Tài liệu Đề tài " Đánh giá tình hình thu hút FDI vào các khu công nghiệp, khu chế xuất tại Việt Nam" - Pdf 96

Bài tập chuyên đề
Môn đầu tư nước ngoài và chuyển giao công nghệ
Đề tài: Đánh giá tình hình thu hút FDI vào các khu công nghiệp, khu chế
xuất tại Việt Nam
Lời mở đầu
Hiện nay xu thế toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ, quá trình này diễn ra
trên mọi mặt của đời sống xã hội, từ kinh tế, văn hoá, chính trị, giáo dục…
Trong đó, sự thay đổi rõ rệt nhất là trong đời sống kinh tế nước ta.
Trong những năm gần đây đặc biệt là từ sau khi nước ta giai nhập tổ chức
thương mại thế giới WTO thì nền kinh tế nước ta đã có nhiều biến chuyển.
Cụ thể là trong hoạt động thu hút vốn FDI từ nước ngoài đã tăng trưởng một
cách rõ rệt. Để có những kết quả đó là do những nỗ lực không ngừng của
chính phủ Việt Nam trong xây dựng cơ sở hạ tầng, sửa đổi hệ thống chính
sách phù hợp với thực tế, tạo môi trường tốt nhất cho các nhà đầu tư nước
ngoài vào nước ta đầu tư.
Việc thu hút vốn vào nước ta được thực hiện thông qua quá trình tiến hành
đầu tư xây dựng các nhà máy sản xuất chế biến tại các khu công nghiệp, khu
chế xuất. Từ năm 1991 đến nay chúng ta đã tiến hành đầu tư phát triển các
khu công nghiệp, tạo điều kiện vật chất cơ sở hạ tầng tốt nhất cho các nhà
đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào nước ta. Đến nay tính chung cả nước có
tổng cộng gần 150 khu công nghiệp khu chế xuất trên cả nước trong đó tập
trung chủ yếu tại khu vực đông nam bộ, nam trung bộ và đồng bằng châu thổ
Sông Hồng…
Việc thu hút FDI thông qua các khu công nghiệp, khu chế xuất đã mang lại
những kết quả đáng kể cho việc phát triển kinh tế nước ta, song bên cạnh đó
còn có những vấn đề tồn tại… Trong bài nghiên cứu này nhóm nghiên cứu
tiến hành đánh giá tổng quát quá trình phát triển của các khu công nghiệp
khu chế xuất tại Việt Nam và tình hình thu hút vốn FDI vào các khu công
nghiệp, khu chế xuất trong những năm gần đây, đặc bbiẹt là từ năm 2000
đến nay.
Để hoàn thành đề tài này nhóm nghiên cứu có sử dụng các số liệu của Cục

o Khu công nghệ sinh học
o Khu công nghệ sinh thái
Trong phần này giới thiệu hai loại hình đang phổ cập ở Việt Nam, đó là khu
chế xuất và khu công nghiệp.
2. Khu chế xuất
2.1 Các quan điểm về khu chế xuất
Theo quan niệm của hiệp hội khu chế xuất thế giới WEPZA (World Export
Processing Zone Asssociation), khu chế xuát bao gồm tất cả các khu vực
được chính phủ nước sở tại cho phép chuyên môn hóa hoạt động sản xuất
công nghiệp chủ yếu vào mục đích xuất khẩu đó là khu vực biệt lập có chế
độ mậu dịch và thuế quan riêng, không phụ thuộc vào chế độ mậu dịch và
thuế quan phổ thông ở nước đó. Theo quan niệm này, khu chế xuất bao gồm
Cảng tự do, Đặc khu kinh tế, các khu vực ngoại thương. Theo cá tổ chức
phát triển công nghiệp của Liên Hợp Quốc UNIDO (United Nations
Industrial Development Organization) thì khu chế xuất được hiểu là: là một
khu vực tương đối nhỏ, có phân cách địa lý trong một quốc gia, nhằm mục
tiêu thu hút các doanh nghiệp (chủ yếu là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài) hướng về xuất khẩu, bằng cách cung cấp cho các doanh nghiệp những
điều kiện về đầu tư và mậu dịch đặc biệt thuận lợi hơn so với phần lãnh thổ
còn lại của nước chủ nhà. Đặc biệt, khu chế xuất cho phép nhập khẩu hàng
hóa cho mục tiêu sản xuất hàng xuất khẩu miễn thuế.
2.2 Đặc điểm của khu chế xuất
o Khu chế xuất là khu vực có hàng rào ngăn cách với cấc khu vực
khác.
o Mục đích hoạt động của khu chế xuất là để thu hút các doanh
nghiệp nước ngoài và trong nước sản xuất theo định hướng sản
xuất hàng xuất khẩu bằng những chính sách ưu đãi đặc biệt về
thuế quan và các điều kiện mậu dịch khác.
o Hàng hóa, tư liệu sản xuất nhập vào các khu chế xuất để sản
xuất hàng xuất khẩu được miễn thuế hải quan. Hoạt động trao

Khu chế xuất, khu công nghiệp là những mô hình đã phát triển từ lâu song
việc hình thành các khu chế xuất, khu công nghiệp như là một công cụ để
thu hút đầu tư trực tiép nước ngoài với mục tiêu khuyến khích sản xuất hàng
xuất khẩu thì mới phát triển trong vài thập niên gần đây. Nói chung, đây là
những hình thức tổ chức có cơ chế pháp lý đơn giản, rõ ràng và được quy
định riêng trong các quy chế khu chế xuất, khu công nghiệp, đảm bảo quyền
lợi của nhà đầu tư.
II. Vai trò của khu công nghiệp và khu chế xuất tại Việt Nam

Trong phần này nhóm nghiên cứu xin đề cập tới những vai trò chính của khu
công nghiệp và khu chế xuất đối với nền kinh tế, đặc biệt là trong việc thu
hút vốn FDI cho việc phát triển kinh tế

1. Vai trò thu hút vốn đầu tư từ các nhà đầu tư nước ngoài
Hiện nay chúng ta thấy rằng nhà nước đang xây dựng chiến lược phát triển
các khu công nghiệp, khu chế xuất vơéi mục tiêu thu hút hơn nữa vốn FDI tư
nước ngoài. Đặc biệt là từ khi nước ta chính thức gia nhập vào tổ chức kinh
tế thế giới WTO. Bắt đầu từ thời kì này nước ta có sự gia tăng lớn về vốn
FDI, việc thành lập các khu công nghiệp là cơ sở cho việc kêu gọi đầu tư của
nước ta.
Phần lớn số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam năm 2006
đã chảy vào vùng trũng là các khu công nghiệp trên cả nước.
Dự báo, với Quy hoạch phát triển các khu công nghiệp đến năm 2015 và
định hướng đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, các khu
công nghiệp sẽ là tâm điểm hút nguồn vốn FDI, dự kiến đạt khoảng 6 tỷ
USD/năm.
Con số cuối cùng về thu hút FDI trong năm 2006, theo công bố của Bộ Kế
hoạch và Đầu tư, vào khoảng 10 tỷ USD, trong đó vốn cấp mới là 7,5 tỷ
USD, còn lại là vốn đăng ký bổ sung. Và trong tổng vốn đăng ký cấp mới
cho 797 dự án, riêng các khu công nghiệp và khu chế xuất trong cả nước đã

Nhiều ý kiến cũng cho rằng với việc Việt Nam trở thành thành viên Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO), sẽ có nhiều cơ hội hơn được tạo ra cho nhà
đầu tư nước ngoài, nhờ đó các khu công nghiệp càng trở nên hấp dẫn hơn,
làn sóng đầu tư nước ngoài sẽ gia tăng mạnh cả về nguồn vốn, công nghệ, và
kinh nghiệm quản lý.
Không chỉ thu hút vốn trực tiếp, sắp tới, với việc lên sàn giao dịch chứng
khoán, các khu công nghiệp còn có thế mạnh thu hút nguồn vốn đầu tư gián
tiếp của nhà đầu tư cả trong và ngoài nước.
Các khu công nghiệp phía Nam của các địa phương: Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình
Dương, Tp.HCM, và Đồng Nai vẫn là những đơn vị thu hút nhiều vốn đầu tư
nước ngoài nhất của cả nước, với 205 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký
trên 2,9 tỷ USD, chiếm 73% số dự án và 76% số vốn thu hút mới trong các
khu công nghiệp trên cả nước (tính trong 11 tháng đầu năm). Những tỉnh,
thành phố này cũng thuộc diện danh sách các địa phương thu hút trên 100
triệu USD trong năm 2006.
2.Nâng cao trình độ công nghệ, hiện đại hóa cách thức quản lý sản xuất
KCN, KCX là khu vực có những điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng cùng
với nhiều chính sách ưu đãi đầu tư được áp dụng. Đây chính là điểm đến lý
tưởng của các nhà đầu tư, trong đó có đầu tư nước ngoài. Một số công nghệ
tiên tiến, hiện đại trên thế giới cùng trình độ quản lý cao của đội ngũ cán bộ
doanh nghiệp, trình độ tay nghề của công nhân theo các chuẩn mực quốc tế
đã được áp dụng tại Việt Nam. Đây cũng là những nhân tố quan trọng góp
phần để nước ta thực hiện việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
KCN là nơi tiếp nhận công nghệ mới, tập trung những ngành nghề mới, góp
phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH. Cùng với dòng
vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào các dự án sản xuất kinh doanh trong KCN,
các nhà đầu tư còn đưa vào Việt Nam những dây chuyền sản xuất với công
nghệ tiên tiến, hiện đại, trong đó có cả những dự án công nghiệp kỹ thuật
cao (phần lớn của Nhật Bản), như Công ty TNHH Canon Việt Nam,
Mabuchi Motor, Orion Hanel…, những lĩnh vực mà chúng ta còn yếu kém

KCN đang hoạt động đạt khoảng 71,4% diện tích đất có thể cho thuê. Theo
số liệu của Đề cương Hội nghị gửi kèm công văn số 104/BKH-KCN&KCX
ngày 23/2/2006 của Bộ KH&ĐT.
Về thu hút đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cả nước hiện đã có khoảng 130 dự
án xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng KCN.
Việc phát triển các KCN trong thời gian qua không những thúc đẩy các
ngành dịch vụ phát triển, thúc đẩy CNH – HĐH nông nghiệp nông thôn, mà
còn đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, góp phần đáng kể vào việc hiện đại hóa hệ
thống kết cấu hạ tầng trong và ngoài KCN. Điều này được thể hiện qua một
số khía cạnh sau:
- Đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng các KCN có tác dụng kích thích sự
phát triển kinh tế địa phương, góp phần rút ngắn sự chênh lệch phát triển
giữa nông thôn và thành thị, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân
dân. Điều này có thể dễ dàng nhận nhất ở những vùng có KCN phát triển
mạnh như Biên Hòa, Nhơn Trạch (Đồng Nai), Thuận An (Bình Dương),
Tiên Sơn (Bắc Ninh)… cùng với quá trình phát triển KCN, các điều kiện về
kỹ thuật hạ tầng trong khu vực đã được cải thiện đáng kể, nhu cầu về các
dịch vụ gia tăng, góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh cho các cơ sở dịch
vụ trong vùng.
- Cùng với các chính sách ưu đãi về tài chính và công tác quản lý thuận lợi
của nhà nước, có thể nói việc thu hút nguồn vốn để đầu tư xây dựng hoàn
thiện và đồng bộ các kết cấu hạ tầng trong KCN có vai trò quyết định trong
việc thu hút đầu tư. Việc các doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế
(doanh nghiệp quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh
nghiệp ngoài quốc doanh) tham gia đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng KCN
không những tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong KCN hoạt
động hiệu quả, mà còn tạo sự đa dạng hóa thành phần doanh nghiệp tham
gia xúc tiến đầu tư góp phần tạo sự hấp dẫn trong việc thu hút doanh nghiệp
công nghiệp vào KCN.
- Việc đầu tư hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật trong KCN không những thu hút

lien quan quản lý theo chức năng(bộ Xây dựng quản lý về cơ sở hạ tầng kỹ
thuật, bộ Tài nguyên mối trường quản lý về việc xử lý chất thải…), tiếp sau
là các ban quản lý khu công nghiệp chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý các
doanh nghiệp và báo cáo kết quả cho các cơ quan lien quan.
Đánh giá mô hình quản lý nhà nước đối với khu chế xuất và khu cồng
nghiệp tại Việt Nam ta có thể thông qua sơ đồ sau:
Quản lý nhà nước Quản lý địa
phương
Bộ
công
nghiệp
Bộ
xây
dựng
Bộ
khoa
học
công
nghệ

môi
trường
Bộ
thương
mại
Ban
tổ
chức
cán
bộ


Xây
dưng
quy
hoạch
tổng
thể
phát
triển
kinh
tế xã
hội
Ban
hành
điều lệ
quản
lý khu
công
nghiệp
Xác
định
các
laọi
hình
công
nghiệp
Phê
duyệt
quy
hoach

nhập
khẩu
Bộ
máy
nhân
sự của
Ban
quản

công
nghiệp
cấp
tỉnhChính sách của nhà nước tác động quan trọng đến sụ phát triẻn khu
công nghiệp, khu chế xuất cần không ngừng hoàn thiện các chính sách
Đẩy mạnh chuyển từ công tác quản lý hành chính sang công tác dịch
vụ theo cơ chế một cửa trong quản lý phát triển các khu công nghiệp. Cải
cách hành chính và công nghệ thông tin trong quản lý, đảm bảo quản lý
thống nhất các khu công nghiệp.
Ngoài ra cần từ bỏ quản điểm nới lỏng đầu vào quản lý chặt đầu ra,
hậu kiểm thay thế tiền kiểm như các nhà đầu tư nước ngoài từng nói: ”VIệt
Nam chỉ khuyến khích đầu tư mà không khuyến khích sản xuất”.
Chính sách ưu đãi các nhà đầu tư trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng
các khu công nghiệp, khu chế xuất: giá thuế đắt, thuế(thuế lợi nhuận trong
nước là 15%, nước ngoài là 10%) hỗ trợ vốn, lãi suất ưu đãi.
Chính sách phát triển cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào đầu mối với các
khu công nghiệp phát triển công trình xã hội phục vụ cho phát triển các khu
công nghiệp.

Đối với một số địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt
khó khăn, Thủ tướng Chính phủ quy định các điều kiện, nguyên tắc, hạn
mức và hạng mục công trình được hỗ trợ từ ngân sách trung ương cho địa
phương để cùng nhà đầu tư xây dựng phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ
thuật trong hàng rào KCN, KCX. UBND cấp tỉnh cân đối nguồn ngân sách
địa phương để hỗ trợ nhà đầu tư đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng
kỹ thuật trong hàng rào KCN, KCX.
Việc hỗ trợ hạ tầng trong hàng rào KCN đã được triển khai trong thực tiễn
thực hiện Quyết định số 183/2004/QĐ-TTg ngày 19/10/2004 của Thủ tướng
Chính phủ về cơ chế hỗ trợ vốn ngân sách trung ương để đầu tư xây dựng
kết cấu hạ tầng kỹ thuật KCN tại các địa phương có điều kiện kinh tế – xã
hội khó khăn. Hằng năm, Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Bộ Tài chính
và các địa phương bố trí nguồn vốn ngân sách trung ương hỗ trợ cho xây
dựng cơ sở hạ tầng KCN của các địa phương. Trong 3 năm 2005-2007, tổng
nguồn vốn cho mục tiêu là 1.200 tỷ đồng; tổng kinh phí khuyến công như
báo cáo là 1.002,539 tỷ đồng.
Nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách trung ương đã giải quyết một phần khó khăn
cho các địa phương trong việc huy động nguồn vốn xây dựng hạ tầng KCN.
Các KCN được hỗ trợ đã có những kết quả tích cực trong xây dựng kết cấu
hạ tầng và thu hút đầu tư
Nhờ nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách trung ương và nỗ lực của các địa
phương, một số KCN mới thành lập và đang xây dựng cơ sở hạ tầng chưa
được hỗ trợ nay đã hoàn thành cơ bản hệ thống kết cấu hạ tầng và đi vào vận
hành như: Hòa Xá (Nam Định), Đình Trám (Bắc Giang), Thụy Vân (Phú
Thọ), Đồng Văn I (Hà Nam), Nguyễn Đức Cảnh (Thái Bình), Phú Bài (Thừa
Thiên - Huế), Điện Nam - Điện Ngọc (Quảng Nam), Phú Tài (Bình Định),
Hòa Hiệp (Phú Yên), Mỹ Tho (Tiền Giang). Và do hoàn thành cơ bản hệ
thống kết cấu hạ tầng, nhiều KCN ở địa bàn có điều kiện khó khăn đã bắt
đầu thu hút đầu tư. Các KCN ở các địa bàn này đã có đóng góp vào tăng
trưởng công nghiệp của địa phương, nhất là đã kích thích các thành phần

doanh nghiệp KCN; chức năng nhiệm vụ của Ban quản lý KCN được xác
định rõ ràng trong các văn bản pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp, đất đai vì
vậy công tác tổ chức quản lý và vận hành KCN rõ ràng tạo điều kiện thuận
lợi cho doanh nghiệp công nghiệp hoạt động.
Thuận lợi về cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, tính đồng bộ và sẵn có
của hệ thống kết cấu hạ tầng là các điểm đặc thù, thể hiện tính khuyến khích
cao của hệ thống KCN trong thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp. Có thể
nói rằng, vai trò của KCN trong công tác khuyến công đã được khẳng định
rõ qua kết quả thực tế thu hút đầu tư và đóng góp của KCN vào phát triển
công nghiệp địa phương và cả nước trong thời gian qua.
Chương II
Thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu chế xuất khu
công nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2000 đến nay
Trong chương này nhóm nghiên cứu xin đề cập đến tình hình thu hút FDI vào các khu
công nghiệp, khu chế xuất tại Việt Nam. Song có một đièu rất đáng tiềc là số liệu của
một số phần không có sự cập nhạt kịp thời đặc biệt là trong 2 năm gần đây khiến cho
tính thực tiễn của đề tài bị giảm sút. Nhóm nghiên cứu sẽ cố gắng khắc phuc nhược điểm
này để bài nghiên cứu hoàn chỉnh hơn
I. Những đánh giá chung trong thu hút vốn đầu tư vào các khu
công nghiệp giai đoạn 2000 đến nay
Sau 15 năm xây dựng và phát triển, với những chính sách ưu đãi, cơ
sở hạ tầng quốc gia đã được cải thiện nâng cấp và thủ tục đầu tư đơn giản
hơn so với bên ngoài, các KCN Việt Nam đã thực sự hấp dẫn các nhà đầu tư
trong và ngoài nước. Các doanh nghiệp đầu tư vào KCN thuộc đủ mọi thành
phần kinh tế, bao gồm doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc
doanh, và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đầu tư vào KCN bao
gồm các lĩnh vực như xây dựng cơ sở hạ tầng KCN, sản xuất công nghiệp và
dịch vụ sản xuất công nghiệp.
Ngoài các dự án đầu tư và kinh doanh cơ sở hạ tầng KCN. Tính đến
tháng 12 năm 2005, các KCN của cả nước đã thu hút được trên 4.400 dự án

nghiệp 100% vốn ĐTNN với hơn 1.200 dự án, chiếm 87% số dự án có vốn
ĐTNN vào KCN. Doanh nghiệp liên doanh trong KCN chỉ với con số
khoảng 200 dự án đạt tỷ lệ 13% về số dự án.
Số dự án và vốn đầu tư nước ngoài vào KCN tăng qua các năm, thể
hiện ở bảng 8:
Bảng 2: Tình hình thu hút dự án đầu tư nước ngoài vào KCN - KCX
theo các năm
T
T
Năm KHU CÔNG NGHIỆP KHU CHẾ XUẤT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI CẢ
NƯỚC
Số dự
án
Vốn
(Tr.USD)
Số dự án Vốn
(Tr.USD)
Số dự án Vốn
(Tr.USD)
1 2000
Tỷ lệ %
154
41
475
24
5
1,3
28,9
1,4
371

100
4 2003
Tỷ lệ %
179
24
1.517
80
4
0,5
15,1
0,7
752
100
1.900
100
5 Đến
31/12/2005
Tỷ lệ %
2.202
46,8
17.600
40,7
192
4,1
1.004
2,3
4.701
100
43.200
100

vùng lãnh thổ Châu Á gồm: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore,
Hồng Kông, Thái Lan, Malaysia đã chiếm gần 80% trên tổng số các dự án
có vốn ĐTNN vào KCN. 10 nước và vùng lãnh thổ đứng đầu về đầu tư vào
KCN tại Việt Nam
Bảng 4: 10 nước, vùng lãnh thổ đứng đầu về đầu tư vào KCN.
TT Nước, Vùng lãnh thổ Số dự án Vốn đầu tư
(Tr.USD)
1 Đài Loan 425 2.124,06
2 Nhật Bản 128 1.530,11
3 Hàn Quốc 173 1.493,67
4 Singapore 84 714,68
5 British Virginlslands 49 644,9
6 Hồng Kông 65 502,76
7 Thái Lan 34 418,813
8 Hoa Kỳ 43 371,63
9 Cayman Ilands 4 360,184
10 Malaysia 44 290,364
Cộng 1049 8.451,16
Ta thấy rằng:
Nhìn một cách tổng thế, cơ cấu vốn đầu tư vào KCN theo các quốc gia
hiện nay là chưa cân đối.
+ Đài Loan là nước đứng đầu về đầu tư vào KCN Việt Nam cả về số
dự án và vốn đầu tư (với 425 dự án và 2.124,06 triệu USD).
+ Trong khi Nhật Bản và các nước công nghiệp Châu Á chiếm vị trí
chủ đạo bởi số lượng vốn đầu tư và số dự án áp đảo thì các nước Châu Âu và
Bắc Mỹ, những nước có công nghệ nguồn thì vai trò rất mờ nhạt. Đây là vấn
đề bức xúc được đặt ra đối với công tác xúc tiến, vận động đầu tư.
+ Đầu tư trực tiếp của Mỹ và các nước ở khu vực Châu Âu còn hạn
chế với 43 dự án của Mỹ, 10 dự án của Australia và 50 dự án của EU…và
đều là những dự án đầu tư vào lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng và dịch vụ

4.5%
0.7%
0.2%
3.8%
0.9%
0.9%
1.4%
Công nghiệp nặng
Công nghiệp dầu khí
Công nghiệp nhẹ
Công nghiệp thực phẩm
Nông - Lâm nghiệp
Thuỷ sản
GTVT-B u điện
Xây dựng
Ytế- Văn hoá- Giáo dục
Dịch vụ ăn uống tại KCN
Xây dựng hạ tầng KCN
28.6%
13.8%
29.6%
7.2%
5.4%
0.7%
2.2%
4.2%
1.0%
0.2%
7.1%
Công nghiệp nặng

6 Đông Nam bộ 1.170 81,6 9.023 78,4
Cộng 1.434 100 11.512,5 100
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Biểu đồ 3: Tỷ lệ % vốn ĐTNN đầu tư vào KCN theo vùng
+ Số lượng dự án và vốn ĐTNN đầu tư vào KCN tập trung chủ yếu
vào KCN miền Đông Nam Bộ (chiếm 81,6% về số dự án và 78,4% về tổng
vốn đầu tư), một mặt nhờ ưu thế về điều kiện hạ tầng kỹ thuật - xã hội của
khu vực, mặt khác do chính sách và các biện pháp tích cực của chính quyền
địa phương trong việc tổ chức thu hút các dự án ĐTNN vào KCN. Ngoài ra
đây là khu vực tập trung nhiều KCN nhất cả nước nên cũng thu hút được
nhiều dự án và vốn ĐTNN nhất.
+ KCN ở vùng Đồng bằng sông Hồng mặc dù có cơ sở hạ tầng kỹ
thuật - xã hội tương đối thuận lợi nhưng thu hút số lượng dự án và vốn
ĐTNN vào KCN không tương xứng (chiếm 8,9% về số dự án và 11,6% về
tổng vốn đầu tư).
+ Các KCN ở Trung du miền núi phía Bắc và Tây Nguyên hiện thu
hút được rất ít các dự án có vốn ĐTNN do môi trường đầu tư của các địa bàn
này khó khăn, mặt khác cơ sở hạ tầng kỹ thuật - xã hộ chưa thuận lợi. Vì
vậy, Nhà nước cần phải có những chính sách thích hợp để giúp cho các địa
bàn này thu hút được các dự án đầu tư có vốn nước ngoài vào KCN.
5. Tình hình thu hút vốn FDI tai KCN, KCX Tân Thuận – Khu công
nghiệp đầu tiên tại Việt Nam
0.9%
0.0%
3.2%
5.9%
11.6%
78.4%
Trung du MN phÝa B¾c
T©y Nguyªn

năm thứ 3 đã có lãi. Công ty Liên doanh đã nộp thuế cho nhà nước tổng
cộng cho đến nay là 5,8 triệu USD:
- Thuế trong xây dựng kinh doanh: 4,65 triệu USD
- Thuế TNDN : 876,19 triệu USD
Ngoài ra, tổng vốn đầu tư xây dựng hạ tầng trong 10 năm qua trên diện tích
300 ha đất của khu chế xuất tạo ra một khối luợng tài sản cho xã hội lên đến
661,3 triệu USD. Nhưng giá trị về mặt thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội tại
vùng Nhà Bè là vô cùng lớn không thể đo bằng con số tài chính. Nơi đây, từ
một vùng đất thấp, nghèo, ngập mặn quanh năm, không ai muốn sở hữu nó,
đã trở thành tấc đất tấc vàng, một vùng đất hứa hẹn nhiều cơ hội, làm giàu
cho các nhà đầu tư. Khi xây dựng KCX Tân Thuận, yêu cầu đầu tiên là thu
hút được nhà đầu tư. Nhưng yêu cầu tiếp theo lớn hơn và lâu dài hơn là khi
có sự hiện diện của KCX rồi thì vùng đất này phát triển như thế nào. Đây
cũng chính là sự khác biệt giữa lợi ích tài chính và lợi ích kinh tế - xã hội
của dự án.
KCX Tân Thuận trong 15 năm qua đã làm được cả hai yêu cầu này. Ngày
nay không ai còn xem Nhà Bè là vùng đất nghèo như năm xưa. Nhà Bè đã
hồi sinh với tiến trình đô thị hoá nhanh chóng, không ai cưỡng lại được. Sự
hồi sinh của Nhà Bè được khơi nguồn từ Khu chế xuất Tân Thuận. Phần đô
thị hóa của vùng Nhà Bè trước đây đã trở thành quận 7; nơi có hai điểm sáng
là thành qủa của TPHCM sau ngày đổi mới .Đó là KCX Tân Thuận và Khu
đô thị mới Phú Mỹ Hưng . Nơi đây còn có tuyến Đại lộ Nguyễn Văn Linh
với lộ giới 120m, dài 17,8km (qua 14 cầu cống ), có lẽ là con đường có lộ
giới rộng nhất Việt Nam hiện nay và được xây dựng với tốc độ nhanh nhất.
Từ những thành quả của 15 năm phát triển, KCX Tân Thuận đã thực sự có
sức lan toả của thời kỳ đổi mới.

* Sức lan toả mạnh mẽ
Khởi đầu từ KCX Tân Thuận, đến cuối năm 2005 cả nước có 130 KCX,
KCN với diện tích tự nhiên là 26.517ha, phân bố rộng khắp trên 45 tỉnh

như hiện nay, đây cũng là tuyến đường vành đai quan trọng của thành phố.
Tuyến đường được xây dựng song song với hướng của Kinh Tế, Kinh Đôi
(hướng Đông Tây, Sài Gòn - Chợ Lớn).
Khu đô thị mới Nam Tp Hồ Chí Minh (Nam Sài Gòn) được qui hoạch dọc
theo tuyến đường Bình Thuận, diện tích là 2.600 ha với sức chứa khoảng
500.000 dân. Khu đô thị này được qui hoạch song song với khu vực nội
thành hiện có (quận 1, quận 4, quận 5, quận 6, quận 8) và cách trục đường
Trần Hưng Đạo khoảng 4 - 5 km. Đây là khu đô thị mới hiện đại phục vụ
cho việc giãn dân thành phố. Với diện tích 2.600 héc ta theo qui hoạch đã
được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, toàn khu được chia làm 21 phân khu
chức năng, gồm các khu trung tâm thương mại - dịch vụ, khu dân cư, khu
sản xuất, khu tập trung phân phối hàng hoá, khu hành chính, y tế, khu thể
thao, công viên, khu giáo dục đào tạo (cả các trường đại học) khu khoa học -
kỹ thuật cao, khu vui chơi giải trí v.v
Khu công nghiệp Hiệp Phước rộng 2.000 héc ta thuộc xã Hiệp Phước, huyện
Nhà Bè, bên cạnh sông Soài Rạp phía Tây giáp tỉnh Long An. Từ trung tâm
thành phố theo hương lộ 34 xuống tới khu công nghiệp Hiệp Phước khoảng
16 km và xuôi dòng sông Soài Rạp ra bờ biển Đông còn khoảng 20km. Theo
dự án, sẽ xây dựng nơi đây một khu công nghiệp cơ bản, với các ngành cần
sử dụng đất rộng, cần bến cảng cho tàu có trọng tải lớn cập bến, có những
mức độ ô nhiễm phải xử lý tập trung như xi mạ, nhuộm, hoá chất, v.v Một
nhà máy nhiệt điện có công suất 375 MW được xây dựng nhằm cung cấp
điện năng cho khu công nghiệp Hiệp Phước và cả vùng phía Nam thành phố
sau này.
Sự mở rộng và lớn mạnh của chuỗi liên hoàn các KCX-KCN đã góp phần
không nhỏ vào sự phát triển công nghiệp của Vùng kinh tế trọng điểm phía
Nam, khẳng định và nâng thêm vị trí, vai trò trung tâm lớn nhất của cả nước
về công nghiệp của Vùng KTTĐ phía Nam mà thành phố Hồ Chí Minh là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status