PHÁP LUẬT VỀ PHÁ SẢN VÀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP
1. PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP
1.1. Khái niệm phá sản, pháp luật phá sản
1.1.1 Khái niệm, phân loại phá sản
a) Khái niệm phá sản
Phá sản dù được lý giải rất khác nhau về xuất xứ, song khái niệm này đều được sử dụng để chỉ
sự đổ vỡ trong hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp. Sự phát triển của nền kinh tế thị trường
hiện đại đang bắt buộc chúng ta phải nhìn nhận phá sản là một hiện tượng xã hội tiêu cực khi xem xét
các tác động của chúng trên các phương diện sau:
- Về mặt kinh tế: Sự phá sản của một doanh nghiệp trong điều kiện ngày nay đếu đưa đến những hậu
quả tiêu cực. Nhiều doanh nghiệp phải gánh chịu những hậu quả to lớn khi những đối tác làm ăn của
mình bị phá sản. Khi quy mô của doanh nghiệp phá sản càng lớn, tham gia vào quá trình phân công lao
động của nghành nghề đó càng sâu rộng, số lượng bạn hàng càng đông, thì sự phá sản của nó có thể
dẫn tới sự phá sản hàng loạt các doanh nghiệp bạn hàng theo "hiệu ứng Domino" - phá sản dây truyền.
- Về mặt xã hội, phá sản doanh nghiệp để lại nhièu hậu quả tiêu cực cho xã hội. Trước hết, phá sản
doanh nghiệp làm tăng số lượng những người thất nghiệp và làm cho sức ép về việc làm ngày càng
lớn, đặc biệt là các đô thị lớn và các khu công nghiệp. Trên thực tế, gánh nặng giải quyết việc làm, đào
tạo lại nghề cho những người thất nghiệp và trợ cấp thất nghiêp…lại được chuyển giao cho nhà nước.
Mặt khác, tỷ trọng người thất nghiệp cao do phá sản đem lại luôn ẩn chứa những nguy cơ bất ổn định
về mặt xã hội và nếu như không giải quyết kịp thời sẽ trở thành nguyên nhân của các tệ nạn xã hội.
- Về mặt chính trị, phá sản dây truyền sẽ dẫn tới sự suy thoái và khủng hoảng nền kinh tế quốc gia,
thậm chí là khủng hoảng kinh tế khu vực và đây là nguyên nhân dẫn đến những khủng hoảng sâu sắc
về chính trị.
Phá sản với tính cách là một hiện tượng xã hội tiêu cực cần phải được hạn chế và ngăn chặn tới
mức tối đa. Nói cách khác, phá sản phải được xem là sự lựa chọn cuối cùng và duy nhất của nhà nước
đối với các doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản.
Để ngăn chặn và kiểm soát một cách có hiệu quả những hậu quả bất lợi của việc phá sản doanh
nghiệp, cơ chế phá sản hiện đại đã chủ động can thiệp bằng pháp luật từ khi "doanh nghiệp có những
dấu hiệu lâm vào tình trạng phá sản". Tuy nhiên, điều cần nhấn mạnh là các tiêu chí xác định một
doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản được quy định rất khác nhau không chỉ ở các quốc gia khác
nhau mà còn ở các giai đoạn phát triển khau nhau của một nền kinh tế.
đây chỉ đề cập tới hai dạng phân loại chủ yếu thường gặp là: Phá sản trung thực và phá sản man trá;
phá sản tự nguyện và phá sản bắt buộc.
- Sự phân biệt phá sản trung thực và phá sản man trá dựa trên bản chất quan hệ kinh tế, nhìn dưới
góc độ nguyên nhân dẫn đến tình trạng phá sản.
+ Phá sản trung thực là hậu quả khách quan và trực tiếp của tình trạng không thích ứng của
doanh nghiệp mắc nợ trước các đòi hỏi khắt khe và nghiệt ngã của thương trường. Doanh nghiệp
có thể bị phá sản bới nhiều nguyên nhân mang tính khách quan như: thiên tai, địch hoạ, bị ảnh
hưởng của chiến tranh, khủng hoảng kinh tế, những chênh lệch về tỷ giá hối đoái, sự chuyển đổi
xu hướng tiêu dùng của người tiêu dùng,… và cả những nguyên nhân chủ quan như: sự yếu kém
trong năng lực quản lý, đièu hành, cơ cấu đầu tư của doanh nghiệp bị mất cân đối nghiêm trọng,
bị mất uy tín trên thương trường,…
+ Phá sản man trá hoàn toàn là hậu quả của những thủ đoạn, hành vi gian dối, có sự sắp đặt từ
trước của chủ doanh nghiệp mắc nợ lợi dụng cơ chế phá sản để chiếm đoạt tài sản của các chủ
nợ.
- Sự phân biệt phá sản tự nguyện và phá sản bắt buộc dựa trên cơ sở làm phát sinh quan hệ pháp lý,
cụ thể căn cứ vào chủ thể đệ đơn yêu cầu tuyên bố phá sản.
+ Phá sản tự nguyện là do chủ doanh nghiệp mắc nợ tự đề nghị khi thấy doanh nghiệp hoàn toàn
mất khả năng thanh toán, không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho các chủ nợ.
+ Ngược lại, phá sản bắt buộc được thực hiện trên cơ sở yêu cầu của các chủ nợ, nằm ngoài ý
muốn chủ quan của doanh nghiệp mắc nợ.
1.1.2 Pháp luật về phá sản
- Theo hiểu biết chung nhất, pháp luật phá sản là một tổng thể thống nhất các quy phạm pháp luật
nhằm hướng tới việc giải quyết đúng đắn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp Trong đó, luật phá
sản đóng vai trò trung tâm vì nó quy định những vấn đề có tính nguyên tắc của trình tự, thủ tục giải
quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp như: phạm vi áp dụng, điều kiện mở thủ tục phá sản
doanh nghiệp, thứ tự ưu tiên thanh toán khi phân chia tài sản phá sản,…
- Nội dung của pháp luật phá sản không chỉ bao gồm trình tự thu hồi tài sản và thanh toán theo một
thứ tự nhất định cho các chủ nợ (phát mại tài sản). Ngay từ cổ luật La mã, thủ tục phá sản còn một khía
cạnh thứ hai đáng lưu ý: tạo cơ hội cho người mắc nợ và chủ nợ thoả thuận, tái tổ chức kinh doanh và
lập một kế hoạch trả nợ phù hợp. .
+ Pháp luật phá sản là công cụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ. Pháp luật phá
sản "thiết kế" sẵn một thủ tục đặc thù nhằm bảo đảm các quyền về tài sản của chủ nợ trước
những rủi ro do tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn của con nợ gây ra. Mặt khác, vai
trò bảo vệ chủ nợ còn thể hiện ở chỗ pháp luật phá sản góp phần vào việc bảo đảm quyền bình
đẳng công bằng cho các chủ nợ trong việc đòi nợ
+ Pháp luật phá sản là công cụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động. Hậu quả xã
hội đáng lưu ý nhất do sự phá sản doanh nghiệp gây ra là những ảnh hưởng về việc làm và thu
nhập của người lao động. Vì vậy, bảo vệ quyền và lợi ích của người làm công ăn lương luôn là
một trong những nội dung quan trọng của pháp luật phá sản. Bằng những quy định cụ thể, pháp
luật phá sản xác định những nguyên tắc, căn cứ pháp lý cho việc bảo vệ quyền và lợi ích của
người lao động cũng như trách nhiệm và nghĩa vụ của doanh nghiệp mắc nợ và các bên liên
quan. Theo quy định của lật phá sản, người lao động không những có quyền nộp đơn yêu cầu
tuyên bố phá sản mà các quy định về thứ tự ưu tiên khi phân chia giá trị còn lại của doanh
nghiệp, chế độ trợ cấp, bảo hiểm thôi việc,… đều thể hiện tinh thần bảo vệ các quyền và lợi ích
của người lao động khi doanh nghiệp bị phá sản.
+ Pháp luật phá sản là công cụ tái tổ chức lại doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ và góp phần cơ
cấu lại nền kinh tế. Có thể nói đây là vai trò hết sức quan trọng mà hầu hết các đạo luật phá sản
hiện đại trên thế giưói đều hướng tới. Thông qua cơ chế hoà giải, tái tổ chức lại doanh nghiệp,
pháp luật về phá sản tạo cơ hội để doanh nghiệp đang gặp khóp khăn về tài chính phục hồi sản
xuất kinh doanh. Theo quy định của luật phá sản doanh nghiệp Việt nam, sau khi toà án mở thủ
tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản, doanh nghiệp được quyền xây dựng phương án hoà giải
và các giải pháp tổ chức lại kinh doanh để khắc phục tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến
hạn. Như vậy, cả khi toà án đã thụ lý giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản thì doanh nghiệp vẫn
chưa hết cơ hội phục hồi, tìm những giải pháp thích hợp để duy trì sự tốn tại thay vì bị tuyên bố
phá sản. Chính cơ chế phá sản là sự răn đe thường trực đối với các doanh nghiệp đang hoạt động
trên thương trường.
+ Pháp luật phá sản góp phần bảo vệ trật tự, kỷ cương xã hội. Việc phá sản có thể dẫn đến nhiều
hậu quả kinh tế xã hội nghiêm trọng. Những hậu quả này nhiều khi là nguyên nhân sâu xa dẫn
đến sự xáo trộn, những biểu hiện tiêu cực trong đời sống xã hội. Vì vậy, thông qua việc giải
quyết thoả đáng về mối quan hệ về lợi ích giữa chủ nợ và con nợ, giữa chủ nợ với nhau, pháp
giải.
Sau 3 năm doanh nghiệp khôi phục
lại khả năng thanh toán
GIAI ĐOẠN
THANH LY TÀI
SẢN DOANH
NGHIỆP
Khi toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì việc đầu tiên sẽ tiến hành điều tra về hoạt
động kinh tế của doanh nghiệp. Việc điều tra này nhằm mục đích xem xét khả năng thanh toán nợ của
doanh nghiệp. Đây là giai đoạn đầu tiên ghi trong biểu đồ trên.
Nếu doanh nghiệp muốn tránh khỏi rơi vào giai đoạn sau, thì phải làm sao chứng minh được
với toà án là mình vẫn còn khả năng thanh toán nợ đến hạn, và việc kinh doanh vẫn còn sinh lời.
Nhưng nếu không may, sau khi điều tra toà án nhận thấy doanh nghiệp không còn khả năng
thanh toán nợ đến hạn nữa thì sẽ áp dụng ngay các thủ tục của giai đoạn thứ hai là giải quyết yêu cầu
tuyên bố phá sản. Trong giai đoạn này chủ doanh nghiệp phải có trách nhiệm xây dựng phương án hoà
giải: tức là một chương trình khôi phục lại khả năng tài chính của doanh nghiệp và đồng thời trả xong
các món nợ cũ. Phương án hoà giải phải thi hành trong một thời gian không quá 3 năm. Như chúng ta
thấy ở sơ đồ trên, doanh nghiệp muốn tránh lâm vào tình trạng phá sản thì phải hội đủ bốn điều kiện
trong thời gian giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản, tức là:
(i) Xây dựng một phương án phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh
(ii) Hội nghị chủ nợ thông qua phương án phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh.
(iii) Doanh nghiệp thi hành đúng đắn phương án phục hồi sản xuất kinh doanh, tức là phải trả
được tất cả các khoản nợ cũ hay mới.
(iv) Sau 3 năm, doanh nghiệp phải khôi phục lại khả năng thanh toán nợ.
Trường hợp nếu doanh nghiệp không thoả mãn được một trong bốn điều kiện trên thì sẽ bị
tuyên bố phá sản và kể từ đó doanh nghiệp kể như không tồn tại.
BẢNG CHI TIẾT TRÌNH TỰ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP
1. Giai đoạn điều tra
1.1 Nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.
- Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thuộc về những người sau đây: chủ nợ (chủ nợ không
hiện
+ Cầm cố, thế chấp, bán, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê tài sản.
+ Nhận tài sản từ một hợp đồng chuyển nhượng
+ Chấm dứt thực hiện hợp đồng đã có hiệu lực pháp lý.
+ Vay tiền
+ Bán, chuyển đổi cổ phần hoặc chuyển quyền sở hữu tài sản.
+ Thanh toán các khoản nợ mới phát sinh từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tăng
lương cho người lao động.
- Những vi phạm trước ngày mở thủ tục phá sản:
Điều 43: Các giao dịch sau đây của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản được thực hiện
trong khoảng thời gian 3 tháng trước ngày toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản bị coi là vô
hiệu:
a) Tặng cho động sản, bất động sản cho người khác
b) Thanh toán hợp đồng song vụ trong đó phần nghĩa vụ của doanh nghiệp rõ ràng là lớn hơn
phần nghĩa vụ của bên kia.
c) Thanh toán các khoản nợ chưa đến hạn
d) Thực hiện việc thế chấp, cầm cố tài sản đối với các khảon nợ
e) Các giao dịch khác với mục đích tẩu tán tài sản của doanh nghiệp.
Khi các giao dịch trên bị tuyên vô hiệu thì những tài sản thu hồi được phải nhập vào khối tài
sản của doanh nghiệp.
Quy định này nhằm hai mục đích: bảo vệ tài sản của doanh nghiệp để rồi sau này thanh toán nợ
và bảo vệ quyền lợi của các chủ nợ bằng cách tôn trọng quyền ưu tiên và nguyên tắc bình quyền giữa
các chủ nợ
2.2 Doanh nghiệp phải xây dựng phương án phục hồi sản xuất kinh doanh. Thời gian thi
hành phương án không quá 3 năm.
- Phương án này phải minh chứng được những điều sau đây:
+ Nếu không phải trả ngay những món nợ đến hạn và quá hạn thì doanh nghiệp kinh doanh bình
thường có lợi
+ Nói đến kinh doanh có hiệu quả là số tiền doanh thu không những đủ để bù lại những chi tiêu
mà còn sinh lợi tức thêm cho chủ doanh nghiệp.
yêu cầu là doanh nghiệp, chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước, cổ đông công ty cổ phần.
+ Hội nghị chủ nợ không thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh
+ Doanh nghiệp thực hiện không đúng hoặc không thực hiện được phương án phục hồi hoạt
động kinh doanh.
- Thứ tự phân chia tài sản
+ Phí phá sản
+ Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi viêc, bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật và các
quyền lợi khác theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết.
+ Các khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho các chủ nợ trong danh sách chủ nợ theo nguyên
tắc nếu giá trị tài sản đủ để thanh toán các khoản nợ thì mỗi chủ nợ đều được thanh toán đủ số nợ
của mình, nếu giá trị tài sản không đủ để thanh toán các khoản nợ thì mỗi chủ nợ chỉ được thanh
toán một phần khoản nợ của mình theo tỷ lệ tương ứng.
+ Trường hợp giá trị tài sản của doanh nghiệp sau khi thanh toán đủ các khoản nợ mà vẫn còn thì
phần con lại thuộc về: xã viên hợp tác xã, chủ doanh nghiệp tư nhân, các thành viên của công ty,
cổ đông của công ty cổ phần, chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước.
3.2 Quyết định tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản
- Xác định rõ căn cứ tuyên bố phá sản.
- Cấm đảm nhiệm chức vụ sau khi doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản theo quy định của điều 94 Luật
phá sản: (i) Người giữ chức vụ Giám đốc, tổng giám đốc, chủ tịch và các thành viên hội đồng quản trị
của công ty, tổng công ty 100% vốn nhà nước bị tuyên bố phá sản không được cử đảm đương chức vụ
đó ở bất kỳ doanh nghiệp nhà nước (ii) chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, Giám đốc,
tổng giám đốc, chủ tịch và các thành viên hội đồng quản trị , hội đồng thành viên của doanh nghiệp,
chủ nhiệm và các thành viên Ban quản trị hợp tác xã bị tuyên bố phá sản không được quyền thành lập
doanh nghiệp, không được làm người quản lý doanh nghiệp trong thời hạn 3 năm.
2. GIẢI THỂ DOANH NGHIÊP
2.1 Khái niệm giải thể doanh nghiệp
- Thủ tục giải thể là một thủ tục mang tính chất hành chính nhằm chấm dứt hoạt động (tư cách pháp
nhân) của một doanh nghiệp, giải thể trước hết là công việc nội bộ của doanh nghiệp, nhưng để bảo vệ
quyền lợi của các chủ nợ, các cổ đông hoặc thành viên của công ty mà nhà nước phải quy định và can
thiệp vào các quyết định giải thể của doanh nghiệp. Việc giải thể có thể do những nguyên nhân khách
- Trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp:
+ Thông qua quyết định giải thể doanh nghiệp. Quyết định giải thể doanh nghiệp phải có các nội
dung chủ yếu sau: tên, trụ sở, lý do giải thể, thời hạn, thủ tục thanh lý hợp đồng và thanh toán
các khoản nợ của doanh nghiệp (thời hạn thanh toán nợ và thanh lý hợp đồng không quá 6 tháng
kể từ ngày thông qua quyết định giải thể), phương án xử lý các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng
lao động, thành lập tổ thanh lý tài sản (quyền và nghĩa vụ của tổ thanh lý tài sản được quy định
trong phụ lục kèm theo quyết định giải thể), chữ ký của người đại diện theo pháp luật của doanh
nghiệp.
+ Trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày thông qua, quyết định giải thể doanh nghiệp phải được gửi
đến cơ quan đang ký kinh doanh, tất cả các chủ nợ, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, người
lao động trong doanh nghiệp. Quyết định giải thể phải được niêm yết công khai tại trụ sở doanh
nghiệp, và đăng báo địa phương hoặc báo hàng ngày của trung ương trong 3 số liên tiếp. Quyết
định giải thể phải được gửi đến cho các chủ nợ kèm theo thông báo giải quyết nợ (thông báo phải
có tên, dịa chỉ của chủ nợ, thời hạn địa điểm, phương thức thanh toán nợ, cách thức và thời hạn
giải quyết khiếu nại cua chủ nợ).
+ Thanh lý các tài sản và thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp.
+ Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày thanh toán hết nợ của doanh nghiệp, tổ thanh lý phải gửi hồ
sơ giải thể doanh nghiệp đến cơ quan đăng ký kinh doanh. Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày
nhận được hồ sơ giải thể, cơ quan đăng ký kinh doanh phải xoá tên doanh nghiệp trong sổ đăng
ký kinh doanh.
Trường hợp doanh nghiệp bị thu hồi giấy đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp phải giải thể trong
thời hạn 6 tháng kể từ ngày bị thu hồi giấy đăng ký kinh doanh. Trình tự thủ tục được quy định
như trên.