẻ:
“Viết cuốn sách này, Lê Lựu đã xổ hết ruột gan mình ra trang giấy. Anh bơ phờ
rời bàn viết, bủn rủn và rệu rạo như người đàn bà vừa đẻ xong” [33;tr.83]. Thời
xa vắng vừa xuất hiện đã tốn không biết bao nhiêu giấy mực của giới nghiên
cứu, phê bình trong và ngoài nước. Tác phẩm đã làm xôn xao dư luận một thời,
đi đến đâu cũng nghe người ta bàn tán về nó để rồi ngay cả Lê Lựu cũng được
mọi người gọi với cái tên thân mật là “anh Cu Sài”. Tầm ảnh hưởng của Thời xa
vắng thực sự đã vượt quá sức tưởng tượng của người sáng tạo ra nó, đến năm
2003 tác phẩm nổi tiếng này đã được chuyển thể thành bộ phim điện ảnh cùng
tên bởi đạo diễn Hồ Quang Minh và xuất sắc đoạt giải Cánh diều Bạc vào năm
2004.
Không dừng lại ở Thời xa vắng, Lê Lựu tiếp tục con đường sáng tác
không biết mệt mỏi, không ngừng đào sâu, khám phá đến mọi giới hạn để tìm
hướng đi mới cho tiểu thuyết của mình. Cây bút ấy đã không ít lần vò đầu bứt
tai, trăn trở về hiện thực “trần trụi” có phần tàn nhẫn của cuộc đời cần phải nhận
thức lại, hướng đến những vấn đề nhức nhối của đời tư, thế sự để đối mặt với nó,
18
giải quyết nó. Và, Đại tá không biết đùa (1990), Chuyện làng Cuội (1991),
Sóng ở đáy sông (1994), Hai nhà (2000) đã lần lượt được ra đời. Mặc dù, không
phải sáng tác nào cũng thành công vang dội nhưng điều mà nhiều thế hệ độc giả