Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia
sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
LỜI MỞ ĐẦU
1- Tính cấp thiết của đề tài
Trước tình hình kinh tế xã hội đang có nhiều diễn biến phức tạp, đan
xen giữa khó khăn và thuận lợi, nguy cơ và thời cơ. Để tiến hành CNH, HĐH
đất nước cần phải đẩy mạnh cách mạng công nghệ, phát huy tối đa mọi nguồn
lực mà quan trọng nhất là vốn.
Theo kinh nghiệm của các nước đi trước, có nước đã sử dụng nguồn vốn
bên ngoài làm chủ lực, nguồn vốn trong nước làm bổ trợ cho sự phát triển, tận
dụng lợi thế chuyển giao công nghệ tiên tiến, rút ngắn thời gian bắt kịp với các
nước phát triển. Có nước lại lựa chọn nguồn vốn nội địa làm chủ đạo, bằng
cách này tốc độ phát triển thường chậm, nhưng hạn chế được sự phụ thuộc vào
bên ngoài, tạo thế chủ động trong việc thực hiện các mục tiêu chiến lược, đảm
bảo sự phát triển vững chắc của nền kinh tế trong lâu dài.
Nằm trên vòng cung kinh tế đang phát triển năng động nhất thế giới,
Châu Á Thái Bình Dương, trong công cuộc đổi mới, Việt Nam còn vấp phải
nhiều khó khăn trở ngại. Cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu thốn, lạc hậu, trình
độ đội ngũ cán bộ lao động còn nhiều hạn chế, nền tảng cho mọi hoạt động
kinh doanh còn thiếu rất nhiều. Đứng trước xu thế mở cửa hợp tác, để vững
bước trên con đường phát triển CNXH theo định hướng của Đảng, chúng ta
phải biết nắm bắt thời cơ, đi tắt đón đầu tận dụng khai thác mọi nguồn lực
trong và ngoài nước. Với chủ trương đề ra ở Đại Hội Đại biểu toàn quốc lần
thứ VIII và được khẳng định lại ở Đại Hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX:
1
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia
sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
“Vốn trong nước có ý nghĩa quyết định, vốn nước ngoài có ý nghĩa quan trọng
cao hiệu quả công tác huy động vốn.
Phạm vị nghiên cứu là khảo sát hoạt động của NHTM CP XNK Hà Nội
trong 3 năm từ 2002 đến 2004. Các giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn
tại Eximbank Hà Nội.
4- Phương pháp nghiên cứu
Khoá luận sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy
vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh kết hợp với
các học thuyết kinh tế, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích tổng
hợp…
5- Kết cấu của khoá luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khoá luận chia thành 3 chương.
Chương 1: Lý luận chung về công tác huy động vốn trong hoạt động
kinh doanh của NHTM.
Chương 2: Thực trạng công tác huy động vốn tại NHTM CP XNK chi
nhánh Hà Nội.
Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn
tại NHTM CP XNK chi nhánh Hà Nội.3
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia
sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
4
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia
sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN
định : “ Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động
chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn
trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và làm
phương tiện thanh toán’’. Luật các TCTD được bổ sung sửa đổi năm 2004,
điều 20 giải thích: “ TCTD là doanh nghiệp được thành lập theo qui định của
luật này và các qui định khác của pháp luật để hoạt động ngân hàng.” và “
Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với
nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và
cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
1.1.2. Vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, nền kinh tế đã đạt đến trình độ cao của
kinh tế hàng hoá, ngân hàng đóng vai trò quan trọng, nó là hệ thống thần kinh,
hệ thống tuần hoàn của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Nền kinh tế chỉ có thể
cất cánh, phát triển với tốc độ cao nếu có một hệ thống ngân hàng vững mạnh.
Ngân hàng và nền kinh tế có mối quan hệ hữu cơ lẫn nhau. Do đó, vai trò của
ngân hàng thương mại được thể hiện ở một số mặt sau:
1.1.2.1. NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế
Khi nhắc tới vai trò của ngân hàng thương mại thì không thể không
nhắc tới vai trò cung ứng vốn đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của các
chủ thể trong nền kinh tế. Để có thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh
6
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia
sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
điều đầu tiên các chủ doanh nghiệp phải quan tâm đó là vốn. Nếu không có
vốn thì doanh nghiệp sẽ bị mất cơ hội đầu tư, mất đi lợi nhuận mà lẽ ra có thể
thu được.
Do nhược điểm của thị trường tài chính dẫn đến ảnh hưởng tới tính liên
tục của chu trình tài chính như sự không khớp nhịp giữa cung vốn và cầu vốn
qua các công cụ như: thị trường mở, dự trữ bắt buộc, lãi suất,… thì các NHTM
một mặt chịu sự tác động trực tiếp của các cộng cụ này mặt khác nó còn tham
gia điều tiết gián tiếp vĩ mô nền kinh tế thông qua mối quan hệ với các tổ chức
kinh tế, cá nhân về các hoạt động tài chính tín dụng. Nói cách khác, thông qua
hoạt động của NHTM với các chủ thể khác trong nền kinh tế, mọi thông tin có
liên quan đến việc hoạch định chính sách tiền tệ sẽ được phản hồi lại NHTW,
giúp NHTW có thể hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp trong
từng thời kỳ để đảm bảo thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển ổn
định.
8
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia
sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
1.1.2.4. NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế
Trên thế giới, trong thời đại ngày nay, mỗi quốc gia độc lập thường
xuyên tiến hành những mối quan hệ đa dạng và phức tạp trên nhiều lĩnh vực :
kinh tế, chính trị, xã hội, ngoại giao, văn hoá, khoa học- kỹ thuật, …trong đó
quan hệ kinh tế thường chiếm vị trí quan trọng. Áp lực cạnh tranh buộc nền
kinh tế của mỗi quốc gia khi mở cửa hội nhập phải có tiềm lực lớn mạnh và
toàn diện về mọi mặt mà quan trọng nhất là tài chính. Nhưng làm thế nào để
có thể hoà nhập nền kinh tế của một quốc gia với phần còn lại của thế giới ?
Câu hỏi này sẽ được giải đáp thông qua vai trò của hệ thống NHTM với hàng
loạt các nghiệp vụ không ngừng được hoàn thiện và phát triển: thanh toán
quốc tế, kinh doanh ngoại hối, uỷ thác đầu tư, … Hệ thống NHTM trong nước
đã điều tiết tài chính trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài chính
quốc tế, đưa nền tài chính trong nước bắt kịp với nền tài chính quốc tế.
1.1.3. Các chức năng của NHTM
1.1.3.1. Chức năng trung gian thanh toán
Ngân hàng làm chức năng trung gian thanh toán khi nó thực hiện thanh
của NHTM và có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát
triển.
Ngân hàng làm chức năng trung gian tín dụng khi nó là “cầu nối giữa
người thừa vốn và người thiếu vốn”. Nói cách khác, ngân hàng sau khi huy
động được các nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế sẽ hình thành
nên quỹ cho vay của ngân hàng và sẽ sử dụng nó để đáp ứng nhu cầu vay vốn
10
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia
sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
của các chủ thể trong nền kinh tế mà chủ yếu là cho vay ngắn hạn. Với chức
năng này ngân hàng đóng vai trò vừa là người đi vay, vừa là người cho vay.
Hay nói cách khác, nghiệp vụ tín dụng ngân hàng của NHTM đi vay là để cho
vay.
Chức năng trung gian tín dụng xuất phát từ đặc điểm tuần hoàn vốn tiền
tệ trong quá trình tái sản xuất xã hội. Sở dĩ không phải là một tổ chức nào khác
trong nền kinh tế mà lại là ngân hàng đứng ra thực hiện chức năng này vì ngân
hành là một tổ chức chuyên kinh doanh tiền tệ, tín dụng, họ có đầy đủ kinh
nghiệm và sự hiểu biết về tình hình cung cầu tín dụng trong nền kinh tế do vậy
họ có thể khắc phục được những khiếm khuyết của thị trường tài chính đó là
sự không khớp nhịp giữa cung cầu tín dụng về thời hạn và số lượng tức là
thông qua việc thu hút tiền gửi với một số lượng lớn ngân hàng có thể giải
quyết mối quan hệ giữa cung cầu tín dụng cả về khối lượng vốn cho vay và
thời gian cho vay .
Thông qua chức năng trung gian tín dụng, NHTM đã góp phần tạo ra lợi
ích cho tất cả các bên trong quan hệ là người gửi tiền, ngân hàng và người đi
vay và đảm bảo lợi ích cho nền kinh tế.
1.1.3.3. Chức năng tạo tiền
Vào cuối thế kỷ XIX, khi mà hệ thông ngân hàng hai cấp được hình
ổn định giá cả, tăng trưởng kinh tế, giảm thất nghiệp, làm tăng tổng phương
tiện thanh toán trong nền kinh tế đáp ứng nhu cầu chi trả của xã hội.
12
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia
sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Các chức năng của NHTM có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung, hỗ trợ cho
nhau trong đó chức năng trung gian tín dụng là chức năng cơ bản nhất, tạo cơ
sở cho việc thực hiện các chức năng sau. Đồng thời, khi NHTM thực hiện tốt
chức năng thủ quỹ và trung gian thanh toán góp phần làm tăng nguồn vốn tín
dụng, mở rộng qui mô hoạt động của ngân hàng.
1.1.4. Hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
1.1.4.1. Nghiệp vụ tài sản nợ
Tài sản nợ bao gồm những khoản nợ mà ngân hàng nợ thị trường và vốn
của ngân hàng. Các khoản nợ được thị trường biểu hiện thông qua những
khoản vốn mà dân chúng gửi vào NHTM hoặc NHTM đi vay các chủ thể
trong nền kinh tế như các cá nhân, các hộ gia đình, doanh nghiệp, nước ngoài,
các trung gian tài chính khác, NHTW…
a-Vốn tiền gửi
Đây là nghiệp vụ phản ánh hoạt động huy động vốn của NHTM dưới
dạng nhận các khoản tiền gửi của DN vào ngân hàng để thanh toán nhằm mục
đích an toàn hay hưởng lãi. Đồng thời ngân hàng còn huy động các khoản tiền
nhàn rỗi trong dân cư gửi vào ngân hàng với mục đích hưởng lãi. Bao gồm:
+ Tiền gửi thanh toán: Là khoản tiền tạm thời nhàn rỗi của TCKT và cá
nhân trong quá trình kinh doanh của mình gửi vào ngân hàng để chủ động
thanh toán hoặc sinh lời. Tuỳ theo tính chất nhàn rỗi của các nguồn vốn các tổ
chức, cá nhân có thể gửi không kỳ hạn hoặc có kỳ hạn vào ngân hàng. Ngân
hàng có thể sử nguồn vốn này vào cho vay các thành phần kinh tế.
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia
sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
- Cho vay chiết khấu: các thương phiếu đã được các NHTM chiết
khấu và trở thành tài sản của họ khi cần thiết NHTM sẽ mang những
thương phiếu này đến xin chiết khấu tại NHTW. Thông thường
NHNN chỉ tái chiết khấu cho những thương phiếu có chất lượng và
phù hợp với mục tiêu của NHNN trong từng thời kỳ và NHNN chủ
yếu chỉ cho vay ngắn hạn để giải quyết nhu cầu cấp bách của NHTM
.
- Cho vay cứu cánh: NHNN sẽ cho vay cứu cánh khi NHTM bị khủng
hoảng trầm trọng và có nguy cơ phá sản gây ảnh hưởng tới toàn hệ
thống và đang bị đặt trong tình trạng “kiểm soát đặc biệt” theo quyết
định của thống đốc.
- Cho vay theo thời vụ : tại NHTM có những thời kỳ nhu cầu vay vốn
và thanh toán của khách hàng khi diễn ra nhiều mà nguồn vốn của
ngân hàng không đáp ứng đủ thi NHTW có thể cho vay để đảm bảo
hoạt động.
Ngoài ra khi có nhu cầu NHTM còn có thể đi vay từ các NHTM khác.
Đây là nguồn các NHTM vay mượn lẫn nhau và vay của các TCTD khác trên
thị trường . Các NHTM đang thiếu hụt dự trữ có thể vay mượn từ các NHTM
và TCTD khác trên thị trường để đảm bảo thanh khoản còn các ngân hàng
đang có dự trữ vuợt yêu cầu do có sự gia tăng bất ngờ về nguồn vốn huy động
cho các ngân hàng khác vay để tìm kiếm lãi suất cao hơn. Quá trình vay mượn
diễn ra rất đơn giản ngân hàng vay chỉ cần liên hệ trực tiếp với ngân hàng cho
vay hoặc thông qua NHTW. Khoản vay có thể không cần được đảm bảo hoặc
được đảm bảo bằng các chứng khoán của kho bạc. Kết quả là dự trữ của ngân
15
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia
Phần lớn các nguồn vốn khác không phải trả lãi hoặc trả lãi rất thấp.
Tuy nhiên, chi phí để có và duy trì chúng là rất đáng kể. Để có được nguồn
vốn này, các ngân hàng cần không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động dịch
vụ, đa dạng hoá các dịch vụ tài chính, nâng cao uy tín của nhân hàng nhằm thu
hút khách hàng.
e-Vốn tự có và coi như tự có của của ngân hàng
Vốn tự có là nhưng giá trị tiền tệ mà ngân hàng tạo lập được thuộc về sở
hữu của ngân hàng. Vốn tự có mang tính chất ổn định, nó thường chiếm một
tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng (dưới 10%), nhưng nó có
một vị trí quan trọng quyết định qui mô hoạt động của ngân hàng, là cơ sở để
ngân hàng tiến hành kinh doanh, huy động vốn và cho vay. Nó đóng vai trò là
“ tấm đệm giúp chống đỡ rủi ro phá sản”. Vốn tự có của ngân hàng góp phần
thoả mãn các cơ quan quản lý ngân hàng khi họ xem xét các điều kiện của
ngân hàng trong việc thiết lập các chi nhánh, giới hạn tín dụng, đầu tư và mua
sắm tài sản cố địng của ngân hàng. Vốn cung cấp năng lực tài chính cho sự
tăng trưởng và phát triển của các hình thức dịch vụ mới, cho những chương
trình và trang thiết bị mới. Nguồn hình thành vốn tự có gồm hai nguồn chính
sau:
-Vốn tự có ban đầu là vốn mà NHTM phải có để đi vào hoạt động được
quy định trong những văn bản pháp quy. Đây là phần vốn mà ngân hàng thực
có trong suốt quá trình hoạt động của ngân hàng và thuộc quyền sở hữu của
ngân hàng. Tuỳ theo tính chất mỗi ngân hàng mà nguồn vốn hình thành ban
đầu khác nhau. Chẳng hạn :
+ NHTM quốc doanh: vốn điều lệ do NSNN cấp.
17
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia
sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
+ NHTM cổ phần: vốn điều lệ do các cổ đông đóng góp.
hàng không duy trì đủ lượng tiền mặt để đáp ứng nhu cầu thanh toán của
khách hàng thì uy tín của ngân hàng sẽ bị giảm sút trầm trọng. Nhưng duy trì
một lượng tiền mặt bao nhiêu là đủ thì lại là điều không đơn giản. Nến dự trữ
dư thừa thì sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của tài sản có, ngược lại dự trữ
quá ít sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàng khi có nhu cầu.
Do vậy, mức dự trữ phù hợp sẽ phụ thuộc vào quy mô, nhu cầu thanh toán và
tính thời vụ của các khoản thu chi tiền mặt.
b-Nghiệp vụ cho vay
Nghiệp vụ cho vay là nghiệp vụ cung ứng vốn của ngân hàng trực tiếp
cho các nhu cầu sản xuất, tiêu dùng trên cơ sở thoả mãn các điều kiện vay vốn
của ngân hàng. Đây là nghiệp vụ cơ bản trong hoạt động kinh doanh của
NHTM, bởi một mặt thông qua nghiệp vụ tín dụng ngân hàng cung ứng một
lượng vốn lớn cho nền kinh tế để đáp ứng yêu cầu sản xuất, tăng trưởng kinh
tế; mặt khác là nghiệp vụ sinh lời lớn nhất của các NHTM do đó các NHTM
đã tìm kiếm mọi cách huy động nguồn vốn để cho vay. Vì vậy quy mô của các
khoản cho vay chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng tài sản có của NHTM và cũng
chứa đựng rủi ro rất cao cho nên các ngân hàng luôn xem xét kỹ lưỡng tới
từng món vay và từng đối tượng cho vay để đảm bảo an toàn cho khoản vay.
Nghiệp vụ cho vay của NHTM có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác
nhau. Thông thường, người ta thường phân loại theo tiêu thức thời gian gồm:
- Cho vay ngắn hạn : là loại hình cho vay có thời hạn dưới 12 tháng.
- Cho vay trung hạn : là loại hình cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm.
19
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia
sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
- Cho vay dài hạn : là loại hình cho vay có thời hạn trên 5 năm.
c-Nghiệp vụ đầu tư
Nghiệp vụ đầu tư là nghiệp vụ sinh lời của NHTM ở nghiệp vụ này
hữu còn quyền sử dụng vốn tiền tệ họ chuyển nhượng cho ngân hàng, để rồi
ngân hàng phải trả cho họ một khoản thu nhập. Như vậy ngân hàng đã thực
hiện vai trò tập trung vốn và phân phối vốn dưới hình thức tiền tệ, làm tăng
nhanh quả trình luân chuyển vốn, phục vụ và kích thích mọi hoạt động kinh tế
phát triển. Đồng thời, chính các hoạt động đó lại quyết định đến việc tồn tại và
phát triển hoạt động kinh doanh của NHTM.
1.2.2. Vai trò của nguồn vốn huy động đối với hoạt động kinh doanh của
NHTM
Ngân hàng là một doanh nghiệp kinh doanh một loại hàng hoá đặc
biệt là“ tiền tệ’’ với đặc thù hoạt động kinh doanh là “đi vay để cho vay’’ nên
nguồn vốn đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng càng có vai trò hết sức
quan trọng, nó phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năng kinh doanh
của mỗi ngân hàng. Vốn là yếu tố quyết định đến khả năng sinh lời, khả năng
cạnh tranh cũng như khả năng phòng chống rủi ro của ngân hàng.
1.2.2.1. Vốn huy động quyết định đến quy mô hoạt động và quy mô tín dụng
của ngân hàng
Cụ thể, nếu ngân hàng có nguồn vốn lớn, dồi dào thì chắc chắn ngân
hàng sẽ có đủ khả năng để thực hiện đa dạng hoá sản phẩm của mình để đáp
21
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia
sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
ứng tốt nhất nhu cầu dịch vụ của khách hàng. Đồng thời nguồn vốn lớn còn có
thể giúp ngân hàng mở rộng mạng lưới chi nhánh, hiện đại hoá cơ sở vật chất,
… Không những vậy, với tiềm năng vốn lớn các NHTM có thể hoàn toàn tự
quyết định lấy cơ hội kinh doanh của mình, tự tạo ra một hình ảnh riêng cho
ngân hàng, từ đó sẽ tạo ra đựơc sức hút đối với khách hàng. Một ngân hàng có
nguồn vốn lớn có thể cùng một lúc phục vụ nhiều nhu cầu vay vốn của các đối
tượng khác nhau qua đó đem lại lợi nhuận và nâng cao hình ảnh cho ngân
mạnh cạnh tranh mang ý nghĩa sống còn, vì vậy các ngân hàng luôn tìm mọi
cách để năng cao khả năng này.
1.2.3. Các hình thức huy động vốn của NHTM
Vốn huy động là những giá trị tiền tệ do ngân hàng huy động thông qua
các nghiệp vụ chủ yếu như: nghiệp vụ tiền gửi, nghiệp vụ phát hành giấy tờ có
giá và các nghiệp vụ trung gian khác.Vốn huy động là nguồn vốn mà ngân
hàng có thể chủ động tìm kiếm hoặc bị động trong việc tạo nguồn.
Vốn huy động chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồn vốn kinh
doanh của ngân hàng thường ở mức 70 – 80%, đây chính là nguồn chủ yếu
đáp ứng nhu cầu tín dụng của khách hàng và cũng là nguồn mang lại thu nhập
chủ yếu cho ngân hàng. Vì vậy, ngân hàng thông qua các công cụ tài chính với
mức lãi suất khác nhau, thời hạn hoàn trả khác nhau để có thể huy động tới
mức tối đa nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi của khách hàng. Các NHTM phải làm
sao thu hút được nhiều tiền của người tiêu dùng và các doanh nghiệp dù ngân
23
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia
sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
hàng phải trả lãi cho loại tiền gửi này song việc thu hút nhanh và biết sử dụng
vẫn mang lại nguồn lợi lớn cho ngân hàng.
Bản chất của vốn huy động là tài sản thuộc các sở hữu khác nhau, ngân
hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu và phải có trách nhiệm
hoàn trả cả gốc lẫn lãi khi đến hạn hoặc khi khách hàng có nhu cầu rút vốn để
chi trả trước hạn. Vì vậy ngân hàng không được phép sử dụng hết số vốn đó
vào hoạt động kinh doanh mà phải dự trữ với một tỷ lệ hợp lý để đảm bảo khả
năng thanh toán cho ngân hàng .
24
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia