Tài liệu Bài thuyết trình "Nền kinh tế của những quả cà rốt và cây gậy" - Pdf 96

Kinh Tế Học – Hội Ngộ Ý Chí và Lợi Ích
Bài Thuyết Trình
Nền kinh tế của
những quả cà rốt và
cây gậy
Kinh Văn / Nobel
THÔNG TIN VÀ ĐỘNG CƠ: Nền Kinh Tế của những củ cà rốt và cây gậy
Information and Incentives: Economics of Carrots and Sticks ****
Thuyết trình Nobel, ngày 9 tháng Chín, năm 1996
Tác giả: JAMES A. MIRRLEES
BÀN TAY VÔ HÌNH
Trong một công trình nghiên cứu chủ yếu bàn về vấn đề sự thiếu hiểu biết, chúng ta hãy
bắt đầu nói về những đóng góp to lớn của Adam Smith đối với khoa học kinh tế, tầm
nhìn của ông về những con người ích kỷ độc lập, những người sống và làm việc với
nhau trong một hệ thống kinh tế, bằng cách nào đó họ đã làm điều tốt nhất cho người
nhau. trước hết, trong tác phẩm Lý thuyết về Tình cảm Đạo đức (The Theory of Moral
Sentiments), ông đã nói:
Người giàu chỉ lựa chọn những thứ quý giá và đáng yêu. Họ tiêu dùng nhiều hơn người
nghèo một ít, và mặc dù sự ích kỷ và tham lam của họ họ phân chia với người nghèo
những thành quả trong tất cả sự tiến bộ của họ. Họ bị điều chỉnh bởi một bàn tay vô hình
để tạo nên một sự đóng góp tương tự về những nhu yếu của cuộc sống, cùng một tỷ lệ
với những cư dân sống trên trái đất ở những vùng khác nhau.
Điều này khác với quan điểm sau này của hệ cân bằng kinh tế "tối ưu" theo nghĩa của
Pareto. Như đã trích dẫn, quan điểm của Smith trước đó không được hoan nghênh cho
lắm. Nó tạo nên một chủ đề chính: sự vận hành của nền kinh tế như là một hệ thống, và
lợi ích hoặc những thứ khác, cho tất cả mọi người, có thể sinh ra từ nền kinh tế đó. Sau
đó, trong tác phẩm Sự thịnh vượng của Quốc gia (The Wealth of Nations), ông đã đúng
đắn khi lập luận rằng tối đa hoá lợi nhuận cá nhân nhằm ám chỉ đến việc tối đa hoá cái
mà ta có thể gọi là thu nhập quốc dân, và tiếp tục cho rằng,
bằng cách điều chỉnh ngành nghề theo cách mà thành quả của nó có thể mang lại giá
trị lớn nhất, [mọi cá nhân] chỉ quan tâm đến cái mà anh ta được lợi, và trong trường hợp

một phía của thị trường. Đối chiếu với quan điểm thứ hai, điều đó dường như có nguyên
nhân từ chi phí tìm kiểm và chi phí chuyển loại và sự không chắc chắn về việc hoàn
thành của các hợp đồng trong tương lai (như là ở thị trường tín dụng). Những điều này
không có chỗ trong mô hình cạnh tranh của nền kinh tế. Có người có thể cho rằng những
phát sinh này từ những giả định là nhỏ, trong phạm vi biên của lỗi mà khoa học kinh tế
có thể đạt đến được; mặc dù bản thân tôi không nghĩ chúng như vậy.
Khiếm khuyết chính khác là nhu cầu có một sự phân phối cụ thể của tài sản tới mọi
người trước khi có ai đó cho rằng hệ cân bằng đạt được là tốt. Yêu cầu đó, khi được hiểu
một cách đúng mực, hoàn toàn không thể hoàn thành được.
Đâu là bản chất của khó khăn này Tôi cho rằng, điều đó đã trở nên rõ ràng trong những
năm năm mươi, ví dụ như trong những tác phẩm của William Vickrey[2]. Nếu chúng ta
có được một hệ cân bằng hoàn chỉnh, chúng ta sẽ tưởng tượng một chính phủ tốt làm
được những điều cần thiết, cụ thể là tạo ra một sự phân phối tài sản đến mọi người như
sự phân bổ mong muốn trong hệ cân bằng. Điều đó có thể thực hiện được. Trong một
mô hình cực kỳ đơn giản, mô hình mà rất nhiều các nhà kinh tế học có thể tưởng tượng
được, mọi người đều giống nhau, và mỗi người đều có được sự thoả dụng từ một hành vi
tiêu dùng hàng hoá, theo một số lượng cố định đã có sẵn. Điều đó thật dễ dàng cho chính
phủ thực hiện công việc phân phối. Giả sử xoá bỏ đi tiêu dùng thoả dụng biên, và sự so
sánh các thoả dụng cá nhân, một sự phân phối bình đẳng về tài sản là điều mà chúng ta
đòi hỏi. Không một thông tin nào, ngoài việc điều tra dân số, được yêu cầu cho điều đó.
Con người có thể có nghi ngờ về biện pháp, thậm chí là về mặt ý nghĩa, của sự thoả
dụng; nhưng ít nhất trong một con đường gồ ghề có sẵn, có một trường hợp rõ ràng để
nghĩ rằng việc chuyển từ người giàu sang người nghèo là một sự tiến bộ. Ứng dụng điều
đó vào một thái cực logic, những người nghèo trên trái đất sẽ được phân phối một cách
đồng đều.
Đó không phải là một chính sáchphổ biến, một phần vì những lý do chính đáng. Rõ ràng
rằng nếu một chính sách bình đẳng được thực hiện, động cơ ban đầu để làm việc sẽ bị
xoá bỏ. "Từ khả năng của một người, đến nhu cầu của anh ta Karl Marx, Phê phán
Chương trình của Gotha) không được cho là khả thi, thậm chí là có thể mong muốn.
Không một mô hình đơn giản nào cho phép điều đó.

Pháp, đã phát triển một cách độc lập lý thuyết đồng đẳng của việc đặt giá bởi sự thoả
dụng công cộng với lợi nhuận bằng không là nhân tố hạn chế, trong một nền kinh tế mà
sự chuyển đổi trọn gói hoàn hảo xảy được cho là xảy ra một cách nghịch lý. Và Serge-
Christophe Kolm (1971) đã phát triển một lý thuyết tổng quát có tính hệ thống.
Điều lý thú trong câu chuyện mà tôi kể ra ở đây loại lý thuyết mà chúng tôi đã phát triển,
chứ không phải là nội dung và những hàm ý của nó. Đó là lý thuyết về một nhà nước mà
những hành động của nó là một chức năng của điều mà nó có thể quan sát được. Không
một sự quan sát nào về bản chất của những người tiêu dùng cá nhân được giả định là có
sẵn, mà chỉ những quan sát về ứng xử của họ. Ví dụ chính của điều đó là một loại thuế
hàng hoá, nó tạo ra một tỷ lệ thu nhập trong số hàng hoá mà người tiêu dùng chọn mua.
Việc lựa chọn chính sách có tính đến phản ứng của người tiêu dùng đối với sự thay đổi
của thuế, đặc biệt là sự thay đổi số lượng mua bán. Một sự trợ cấp trọn gói thống nhất
không yêu cầu bất kỳ một thông tin nào, và do đó được cho phép. Chúng tôi nói rằng,
những công cụ chính sách này là sự tương hợp khích lệ: nhà nước có tính đến đầy đủ các
phản ứng vì lợi ích cá nhân của mọi người đến hệ thống thuế.
Có một khía cạnh, ở đó thông tin về các đặc điểm của người tiêu dùng là cần thiết, sự
phân phối của những đặc tính này trong phạm vi dân số. Nhà nước bằng cách nào đó biết
được sự phân phối này. Về nguyên tắc nhà nước có thể biết được điều này bằng cách đi
hỏi từng người, hoặc trắc nghiệm họ theo các cách đa dạng khác nhau. Bởi vì thông tin
được sử dụng dưới dạng cô đọng (tổng hợp), một cá nhân sẽ chẳng có gì để mất (hoặc có
lợi) khi nói với chính phủ sự thật. Chỉ khi trách nhiệm thuế cá nhân bị tác động bởi sự
tiết lộ này thì sự khuyến khích cạnh tranh bị vi phạm. Chúng tôi đã giả sử rằng, nhà nước
sẽ thu nhận và sử dụng mô hình kinh tế toán về người tiêu dùng, trong đó sự phân phối
những nhóm người tiêu dùng-mối quan tâm của họ đến các loại hàng hoá khác nhau, đặc
điểm cung cấp lao động của họ có thể được ước đoán từ ứng xử của một người tiêu dùng
mẫu. Việc tính toán thuế tối ưu và xu hướng mong muốn của việc thay đổi thuế đã xảy
ra theo cách đó. Một người có thể dứt khoát cho phép những sự không chắc chắn này về
sự phân phối các đặc tính trong dân số, với các vấn đề cân bằng ngân sách mà nó đặt ra,
nhưng chúng ta không nghi ngờ về cái gọi là sự rắc rối nhỏ.
Điều này sau đó là một mô hình với thông tin không đối xứng, ở đó, khi chính sách của

thuận hỗ trợ người có thu nhập thấp. Trong nhiều trường hợp, những điều này có tác
động tạo nên một mức thuế suất biên khá cao đối với những khoản thu nhập thấp: những
lợi ích bị giảm đi khi thu nhập tăng lên, và đôi khi là một đổi một. Do đó, hệ thống thuế
điển hình thực sự có mức thuế suất biên cao đối với mức thu nhập thấp và đối với thu
nhập cao, tỷ suất thuế biên thấp đối với mức thu nhập trung bình. Việc nghĩ đến hầu hết
các loại thuế là việc tạm thời, thay vì nghĩ về thuế đối với thu nhập từ tài sản, khi tính
thuế đối với thu nhập từ lao động: có thể đúng nếu hàng tiêu dùng khác nhau bị đánh
thuế ở mức tỷ suất giống nhau. Tại bất cứ một tỷ suất thuế nào, một người cũng có thể
ước lượng hệ thống thuế thực tế gần đúng.
Bước tiếp theo khi nghĩ về một hệ thống thuế tối ưu, thật nghịch lý, là suy nghĩ một cách
rõ ràng về thuế suất, và thay vì suy nghĩ về những phân bổ của các hàng hoá thực sự và
lao động. Để cho thuận lợi hãy suy nghĩ về sự tối ưu như là trong nền kinh tế học phúc
lợi, mà từ đó tất cả những công việc này đã bắt đầu, nhưng giờ đây đã có một hạn chế
mới, sự khuyến khích cạnh tranh, bên cạnh khó khăn sự phân bổ có thể là khả thi. Ý nghĩ
về sự khuyến khích cạnh tranh chuyển đổi bởi chính phủ đã bị ràng buộc bởi suy nghĩ về
thuế suất. Nhưng điều đó thực sự còn hơn một ý nghĩ cơ bản. Vấn đề đặt ra là: sự phân
bổ nào là khả thi nếu chính sách là khuyến khích cạnh trang Tốt nhất nên suy nghĩ về
điều này trong một mô hình cụ thể, nhưng trong thực tế câu trả lời hoá ra rất đơn giản
khi ở trong một mô hình tổng quát.
Mô hình cụ thể này là loại mô hình rất bình thường, trong đó những người tiêu dùng cá
nhân có thể lựa chọn bao nhiêu lao động cần được cung ứng ra. Hoàn cảnh của mỗi
người tiêu dùng được mô tả bởi hai biến số, cung ứng lao động và tiêu dùng. Mỗi loại
người tiêu dùng được xác định bằng một tham số, năng suất, hoặc, tương tự, mức lương
của người đó. Có một sự phân phối đã cho trước về các mức lương trong nền kinh tế, và
nhà nước nhận thức được. Những điều này là thực tế, năng suất thực tế của các cá nhân
khác nhau. Nhà nước có thể quan sát toàn bộ sản phẩm của mỗi cá nhân, đó là sản phẩm
của mức lương và tổng công việc, nhưng chúng ta lại không thể quan sát mỗi sản phẩm
này một cách riêng rẽ. Giả định về khả năng quan sát đó khá là cực đoan, và tôi sẽ quay
trở lại vấn đề này. Nhưng có một số hạn chế mà chính phủ có thể quan sát được, và sự
giả định cụ thể này tương ứng với điều mà hệ thống thuế hầu như luôn có thể thực hiện

biết đến như là thuộc tính cắt nhau một lần (hoặc đôi khi còn gọi là điều kiện Spence-
Mirrlees [4]). Với giả định đó, người ta có thể xác định đầy đủ sự phân bổ khuyến khích
cạnh tranh.
Hơn nữa, và rất quan trọng, vấn đề tối ưu thuế thu nhập ban đầu bây giờ có thể chuyển
sang một cái gì đó giống như là vấn đề lý thuyết kiểm soát tiêu chuẩn, với sự thoả dụng
là một biến trạng thái, và thu nhập là biến kiểm soát. Điều kiện trên đã mô tả hoàn toàn
tương ứng với quan điểm cho rằng mức độ mà ở đó sự thoả dụng tăng lên trong dân số,
đối với mức lương, bằng với đạo hàm của thoả dụng cá nhân tính theo mức lương đã nói,
đó là một hàm đã biết đến của tiêu dùng cá nhân, thu nhập và mức lương. Nói đúng hơn,
một người có thể tổng quát tất cả những điều này, với điều kiện thoả dụng không luôn
luôn là một hàm liên tục của tiền lương. Do đó, sự chứng minh toán học đầy đủ của tất
cả những vấn đề này rất phức tạp. Kết quả tính toán do đó cũng không phải dễ dàng, bởi
vì trong thực tế chúng ta phải kiểm tra liệu rằng người tiêu dùng ở từng lớp phân loại
cùng có chung mức thu nhập hay không; nhưng điều đó có thể được thực hiện.[5]
Một đặc điểm thú vị trong sự phân tích này, và nó xảy ra một cách hoàn toàn tự nhiên,
đó là hiệu lực của nó. Nó làm cho vấn đề quá rõ ràng. Chúng tôi muốn nói rằng việc sử
dụng một hệ thống thuế phi tuyến giải quyết được vấn đề từng làm các nhà lý thuyết về
thuế. Trong phân tích thuế hàng hoá tối ưu mà tôi và Peter Diamond đã thực hiện, chúng
tôi đã tìm được điều kiện bậc nhất cho hệ thống thuế tối ưu, và đã tìm ra nhiều cách giải
thích và những vấn đề có liên quan; nhưng những điều kiện này là điều cần cho sự tối
ưu, chứ không phải là điều kiện đủ. Trong bất kỳ một mô hình cụ thể nào đó, việc tính
toán thuế tối ưu đòi hỏi
Hình 1. Sự khuyến khích cạnh tranh
Nhiều hơn việc giải quyết vấn đề điều kiện đầu tiên, trừ phi chỉ có một giải pháp duy
nhất. Vấn đề đó không tác động đến kinh tế học phúc lợi đơn giản với những sự chuyển
đổi gộp hoàn hảo. Trong vấn đề thuế thu nhập, những điều kiện khá đơn giản, dễ dàng
kiểm tra đối với mỗi mô hình cụ thể mà tôi đã sử dụng, hàm ý rằng giải pháp về những
đẳng thức đã mang lại một sự tối ưu: những điều kiện đủ cũng như điều kiện cần. Khi
việc tính toán được thực hiện, người ta biết rằng họ đã có câu trả lời đúng, chứ không
phải là câu trả lời có thể đúng.

dường như rất thô, mặc dù những tính toán sau đó và kết quả cho thấy rằng tỷ suất thuế
biên có thể rất cao đối với nhóm có thu nhập thấp nhất. (Với một sự đánh giá phúc lợi
theo xu hướng chủ nghĩa bình quân, tỷ suất thuế biên dường như giảm khi tính theo
nhóm thu nhập tăng lên.) Một kết quả khác, không có tác động về mặt số lượng, nhưng
vẫn có tầm quan trọng, đó là trong sự tối ưu, chỉ số thất nghiệp mang số dương. Những
người nào lựa chọn không có thu nhập được hưởng một khoản trợ cấp, bởi vì chúng ta
không muốn họ chết đói, và những người lao động có năng suất thấp thấy rằng khoản
lương không đạt đến mức của lao động tiêu chuẩn.
Người ta có thể đi sâu vào vấn đề và những kết quả bằng cách nghĩ về một trường hợp hi
hữu trong đó sự không bằng nhau về thu nhập là rất thấp. Trường hợp hạn hữu này là khi
mọi người có mức thu nhập giống nhau. Do đó không có vấn đề khuyến khích cạnh
tranh. Sẽ là tối ưu khi chúng ta tăng ngân quỹ cần thiết cho những chi tiêu công cộng bởi
những khoản thuế. Tỷ suất thuế biên bằng không. Trường hợp thu nhập có sự không
bằng nhau ở mức độ nhỏ, với mức lương giao động từ 0 đến một mức cao hơn nào đó,
với sự thay đổi rất nhỏ. Đối với những người có mức lương trung bình (đa số trong dân
số) những khoản thuế tương đương với những khoản thuế trong trường hợp thu nhập
bằng nhau, đặc biệt là mức thuế suất biên thấp, và mức thuế suất trung bình đủ lớn để chi
trả cho chi tiêu công cộng. Nhưng điều đó không thể áp dụng cho những người có mức
thu nhập thấp nhất, bởi vì họ không thể trả cho tổng khoản thuế đó- điều đó có nghĩa là
tiêu dùng âm. Do đó, đường tiêu dùng/thu nhập phải là một đường nằm dưới cùng, và
luôn luôn nằm dưới đường bàng quang của người có thu nhập trung bình. Một người
không thể thấy được từ lập luận này một cách rõ ràngvề độ dốc của đường của đường
tiêu dùng/thu nhập sẽ nằm dưới cùng như thế nào, nhưng chắc chắn rằng nó thấp hơn rất
nhiều đường thu nhập trung bình, điều đó cũng có nghĩa là thuế suất biên sẽ cao hơn khi
tại điểm dưới cùng hơn là điểm ở giữa.
Nguồn: M, Tuomala, Tạp chí Kinh tế Cộng đồng (1984)
Hình 2: Những đường thuế thu nhập tối ưu
Nguồn: M. Toumala, Tạp chí Kinh tế Cộng đồng (1984)
Hình 3: Tỷ suất thuế biên.
Khi phân phối thu nhập càng không bằng nhau, đường tiêu dùng/thu nhập tối ưu thay đổi

Cuối cùng, nên lưu ý rằng mô hình này có tính tổng quát hơn vẻ bề ngoài của nó, với thu
nhập trong mô hình này là thu nhập hữu hình, và những khoản tiêu dùng là quan sát
được. Sự trốn thuế cũng được xem xét trong cấu trúc này, với biến tiêu rõ ràng đối với
thu nhập sau thuế, và thu nhập đúng với những gì được báo cáo với cơ quan thuế. Những
gì bỏ qua sau đó là những sự đánh giá và kiểm tra khác. Nhưng điều đó cũng có thể được
sử dụng thậm chí không có trốn thuế cố ý. ở một số nước, khả năng có sự trốn thuế thay
đổi theo mức độ đánh thuế được xem là có tầm quan trọng hơn là những biến đổi trong
cung cấp việc làm.
Thông Tin và Động Cơ- Nền Kinh Tế của Những Củ Cà Rốt và Cây Gậy, 2
kinhtehoc.com
Hội Ngộ của Lý Trí và Lợi Ích
Thông Tin và Động Cơ- Nền Kinh Tế của Những Củ Cà Rốt và Cây Gậy, 2
Information and Incentives: Economics of Carrots and Sticks ****
Tác giả: JAMES A. MIRRLEES
Dịch viên: Võ Hồng Long
Thông Tin và Động Cơ- Nền Kinh Tế của Những Củ Cà Rốt và Cây Gậy
HỆ THỐNG THÔNG TIN KHÔNG CÂN XỨNG
Mô hình thuế mà chúng ta đang xem xét chỉ là một trường hợp trong đó tồn tại sự không
đối xứng về thông tin giữa cơ quan nhà nước (chính phủ) và tác nhân hoặc những tác
nhân (người tiêu dùng). Những cá nhân người tiêu dùng biết nhiều về năng lực của họ
hơn là chính phủ. Chính phủ có thể tự nghĩ rằng họ đang làm việc với đại diện của người
tiêu dùng, nhưng không biết loại người tiêu dùng đó. Có nhiều quan hệ kinh tế thuộc về
quan hệ uỷ thác/đại lý, đặc biệt là quan hệ người sử dụng/người lao động. Phương pháp
phân tích mà tôi đã nêu ra được áp dụng khi hoạt động của người đại lý có thể quan sát
được và có thể xác định được, nhưng người đại lý biết nhiều hơn người uỷ thác, ví dụ
như mối quan hệ giữa nỗ lực không thể quan sát được và hoạt động. Adam Smith đã biết
rằng có một vấn đề (mặc dù ông không đề cập đến một cách rõ ràng sự không chắc chắn
tạo ra một khả năng lẩn tránh):
Điều thú vị là mọi người cố gắng sống theo điều kiện của mình một cách tốt nhất có thể ;
và nếu mức lương của anh ta giống nhau một cách chính xác, liệu rằng anh ta có, hoặc

thuyết đó thực sự đòi hỏi thông tin giữa những tác nhân, nhưng Piketty (1993) đã phát
triển một phương thực dễ chấp nhận hơn để đạt được sự tối ưu tốt nhất cũng nằm trong
phạm vi ý tưởng đã được đưa ra. Mô hình đơn giản của khuyến khích cạnh tranh không
hề làm giảm đi cơ chế khuyến khích có thể trong hoàn cảnh của thông tin không đối
xứng.
Trong số những ứng dụng ở lĩnh vực khác của thông tin không đối xứng là việc kiểm
soát những tập đoàn bởi những người cầm quyền (người quản lý nhà nước, ban hành
luật), và định giá bằng những sự thoả dụng. Trong từng hướng phát triển thú vị đó, trước
hết là Baron và Myerson (1982), và sau đó là Laffont và Tirole (1993) đã chỉ ra làm thế
nào một người có thể phân tích sự điều chỉnh bằng cách bằng cách xem các tập đoàn
(doanh nghiệp) như là những tác nhân (đại lý), những người biết được cơ cấu vốn của
doanh nghiệp đó, và những người cầm quyền, người không chắc chắn về những chi tiêu
của doanh nghiệp, người không chắc chắn về chi phí của doanh nghiệp. Sản phẩm của
doanh nghiệp và giá cả mà doanh nghiệp đó đặt ra đối với những sản phẩm đó liên quan
đến nhu cầu của thị trường, và đó là thông tin công khai. Một cách để suy nghĩ về sự
điều chỉnh là phải có thuế về sản phẩm thay đổi. Điều này có thể được phân tích bằng
cách sử dụng những phương pháp mà tôi đã nêu ra.
Tương tự, những thoả dụng cũng làm cho người tiêu dùng thay đổi những ưu tiên, và có
thể liên kết giá cả với số lượng được sử dụng theo một cách thức phức tạp. Như trong
mô hình điều chỉnh, có rất nhiều sản phẩm, và một người sẽ xem xét việc định giá đồng
bộ của tiêu dùng tại các thời điểm khác nhau. Điều này thực sự khó khi sở thích của
người tiêu dùng thay đổi một cách phức tạp, đa chiều. Phương pháp đơn giản mà tôi đã
mô tả trở nên kém hiệu quả khi áp dụng vào những vấn đề đa chiều như thế, nhưng
Wilson (1993) và Armstrong (1996) đã tạo nên một tiến bộ đáng kể trong việc giải quyết
những vấn đề như thế này.
Trong tất cả những phạm vi ứng dụng này, chiều thời gian đóng vai trò quan trọng. Quay
trở lại vấn đề hệ thống thuế, có thể thấy được những vấn đề mới và rắc rối nảy sinh.
Chúng ta có thể nghĩ về việc đánh thuế theo từng thế hệ, hoặc những nhóm người, theo
cách phù hợp với họ. Mỗi thế hệ, mỗi tầng lớp sẽ có phần đóng góp của mình, nhưng
chúng ta có thể xác định được rõ ràng năm sinh, và sử dụng nó làm cơ sở để đánh thuế.

ở một mức độ đáng kể, tự cam kết về tỷ suất thuế trong tương lai, và thực tế không dễ
dàng làm như vậy; và do đó vấn đê đã nói không phát sinh. Bằng cách chấp nhận một
điều cho rằng những người sinh ra ở các thời điểm khác nhau đều chịu một hệ thống
thuế như nhau, chính phủ cần có một đảm bảo, ở một mức chi phí để từ bỏ những cơ sở
mong muốn đối với sự phân biệt thuế.
Có thể mọi người sẽ không nói rõ ra. Giống như một người bắt đầu suy nghĩ làm thế nào
để đi lại, chúng ta sẽ đưa mình vào nhiều rắc rối khi suy nghĩ. Chúng ta gặp cùng một
vấn đề mà Kydland và Prescott (1977) đã xác định trong chính sách kinh tế vĩ mô. Trong
chính sách kinh tế vĩ mô, chúng ta không coi nó là nghiêm túc. Có một rắc rối không rõ
ràng ở đây, có lẽ là trong vấn đề hệ thống thuế đối với tài sản.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Armstrong, C.M. (1996) Định giá phi tuyến đa sản phẩm, Kinh tế toán, 64,51-76.
Arrow, K.J. (1963) Sự không chắc chắn và kinh tế học phúc lợi của chăm sóc y tế. Tạp
chí kinh tế Hoa Kỳ, 53, 941-69.
Atkinson, A.B. và Stiglitz, J.E. (1976) mô hình của cấu trúc thuế: hệ thống thuế trực tiếp
chống lại hệ thống thuế gián tiếp, Tạp chí Kinh tế Cộng đồng, 6, 55-57.
Baron, D và Myerson, R. (1982) điều chỉnh một nhà độc tài với chi phí chưa biết. Kinh
tế toán học, 50, 911-30.
Boiteux, M. (1956)
Kinh tế toán học
Christiansen, V. (1981) đánh giá các dự án công cộng trong hệ thống thuế tối ưu, Tạp
chí Nghiên cứu Kinh tế, 48, 447-457.
Diamond, P.A. và Mirrless, J.A. (1971) Hệ thống thuế tối ưu và sản xuất công cộng I và
II, Tạp chí Kinh tế Hoa Kỳ, 61, 8-27 & 261-278.
Diamond, P.A. và Mirrless, J.A. (1977) Một mô hình của chế độ bảo hiểm xã hội cho
hưu trí, Tạp chí Kinh tế Cộng đồng, 10, 295-336.
Graaff, J. de V. (1957) Lý thuyết Kinh tế học Phúc lợi, Nhà xuất bản Đại học
Cambridge.
Holmström, B. và Milgrom, P.R. (1977) Sự tổng hợp và tuyến tính trong quy định của
khuyến khích tạm thời, Kinh tế toán học, 55, 303-328.

Ramsey, F.P. (1927) Một đóng góp cho hệ thống thuế. tạp chí kinh tế, 37, 47-61.
Rogerson, W. (1985) Phương pháp hàng đầu cho vấn đề người uỷ thác-người đại lý.
Kinh tế toán học, 53, 1357-1368.
Sadka, E. (1976) Về phân phối thu nhập, những hiệu ứng khuyến khích và hệ thống thuế
thu nhập tối ưu. Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, 43, 261-268.
Spence, M. (1973) Tín hiệu của thị trường lao động. Tạp chí Kinh tế hàng quý, 87, 355-
374.
Tuomala, M. (1990) Thuế Thu nhập Tối ưu và Sự phân phối lại, Oxford: Nhà xuất bản
Clarendon.
Varian, H.R. (1980) Phân phối lại thuế như là bảo hiểm xã hội, Tạp chí Kinh tế Cộng
đồng, 14, 49-68.
Vickrey, W.S. (1954) Xác định thoả dụng biên bằng những phản ứng đối với rủi ro.
Kinh tế toán học, 13, 319-333.
Wilson, R. (1993) Định giá Phi tuyến, Nhà xuất bản Đại học Oxford.
[1] Có rất nhiều cách để mở rộng tỷ lệ, được thảo luận trong Tập Mirrlees (1995), và tác
phẩm được chỉ ra trong đó.
[2] Một vấn đề được thảo luận, một cái gì đó giống hình elip, trong Vickrey (1945), và
nghiên cứu đó đã dẫn đến mô hình về sự phân phối lại của hệ thống thuế được thảo luận
ở phần sau của tác phẩm này.
[3] Lý thuyết chúng tôi đã phát triển cuối cùng được xuất bản trong hai nghiên cứu,
Diamond và Mirrlees (1971)
[4] Michael Spence (1973) đã sử dụng điều kiện này cho những mô hình của thị trường
với thông tin không đối xứng
[5] Tất cả những điều này được xác lập trong Mirrless (1971), trong khi sự chứng minh
toán học đầy đủ (trong một nghiên cứu thảo luận của trư ờng Đại học Nuffield, Oxford),
xuất hiện duy nhất trong tác phẩm của Mirrless (1986)
[6] Tuomala (1990)
[7] Một vài vấn đề ở đây được nghiên cứu trong Mirrlees (1976)
[8] Xem Arrow (1963), người cũng đã nói về thông tin không cân xứng; và Pauly (1986).
[9] Như là mô hình đã được Varian kiểm nghiệm (1980), nhưng thảo luận của tôi sẽ chủ


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status