Tiểu luận triết học "Nguồn nhân lực
là yếu tố quan trọng nhất, có tính
chất quyết định đối với sự phát triển
kinh tế của mỗi quốc gia"
1
MỤC LỤC
Ti u lu n tri t h c "Ngu n nhân l c l y u t quan tr ng nh t, có tính ể ậ ế ọ ồ ự à ế ố ọ ấ
ch t quy t nh i v i s phát tri n kinh t c a m i qu c gia"ấ ế đị đố ớ ự ể ế ủ ỗ ố 1
1
M C L CỤ Ụ 2
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại ngày nay, khi loài người đã bước sang cuộc cách mạng
khoa học kỹ thuật lần thứ 3 thì khoa học kỹ thuật đã thực sự trở thành lực
lượng sản xuất trực tiếp như lời Mác đã tiên đoán. Với sự phát triển mạnh mẽ
của nhiều ngành khoa học và công nghệ hiện đại, với hàm lượng chất xám
chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong các sản phẩm làm ra, con người càng tỏ rõ
vai trò quyết định của mình trong tiến trình phát triển của xã hội, của lịch sử
nhân loại. Biện chứng của sự phát triển trong thời đại ngày nay đòi hỏi con
người phải bộc lộ đầy đủ hơn nữa "sức mạnh của bản chất con người" của
mình một cách hiện thực và sinh động hơn, phong phú và đa dạng hơn, văn
hoá và trí tuệ với những cá tính độc đáo và những phẩm chất năng động, sáng
tạo của con người hiện đại. Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng nhất, có tính
chất quyết định đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Ngày nay, trong công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước
mục tiêu quan trọng nhất trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
2
thì nguồn nhân lực chính là chìa khoá của sự thành công. Nguồn nhân lực với
trình độ tiên tiến sẽ chính là nhân tố đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá -
hiện đại hoá đất nước. Với một nước đang ở trình độ thấp kém phát triển như
nước ta hiện nay không thể không xây dựng một chính sách phát triển lâu
biến đổi phát triển của các phương thức sản xuất. Trước hết ta tìm hiểu về lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
4
- Lực lượng sản xuất đó là tổng thể các nhân tố vật chất kỹ thuật mà
trong mối quan hệ với nhau tạo thành sức sản xuất của xã hội. Như Mác đã
nói lực lượng sản xuất bao gồm nhân tố vật chất đó là tư liệu sản xuất (bao
gồm tư liệu lao động. Trong quá trình sản xuất sức lao động của con người và
tư liệu sản xuất trước hết là công cụ lao động kết hợp với nhau tạo thành lực
lượng sản xuất.
Người lao động chính là chủ thể của quá trình sản xuất vật chất tác
động vào đối tượng lao động để tạo ra của cải vật chất, đồng thời cũng chính
họ là người sáng tạo ra công cụ lao động. Công cụ lao động là nhân tố quan
trọng trong lực lượng sản xuất. Nó là khí quan vật chất "nối dài" nhân lên sức
mạnh của con người trong quá trình lao động biến đổi thế giới tự nhiên.
Trong thời đại ngày nay, khoa học đang ngày càng trở thành lực lượng
sản xuất trực tiếp. Những thành tựu của khoa học được ứng dụng nhanh
chóng và rộng rãi vào sản xuất tri thức khoa học cũng là một bộ phận quan
trọng trong kinh nghiệm, kỹ năng của người lao động. Các yếu tố của lực
lượng sản xuất có quan hệ tác động biện chứng lẫn nhau, trong đó người lao
động đóng vai trò quan trọng hàng đầu.
Trong quá trình sản xuất vật chất, ngoài quan hệ giữa con người với tự
nhiên còn là mối quan hệ giữa người với người. Đó chính là quan hệ sản xuất.
Quan hệ này được phân tích theo hai giác độ
Xét trong quá trình tái sản xuất xã hội đó là mối quan hệ giữa người với
người trong quá trình sản xuất phân phối trao đổi và tiêu dùng.
Nếu phân tích trên 3 lớp quan hệ đó là quan hệ sở hữu đối với tư liệu
sản xuất, quan hệ trong tổ chức - quản lý sản xuất quan hệ trong phân phối
sản phẩm lao động. Ba quan hệ này có tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết định.
Cũng như lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất thuộc lĩnh vực đời sống
vật chất của đời sống xã hội. Tính vật chất của quan hệ sản xuất thể hiện ở
Như vậy một yêu cầu khách quan được đặt ra có tính nguyên tắc đối
với các quá trình xác lập, hoàn thiện những quan hệ sản xuất phải dựa trên
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất hiện có.
Ở nước ta đổi mới đã có những biểu hiện vận dụng chưa đúng quy luật
này biểu hiện ở việc chủ quan, nóng vội trong việc xây dựng quan hệ sản xuất
xã hội chủ nghĩa mà không tính tới trình độ của lực lượng sản xuất nước ta.
Một quan hệ sản xuất tiên tiến không phù hợp với trình độ thấp kém của lực
lượng sản xuất, nó đã kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất nước ta
trong một thời gian dài. Từ đổi mới 1986 đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng
cộng sản Việt Nam, nước ta đã lựa chọn con đường phát triển nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều này hoàn
toàn phù hợp với quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất, bởi lẽ trình độ lực lượng sản xuất nước ta
còn thấp kém, không đồng đều. Sự không đồng đều về trình độ của lực lượng
sản xuất đòi hỏi phải có sự đa dạng phong phú của các quan hệ sản xuất.
b. Lực lượng sản xuất xã hội là yếu tố tiêu biểu cho các thời đại lịch sử
xã hội.
Trong những hang đá lâu đời nhất, người ta đã tìm thấy những công cụ
và những vũ khí bằng đá. Việc sử dụng và sáng tạo những tư liệu lao động tuy
đã có mầm mống ở một vài loài vật nào đó nhưng vẫn là đặc trưng nổi bật
nhất của lao động con người. Con người đã phát triển tư liệu lao động lên một
trình độ cao hơn, ngày càng đáp ứng tốt hơn quá trình sản xuất. Sản xuất phát
triển trong tất cả các ngành làm cho sức lao động của con người có khả năng
sản xuất được nhiều tư liệu hơn số tư liệu cần thiết cho sinh hoạt của họ, làm
tăng sản lượng lao động hàng ngày mà mỗi thành viên của thị tộc, của công
xã gia đình hoặc 1 vợ 1 chồng.
Trong lúc của cải làm ra nhiều, mở rộng phạm vi sản xuất, tư hữu xuất
hiện thì ở những điều kiện lịch sử nhất định sự phân công lao động xã hội lớn
đầu tiên tất nhiên sẽ đưa đến chế độ nô lệ. Trong xã hội chiếm hữu nô lệ hình
7
Dù hình thức xã hội của sản xuất như thế nào, người lao động và tư
liệu sản xuất bao giờ cũng vẫn là những nhân tố của sản xuất. Muốn có sản
xuất nói chung thì người lao động và tư liệu sản xuất phải kết hợp với nhau.
Con người sử dụng công cụ lao động tác động vào đối tượng lao động để tạo
ra sản phẩm cho xã hội. Lực lượng sản xuất là yếu tộ động, luôn luôn biến đổi
dẫn đến sự biến đổi của quan hệ sản xuất. Nếu mối quan hệ giữa lực lượng
sản xuất và quan hệ sản xuất thích hợp thì sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển.
Như vậy có thể nói rằng lực lượng sản xuất là yếu tố cách mạng nhất của sản
xuất. Trong thực tế lịch sử xã hội loài người, sự phát triển của sản xuất đều
được đánh dấu bằng sự tiến bộ không ngừng của lực lượng sản xuất. Các cuộc
cách mạng kỹ thuật đã mang lại sự thay đổi vượt bậc của quá trình sản xuất xã
hội về cách thức sản xuất, phương thức tổ chức quản lý
Sự khác nhau giữa một thời đại này với một thời đại kinh tế khác là
phương thức chế tạo,là những tư liệu lao động dùng để chế tạo chứ không
phải là cái người ta chế tạo ra. Những tư liệu lao động là thước đo sự phát
triển của người lao động và là những chỉ số của những quan hệ xã hội trong
đó người lao động làm việc. Nguồn gốc sâu xa của sự vận động phát triển của
xã hội chính là ở sự phát triển của lực lượng sản xuất. Chính sự phát triển của
lực lượng sản xuất đã quyết định, làm thay đổi quan hệ sản xuất. Đến lượt
mình quan hệ sản xuất thay đổi sẽ làm cho kiến trúc thượng tầng thay đổi và
do đó phương thức sản xuất cũ được thay thế bằng phương thức sản xuất mới
tiến bộ hơn, hình thái kinh tế - xã hội cũ được thay thế bằng hình thái kinh tế
xã hội mới cao hơn, tiến bộ hơn. Quá trình này diễn ra một cách khách quan
không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan.
3. Nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội.
a. Khái niệm
Hiện nay nhiều khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực. Ngân hàng thế
giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn người (thể lực, trí lực, kỹ năng,
9
thể nhân loại là công nhân, là người lao động" [V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến
bộ, Matxơcơva, 1977, t.38, tr.430] chính người lao động là chủ thể của quá
trình lịch sử sản xuất, với sức cạnh tranh và kĩ năng lao động của mình, sử
dụng tư liệu lao động mà trước hết là công cụ lao động tác động vào đối
tượng lao động để sản xuất ra của cải vật chất. Cùng với quá trình lao động
sản xuất, sức mạnh và kỹ năng lao động của con người ngày càng được tăng
lên, đặc biệt là trí tuệ của con người không ngừng phát triển, hàm lượng trí
tuệ của lao động ngày càng cao.
Cùng với người lao động thì công cụ thì công cụ lao động cũng là một
yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất, đóng vai trò quyết định trong tư liệu sản
xuất. Công cụ lao động cũng là sản phẩm do trí tuệ của con người sáng tạo ra.
Với quá trình tích lũy kinh nghiệm, với những phát minh và sáng chế kỹ
thuật, công cụ lao động không ngừng được cải tiến và hoàn thiện và nó đã làm
biến đổi toàn bộ tư liệu sản xuất.
Từ sự biến đổi và phát triển của hai yếu tố tư liệu lao động và sức lao
động mà lực lượng sản xuất không ngừng phát triển. Suy đến cùng nhân tố
người lao động chính là nhân tố quyết định nhất trong lực lượng sản xuất.
Ngày nay trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học đóng vai trò
ngày càng to lớn. Lao động trí tuệ ngày càng đó vai trò chủ yếu, nó thúc đẩy
sản xuất phát triển bằng những ứng dụng thành tựu khoa học vào sản xuất.
Yếu tố trí lực trong sức lao động đặc trưng cho lao động hiện đại không còn là
thói quan, kinh nghiệm của họ và là tri thức khoa học.
Chủ nghĩa xã hội có được xây dựng thành công hay không, tùy thuộc
vào chúng ta có phát huy tốt nguồn lực con người hay không? Khi Việt Nam
bước vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đã khẳng định
"Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội
chủ nghĩa".
[Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.10,
tr.310]. Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xây dựng trên lĩnh vực kinh tế,
11
b. Vai trò của nguồn nhân lực đối với quá trình công nghiệp hóa - hiện
đại hóa đất nước.
Theo thống kê của Liên Hợp Quốc đến nay đã có tới 30 nước hoàn
thành công nghiệp hóa. Một lợi thế cho những người đi sau là có sẵn vô vàn
bài học thành công và thất bại của những người đi trước. Người ta đã tổng kết
và kể ra rất nhiều con đường công nghiệp hóa khác nhau: Công nghiệp hóa cổ
điển và phi cổ điển.
Công nghiệp hóa cổ điển đây là kiểu công nghiệp hóa mà các nước Tây
Âu và Mỹ đã thực hiện ở thế kỷ 18, 19.
- Công nghiệp loại 2: phi cổ điển là của các nước đi sau tiến hành công
nghiệp hóa một cách chủ động theo định hướng của Chính phủ. Nước ta đi
theo con đường này, và con đường này có xu hướng rút ngắn thời gian hoàn
thành.
Nói tới công nghiệp hóa - hiện đại hóa người ta đến vốn và công nghệ
hiện đại. Nhưng điều đó chỉ hoàn toàn đúng với con đường công nghiệp hóa
cổ điển, kinh nghiệm của các nước công nghiệp hóa con đường thứ hai cho
thấy hoàn toàn không phải như vậy mà nhân tố quan trọng nhất chính là con
người
Công nghiệp hóa - hiện đại hóa là con đường duy nhất để phát triển nền
kinh tế - xã hội đối với bất cứ quốc gia nào nhất là các nước chậm phát triển
và đang phát triển. Trong công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa, con
người - nguồn nhân lực với tư cách là lực lượng sản xuất hàng đầu của xã hội.
Chính là yếu tố quyết định nhất, động lực cơ bản nhất. Thực tế đã chứng minh
nguyên nhân dẫn đến sự thành công của các quốc gia vùng lãnh thổ có nền
công nghiệp phát triển ở Châu Á. Họ đã có chính sách ưu tiên phát triển giáo
dục hợp lý tạo ra nguồn nhân lực có tay nghề, chuyên môn kỹ thuật cao đáp
ứng tốt cho công nghiệp hóa. Nếu như công nghiệp hóa của các nước Châu
Âu kéo dài gần 100 năm thì các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng
Kông, Singapo chỉ mất hai ba mươi năm đã xây dựng được một nền công
13
Tuy nhiên, trình độ lực lượng sản xuất kém phát triển đang còn là cản trở chủ
yếu của việc xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa mà quan hệ sản xuất
này vốn mang bản chất xây dựng hoá nền sản xuất xã hội. Người lao động
yếu tố động nhất, quyết định nhất của lực lượng sản xuất vẫn còn hạn chế,
chưa đáp ứng được công cuộc đổi mới đất nước hiện nay.
Dân số nước ta thuộc loại dân số trẻ, tốc độ gia tăng dân số cao, số
người trong độ tuổi lao động lớn tạo nên sức ép trên thị trường lao động thể
hiện tỉ lệ thất nghiệp năm 2004 là 5,6% lao động trong khu vực nông thôn vẫn
chiếm tỷ lệ lớn, năm 2004 lực lượng lao động nông thôn có 32,7 triệu người
chiếm tỷ lệ 15,6% lực lượng lao động cả nước, trong đó khi lực lượng lao
động thành thị là 10,55 triệu người chiếm 24,4% [Nguyễn Tiệp - Phát triển thị
trường lao động nước ta các năm 2005 - 2010 - Nghiên cứu kinh tế 326 - tr
52].
Tỷ lệ lao động qua đào tạo của ta còn thấp chủ yếu vẫn là lao động giản
đơn. Thiếu công nhân kỹ thuật lành nghề và lành nghề cao; chưa có tác phong
công nghiệp, cơ cấu cấp trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động qua đào
tạo còn bất hợp lý (năm 2003 Cao đẳng, đại học và trên đại học trung học
chuyên nghiệp - công nhân kỹ thuật là 1- 0,9 -2,7).
Chất lượng đào tạo nguồn nhân lực còn nhiều yếu kém, chương trình
học không phù hợp với thực tế của thị trường lao động. Sinh viên học thụ
động, thiếu tính sáng tạo. Các trường đào tạo nghề sử dụng các máy móc đã
lỗi thời, lạc hậu mà thực tế đã không còn sử dụng….
Chất lượng thì đã vậy, lại kết hợp thêm việc phân bổ, sử dụng nguồn
nhân lực bất cập, thiếu đồng bộ càng tăng thêm mâu thuẫn về cung cầu nguồn
nhân lực cả về số lượng và chất lượng ở các vùng miền núi, vùng sâu, vùng
xa thừa lao động giản đơn nhưng lại thiếu nghiêm trọng lao động có trình độ,
gây rất nhiều khó khăn cho việc phát triển về nhiều mặt ở vùng này. Những
nơi cần thì không có, còn những nơi đã có nhiều rồi như ở các thành phố lớn
thì lại càng nhiều thêm gây ra một sự lãng phí rất lớn cho xã hội.
15
nền kinh tế thế giới.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, những chuẩn mực về kĩ năng và năng suất
lao động, về hiệu quả kinh tế, chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh
ngày càng phụ thuộc vào việc vận dụng những tiến bộ công nghệ và tri thức
khoa học. Chỉ có con người làm chủ được tiến bộ công nghệ và tri thức khoa
học mới.
Đào tạo phát triển nguồn nhân lực đáp ứng đòi hỏi mới trở thành quốc
sách hàng đầu với các quốc gia. Các nước phát triển lợi dụng ưu thế về vốn,
kỹ thuật, đẩy nhanh đào tạo nhân tài, tranh giành người tài với các nước khác.
Các nước đang phát triển tăng cường đầu tư kinh phí cho khoa học công nghệ
giáo dục đào tạo nhân tài, đồng thời ngăn ngừa chảy máu chất xám bằng
những chính sách ưu đãi thích hợp. Chính phủ Ấn Độ đầu tư 1,1% tổng sản
phẩm kinh tế quốc dân, 87% tổng đầu tư khoa học công nghệ cho đào tạo
[Định hướng phát triển đội ngũ tri thức Việt Nam - tr.57].
Sau chiến tranh thế giới thứ II, Nhật Bản là nước bại trận bị chiến tranh
tàn phá nặng nề nhưng quốc gia này vẫn khẳng định sự lựa chọn truyền thống
trong giáo dục. Hệ thống giáo dục Nhật Bản được ưu tiên trên nhiều khía
cạnh, được sự quan tâm tạo điều kiện của gia đình và xã hội. Hàn Quốc bị ảnh
hưởng nhiều của nền văn hóa Nho học Trung Hoa nên rất chú trọng phát triển
giáo dục. Nhờ đó đầu tư trong giáo dục của Hàn Quốc không ngừng tăng lên
trong 50 năm qua. Đối với Trung Quốc, họ có chính sách mạnh dạn tìm người
tài. Trước mắt Trung Quốc đang thực hiện việc phát hành "thẻ xanh", một loại
thẻ dành cho những kỹ thuật viên, các nhà đầu tư, các nhà doanh nghiệp với
đặc quyền vào Trung Quốc không cần visa.
Trước xu thế chung của thế giới, chúng ta không thể đứng ngoài cuộc.
Trong công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa phát triển kinh tế đất nước
chúng ta cần hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Nước ta tham gia vào rất nhiều
các tổ chức kinh tế như ASEAN, APEC và đặc biệt khi gia nhập vào tổ chức
17
thương mại thế giới WTO thì tính cạnh tranh của nền kinh tế phải được nâng
dạy để nâng cao chất lượng đào tạo trong toàn hệ thống. Phân bố hợp lý các
trường đào tạo, các cấp trình độ trên các vùng trong phạm vi cả nước.
- Mở rộng và nâng cấp hệ thống dạy nghề cho người lao động ở 3 cấp
trình độ: sơ cấp nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề và liên thông giữa các
trình độ, đồng thời chuyển sang đào tạo theo định hướng cầu lao động, đào
tạo gắn với sử dụng, gắn với nhu cầu của sản xuất, cung cấp lao động có chất
lượng về tay nghề, sức khỏe, kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp và các
phẩm chất khác để đáp ứng được thị trường trong nước và nước ngoài.
- Đa dạng hóa các loại hình trường, lớp, dạy nghề của Nhà nước, của tư
nhân và quốc tế, hình thành thị trường dạy nghề phù hợp với pháp luật.
- Thực hiện quy hoạch, đầu tư tập trung vào hệ thống dạy nghề kỹ thuật
thực hành. Quan tâm xây dựng hệ thống trường dạy nghề trọng điểm quốc
gia, trường cao đẳng dạy nghề, trong đó có các trường đạt tiêu chuẩn khu vực;
các tỉnh, thành phố đều có trung tâm dạy nghề, phát triển cơ sở dạy nghề
ngoài công lập.
Bằng nhiều hình thức đa dạng đảm bảo cho mọi người được học nhất là
người nghèo và con em các gia đình thuộc diện chính sách. Động viên phong
trào toàn dân thi đua xóa mù chữ, hoàn thành phổ cập trung học cơ sở, trung
học phổ thông. Cùng với đổi mới nội dung giáo dục theo hướng cơ bản, hiện
đại, phải tăng cường giáo dục công dân, giáo dục thế giới quan khoa học, lòng
yêu nước, ý chí vươn lên vì tương lai của bản thân và tiền đồ của đất nước.
c. Nhà nước quan tâm đến chính sách quốc gia về việc làm, nâng cao
đời sống cho người lao động, tránh tình trạng chảy máu chất xám.
Nhà nước tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật kinh doanh, tạo
môi trường thuận lợi cho các khu vực kinh tế phát triển, khuyến khích khu
vực kinh tế tư nhân làm giàu chính đáng. Đặc biệt là tạo môi trường đầu tư,
chuyển giao công nghệ, hợp tác quốc tế để phát triển một bộ phận lớn doanh
nghiệp vừa và nhỏ với công nghệ hiện đại. Thực hiện định hướng của Chính
19
phủ là đến năm 2010, cả nước có khoảng 500 nghìn doanh nghiệp, giải quyết
dụng ở một số tỉnh, thành phố và thu được những tín hiệu đáng mừng, tuy
nhiên cần phải được đẩy mạnh hơn nữa.
21
KẾT LUẬN
Chưa bao giờ trong lịch sử, nhân tố con người lại đóng vai trò quan
trọng trong phát triển kinh tế như thời đại ngày nay. "Máy móc không chỉ
thay thế lao động cơ bắp mà còn nhân lên sức mạnh trí tuệ con người, lực
lượng sản xuất chuyển từ dựa vào vật chất sang dựa nhiều hơn vào trí lực và
sức sáng tạo của con người, sức sáng tạo của con người là vô hạn, tài nguyên
là hữu hạn. Cho nên kinh tế dựa vào tri thức mở ra những triển vọng to lớn,
những khả năng vô hạn của con người, giải quyết những vấn đề cơ bản và cấp
bách mà mình đang phải đối mặt". [Đặng Hữu - Phát triển bền vững dựa trên
tri thức - Tạp chí lý luận chính trị/số 11 - 2004. tr 9 - 10]. Việc phát triển và
sử dụng nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế Việt Nam trong thời kỳ quá
độ đã được Đảng và Nhà nước ta xác định đúng hướng. Trong điều kiện nước
ta hiện nay để chiến lược phát triển theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại
hóa đến thắng lợi, chúng ta phải lấy nguồn nhân lực con người Việt Nam -
nguồn nhân lực quan trọng nhất làm động lực cho sự phát triển lâu bền. Để
bồi dưỡng và phát h
Tuy nguồn lực con người Việt Nam với tư cách đó, chúng ta cần tạo ra
mối quan hệ hài hóa giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội tạo ra mối
quan hệ hài hòa giữa lợi ích lâu dài và lợi ích trước mắt, lợi ích quốc gia, dân
tộc và lợi ích tập thể, lợi ích cá nhân không ngừng nâng cao trình độ học vấn
cho người lao động mang tầm quốc tế, xây dựng con người Việt Nam xã hội
chủ nghĩa tiên tiến nhưng vẫn luôn coi trọng những giá trị truyền thống văn
hóa dân tộc, không đánh mất mình. Từ đó xây dựng và phát triển Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; tạo cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại đưa
nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội.
22