Tiểu luận " chiến dịch Tây
Nguyên"
1
MỤC LỤC
Ti u lu n " chi n d ch Tây Nguyên"ể ậ ế ị 1
1
M C L CỤ Ụ 2
A – PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Để có được cuộc sống độc lập, ấm no, hạnh phúc như ngày hôm nay
nhân dân ta đã trải qua biết bao nhiêu thăng trầm, biến cố, đã hi sinh biết
bao xương máu…Chính vì thế là người dân nước Việt chúng tôi tự hào về
những trang sử vàng của dân tộc ta. Khao khát tìm hiểu về lịch sử dân tộc
đã dẫn đưa chúng tôi đến với chiến dịch Tây Nguyên một trong những
bước ngoặt lớn trong lịch sử đấu tranh giữ nước của Việt Nam chúng ta.
2. Mục đích yêu cầu
Hòa cùng không khí chào mừng 33 năm ngày Miền Nam hoàn toàn giải
phóng thống nhất đất nước, chúng tôi, những sinh viên trường ĐH Công
Nghiệp dưới sự chỉ dẫn nhiệt tình của thầy Nguyễn Minh Tiến Khoa Mác
Lênin đã nghiên cứu đề tài này nhằm trang bị cho chúng tôi vốn kiến thức
về lịch sử dân tộc và phát huy truyền thống yêu nước, đoàn kết của nhân
dân ta.
3. Nội dung đề tài
Tây Nguyên là một địa bàn chiến lược hết quan trọng, mà cả ta và địch đều
cố gắng nắm giữ. Nhưng do nhận định sai lầm hướng tiến công của quân ta,
địch chốt giữ ở đây một lực lượng mỏng, bố phòng có nhiều cơ sở. Căn cứ
vào đó, Hội nghị Bộ Chính trị tháng 10-1974, quyết định chọn Tây
2
Nguyên làm hướng tiến công chủ yếu trong năm 1975, mở chiến dịch quy
mô lớn ở Tây Nguyên với trận then chốt mở màn Buôn Mê Thuột.Quân
bên cạnhcác sư đoàn 320, 10, và 968 hiện đóng sẵn ở Tây Nguyên, cuối
tháng 12 năm 1974, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam điều
thêm 316 lên Tây Nguyên, đưa lực lượng của họ tại đây lên bốn sư đoàn, và
các lữ đoàn, trung đoàn độc lập của bộ binh, pháo binh, thiết giáp, đặc
công, phòng không, công binh Và chưa kể sư đoàn 3 của quân khu 5 tại
Bình Địnhđánh chia cắt đường 19 và tấn công sư đoàn 22 Quân lực Việt
Nam Cộng hòa (QLVNCH) không cho ứng cứu để phục vụ trực tiếp chiến
dịch này.Tại Tây Nguyên, lực lượng phòng thủ của VNCH gồm có Sư đoàn
23 Bộ binh Việt Nam Cộng hòa (gồm 3 trung đoàn 44, 45, 53), bảy liên
đoàn biệt động quân (tương đương 10 trung đoàn), 4 thiết đoàn, 1 sư đoàn
không quân số 6, ngoài ra còn các tiểu đoàn bảo an đồn trú. Do phán đoán
sai, cho rằng vùng Bắc Tây Nguyên là nơi sẽ bị đánh đầu tiên, nên hầu hết
lực lượng của họ bố trí tại bắc phần Tây Nguyên để bảo vệ các thị xã Pleiku
và Kon Tum trong khi Nam phần với thị xã Ban Mê Thuột có vai trò trụ cột
phòng thủ Tây Nguyên lại chỉ có sở chỉ huy Sư đoàn 23, một trung đoàn số
53, 3 liên đoàn bảo an, và một liên đoàn biệt động quân số 21.ính trên toàn
mặt trận Tây Nguyên, so với lực lượng QLVNCH, lực lượng bộ binh
QĐNDVN không hơn nhiều. Nhưng do phần lớn quân phòng thủ chốt tại
phía Bắc trong khi quân tấn công tập trung ở phía Nam, nên tại điểm quyết
chiến Ban Mê Thuột, ưu thế của quân tấn công so với quân phòng thủ có tỉ
lệ áp đảo: bộ binh 5:1, thiết giáp 2:1, pháo lớn 2:1
[2]
, cho họ khả năng thắng
lợi chớp nhoáng không cho phép địch cầm cự lâu dài chờ quân phản kích
ứng cứu. Và thực tế đã diễn ra như vậy.
2.1.2. Bố trí lực lượng trên chiến trường
4
Kể đến là kế hoạch chuẩn bị trực-tiếp được tiến hàng vào ngày 21 tháng 1
năm 1975. Trong phần này, Bộ Tư Lệnh Chiến Dịch hoàn chỉnh thêm vài
bước khác như tiếp tục các hoạt động nghi binh và tái phối trí các đơn vị
tác hại nhất cho quân đội Nam Việt Nam" (quân nguỵ). Sau trận diệt chi
khu quân sự và quận lỵ Thuần Mẫn thuộc Phú Bổn (ngày 8-3) nằm trên
đường 14 ở quãng giữa Plây Cu và Buôn Mê Thuột, địch phán đoán rằng
đối phương sẽ đánh Plây Cu. Những ngày này các chiến sĩ pháo binh tới tấp
giội bão lửa xuống sân bay Cù Hanh nằm trong thị xã Plây Cu. Địch vội
vàng điều phần lớn sư đoàn 23 từ Buôn Mê Thuột lên, cùng các liên đoàn
quân biệt động, các trung đoàn thiết giáp hình thành một vành đai bảo vệ
quanh Plây Cu, nơi đặt sở chỉ huy của quân đoàn 2.Trong lúc địch đang tập
trung quân bảo vệ Plây Cu thì sáng ngày 10-3, quân và dân Tây Nguyên bất
thần tiến công và nổi dậy ở thị xã Buôn Mê Thuột. Sau hai ngày chiến đấu,
đã nhanh chóng tiêu diệt các cǎn cứ quân sự địch và làm chủ hoàn toàn thị
xã Buôn Mê Thuột.Chiến thắng Buôn Mê Thuột thể hiện sự chỉ đạo tác
chiến rất tài giỏi. Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng đã
buộc địch phải tập trung lực lượng về để bảo vệ khu vực Plây Cu, điều sư
đoàn 23 là sư đoàn chủ lực duy nhất ở Tây Nguyên rời khỏi Buôn Mê
Thuột, tạo nên sơ hở lớn ở đây.
Trận thắng tiêu diệt địch giải phóng Buôn Mê Thuột là đòn hiểm đúng
huyệt, làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng thủ Tây Nguyên, khiến cho
quân địch hết sức bất ngờ choáng váng, thế trận bị đảo lộn dẫn đến sụp đổ
nhanh chóng.
2.2.2. Đập tan cuộc phản kích tiêu diệt sư đoàn 23 ngụy.
Mất Buôn Mê Thuột. Địch hoang mang hoảng hốt. Mỹ - Thiệu lệnh cho
Phạm Vǎn Phú phải lấy lại Buôn Mê Thuột. Chúng cấp tốc đẩy sư đoàn 23
6
từ Plây Cu xuống Đắc Lắc, tǎng cường thêm trung đoàn thiết giáp số 8, liên
đoàn biệt động số 22. liên đoàn bảo an số 926 cùng nhiều tiểu đoàn bảo an
khác. Chúng chọn Phước An trên đường 21 cách Buôn Mê Thuột 40km về
phía đông làm bàn đạp phản kích. Buôn Mê Thuột đã về tay cách mạng mà
đài Sài Gòn vẫn ra rả :" Cuộc chiến đấu còn tiếp diễn trên đường phố". Đây
vừa là đòn tâm lý vừa là mưu đồ tái chiếm Buôn Mê Thuột của Mỹ -
cuộc chiến tranh Việt Nam", " Sự kiện rút chạy này chắc chắn sẽ ảnh hưởng
sâu sắc đến tinh thần vốn đã thấp kém của quân (nguỵ) Nam Việt
Nam".Một lần nữa, bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang giải phóng đã nắm
chắc ý đồ địch "bỏ Tây Nguyên". Một số đơn vị đã được lệnh gấp rút hành
quân chặn đánh địch. Thế là cuộc chiến đấu đánh địch tháo chạy trên đường
số 7 đã diễn ra quyết liệt, liên tục trong 7 ngày từ 17 đến 23-3-1975, từ Hậu
Bổn đến Phú Túc. Các lượng vũ trang nhân dân giải phóng diệt và làm tan
rã hơn 7.000 tên, thu 740 xe quân sự và gần 100 đại bác.Đây là một trận
đánh tiêu diệt địch trên đường giao thông quy mô lớn, phạm vi rộng, Các
đơn vị lực lượng vũ trang giải phóng nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh
của Bộ chỉ huy, nhanh chóng vận động chặn đánh địch rút chạy. Các đơn vị
đã xé đội hình chúng ra thành từng mảng để tiêu diệt. Thừa thắng, các
chiến sĩ giải phóng diệt cả bọn địch ở thị xã Hậu Bổn, hỗ trợ nhân dân nổi
dậy giải phóng toàn bộ tỉnh Phú Bổn.Địch hy vọng tháo chạy để bảo toàn
lực lượng nhưng không thoát. Kế hoạch rút quân Tây Nguyên về co cụm ở
ven biển miền Trung bị đập vỡ. Cuộc rút lui chiến lược mà Nguyễn Vǎn
Thiệu gọi là "di tản chiến thuật" đã biến thành một cuộc tháo chạy hoảng
loạn, dẫn tới một kết quả bi thảm là toàn bộ lực lượng quân nguỵ ở Tây
Nguyên bị tiêu diệt và tan rã.Quân và dân Tây Nguyên đã phát huy truyền
thống cách mạng kiên cường, bất khuất, đồng loạt tiến công và nổi dậy
mạnh mẽ, đã quét sạch toàn bộ lực lượng quân sự, đập tan bộ máy kìm kẹp
8
của địch giải phóng hoàn toàn 4 tỉnh Công Tum, Plây Cu, Đắc Lắc, Phú
Bổn với hơn 60 vạn đồng bào các dân tộc. Quân và dân Tây Nguyên đã loại
khỏi vòng chiến đấu gần 12 vạn tên địch, tiêu diệt sư đoàn bộ binh số 23, 5
liên đoàn quân biệt động, 4 trung đoàn thiết giáp, 8 tiểu đoàn pháo; diệt và
làm tan rã 3 liên đoàn, 24 tiểu đoàn bảo an, 485 trung đội dân vệ, thu 1.250
xe quân sự, 110 đại bác, hàng vạn tấn vũ khí, đạn được và phương tiện
chiến tranh.
2.3. Bước ngoặc phản chiến 1975.
đang phong toả đường 14 đuổi theo. Bộ phận đi đầu của đơn vị này chạy
đua, tắt núi đón đầu và kịp chặn đường tại bên ngoài thị xã Cheo Reo tỉnh
Phú Bổn. Chỉ một lực lượng rất nhỏ quân Ngụy quân đi thoát còn toàn bộ
đoàn quân và dân chạy nạn đã bị tan rã không tổ chức lại được nữa.Kế
hoạch di tản của Ngụy quân đã không cứu được lực lượng quân bố phòng
Tây Nguyên, Tây Nguyên mất vào tay quân GPMN mà đặc biệt nó làm
thành làn sóng hoảng loạn lan khắp mọi nơi làm tan rã tinh thần các binh sĩ
trên toàn quốc. Quân đội Ngụy quân bắt đầu tan rã nhanh chóng và sụp đổ.
Tóm lại, chiến dịch Tây Nguyên kết thúc thắng lợi tạo điều kiện cho
quân và dân ta thừa thắng xông lên, chiến dịch nối tiếp chiến dịch. Sau
chiến dịch Tây Nguyên là đến chiến dịch huế - Đà Nẵng và cuối cùng là
chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nh6n dân ta quyết tâm giải phóng miền
Nam thồng nhất đất nước trong mùa xuân này ( mùa Xuân năm 1975).
3.Kết quả và ý nghĩa lịch sử
3.1.Kết quả:
Kết quả, ta đã gây thiệt hại và làm tan rã Quân Ðoàn 2/Quân Khu 2 của
Việt Nam Cộng Hòa cùng một bộ phận cơ-động chiến lược của họ. Ta tiêu
diệt Sư Ðoàn 22 và 23, Lữ Ðoàn 3 Nhảy Dù, 8 liên đoàn Biệt Ðộng Quân,
10
một liên đoàn công binh, 4 thiết đoàn thiết giáp, 10 tiểu đoàn pháo binh,
đánh thiệt hại nặng Sư Ðoàn 6 Không Quân, gây thiệt hại và làm tan rã 7
tiểu khu, 26 chi khu, 50 tiểu đoàn và 51 đại đội Bảo An cùng toàn bộ lực
lượng cảnh sát, dân vệ và phòng vệ dân sự trong 7 tỉnh. Loại khỏi vòng
chiến đấu hơn 20,000 lính VNCH, thu và phá hủy 154 máy bay, 1,096 xe,
17,188 khẩu súng cùng toàn bộ các cơ sở hậu cần kỹ thuật của địch ở Tây
Nguyên. Ta chiếm được 5 tỉnh: Kontum, Gia Lai, Darlac, Phú Bổn, và
Quảng Đức.
3.2. Nguyên nhân thắng lợi
• Chiến thắng Tây Nguyên - Sức mạnh của tinh thần đoàn kết quân dân
đoàn kết dân tộc:
cho lực lượng cách mạng từng nước ở Đông Dương.
• Cuộc kháng chiến của nhân dân ta được sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn,
có hiệu quả của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa
khác, lại được sự đồng tình và ủng hộ mạnh mẽ của phong trào giải
phóng dân tộc.
• Sự lãnh đạo tài tình của Đảng và nhà nước .Kết hợp với cách đánh
phối hợp trong lẫn ngoài của quân ta .
• Đó là toàn bộ những nhân tố tạo sức mạnh, bảo đảm cho cuộc kháng
chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đi đến thắng lợi hoàn toàn.
3.3.Ý nghĩa lịch sử
Thắng lợi rất to lớn của Tây Nguyên là thắng lợi của sự chỉ đạo chiến lược,
chiến dịch rất tài tình sáng tạo; thể hiện chất lượng chiến đấu cao, sức mạnh
chiến đấu lớn của các lực lượng vũ trang giải phóng; là thắng lợi của cả 3
12
mũi tiến công quân sự, nổi dậy của quần chúng và vận động binh sĩ địch; là
kết quả của sự hiệp đồng chặt chẽ giữa các hướng trong chiến dịch. Chiến
thắng Tây Nguyên mở ra một cục diện hết sức tốt đẹp tạo nên thời cơ mới
vô cùng thuận lợi cho quân và dân miền Nam xốc tới tiến công và nổi dậy
thần tốc, mãnh liệt liên tiếp tiêu diệt các lực lượng sừng sỏ của địch, giải
phóng toàn bộ vùng đồng bằng ven biển chiến lược miền Trung, lập nên
thắng lợi cực kỳ to lớn của miền Nam anh hùng.
C – KẾT LUẬN
1. Kết quả nghiên cứu :
• Hiểu được quá trình đấu tranh giành chính quyền của nhân dân
dưới sự lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn qua đó ra được nguyên
nhân thắng lợi,bài học kinh nghiệm cho Đảng từng bước lớn
mạnh đồng thời cũng rút ra được kinh nghiệm ,bài học của bản
thân trong thời kì mới .
• Thấy được sự gian nan vất vả ,sự hi sinh to lớn của ông ta cha để
làm nên những trang sử hào hùng cho tổ quốc ,làm cho bản thân
Phụ lục 2 : Bước ngoặc phản chiến 1975 (http://vi.wikipedia.org)
15
Phụ lục 3: Trực thăng vũ trang với hỏa tiễn TOW ở Pleiku năm 1972
(http://vi.wikipedia.org)
Phụ lục 4: xe quân đội và xe thường dân chen chúc di tản từ Tây Nguyên về Tuy Hòa
ở vùng duyên hải. (http://vietnam.ictglobal.net)
16
Phụ lục 5 : Xe địch bị ta tiêu diệt ở Thạnh Hội (Sơn Hòa), tháng 3/1975 – Ảnh: TƯ
LIỆU (http://www.baophuyen.com.vn)
Phụ lục 6: Binh sĩ sư đoàn 18 bắn cháy xe tăng của quân giải phóng ngày 11/4 giai
đoạn đầu trận Xuân Lộc năm 1975 (http://vi.wikipedia.org)
17
Phụ Lục 7: Du kích miền Nam diệt địch,thu xe bọc thép (http://hanoi.vnn.vn)
Phụ lục 8: phản lực cơ F-100 Supersabre trên vùng trời Tuy Hòa
Nguồn : http://vietnam.ictglobal.net
18
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
Lịch sử Đảng công sản Việt Nam – Bộ Giáo Dục và Đào Tạo –
NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2005.
Võ Nguyên Giáp . Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng miền
Nam, thống nhất đất nước . Nhà xuất bản quân đội nhân dân
Thông tin, tranh ảnh qua mạng Internet:
http://vietnam.ictglobal.net
http://hanoi.vnn.vn
http://vietbao.vn/Phong-su
http://www.baophuyen.com.vn
http://vi.wikipedia.org
19