Đề án chuyên ngành
Kinh tế và quản lý địa chính Nhà ở LỜI NÓI ĐẦU
Nhà ở là nhu cầu thiết yếu của mọi người dân trong xã hội, là
vấn đề quốc kế dân sinh .Việc giải quyết chỗ ở được nhân dân coi như là
điều kiện tiên quyết cho việc thành công trong đường đời, sự nghiệp của
mỗi cá nhân và là một việc lớn trong đời của một con người.Vì thế các
nước trên thế giới đều có chính sách phát triển nhà ở .Đối với nước ta
Đảng và Nhà n
ước cũng rất quan tâm đến nhà ở cho người dân .Điều 62
Hiến pháp năm 1992 có ghi :”Công dân có quyền có nhà ở, Nhà nước
mở rộng việc xây dựng nhà ở đồng thời khuyến khích, giúp đỡ tập thể,
công dân xây dựng nhà ở theo quy hoạch chung nhằm thực hiện quyền
đó “.
Khi đất nước chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nướ
c do kết quả của các hoạt động kinh
tế, tốc độ đô thị hoá ngày càng nhanh, việc di dân tự do vào các đô thị
lớn đã làm cho các vấn đề kinh tế xã hội trở lên bức xúc , bộc lộ
nhiều vấn đề cần giải quyết, đặc biệt là vấn đề nhà ở đô thị trong thế kỷ
XXI.
Bài viết có sử dụng phương pháp phân tích, phương pháp
thống kê, tổng hợ
p đánh giá số liệu Với phương pháp này việc nghiên
cứu “Thực trạng và giải pháp phát triển nhà ở đô thị nước ta” sẽ được
xem xét trong mối quan hệ tác động qua lại giữa lý luận và thực tiễn, từ
ảnh
hưởng rất lớn đến giá trị tài sản nhà đất.
*Nhà ở là một bất động sản có tính bền vững, thời gian sử
dụng dài, hao mòn chậm. Đặc điểm này có thuận lợi cho người sử dụng
nhất là đối với người có thu nhập thấp , vì họ có khả năng nâng cấp, xây
dựng mới nhà ở là rất kém. Họ có thể xây dựng một ngôi nhà có chất
lượng trung bình và sử
dụng nó trong khoảng thời gian gần 20 năm mà
Đề án chuyên ngành
Kinh tế và quản lý địa chính
không phải sửa chữa lớn, trừ những duy tu bảo dưỡng nhỏ như sơn quét
vôi tường, cửa
*Nhà ở là tài sản có giá trị lớn. So với các hàng hoá khác khi
mua sắm thì việc xây dựng nhà ở đòi hỏi một khoản vốn đầu tư lớn và
nhất là hiện nay giá nhà đất, nguyên vật liệu xây dựng ở các đô thị rất
cao.
*Nhà ở rất đ
a dạng, phong phú cả về số lượng và chất lượng.
Đặc điểm này một mặt là do sự đa dạng của các tầng lớp dân cư đô thị,
mặt khác là thu nhập của dân cư đô thị đã tăng lên, phong tục tập quán
truyền thống từng nơi khác nhau.
2.Ý nghĩa của nhà ở :
*Nhà ở đô thị là điều kiện vật chất trọng yếu để phát triển kinh
tế đô thị:
Môi trường cư trú, điều kiện sinh hoạt của nơi ở, nơi làm việc,
môi trường văn hoá khu vực, môi trường tự nhiên khu vực ảnh hưởng
rất lớn tới tái sản xuất sức lao động và tác động tới tâm sinh lý của người
lao động, ảnh h
ưởng tới quá trình sản xuất, tới hiệu quả của nền kinh tế.
hết phải ăn uống, chỗ ở và mặc đã rồi mới đến làm chính trị, khoa h
ọc,
nghệ thuật, tôn giáo ”
(1)
Nhà ở là phương tiện quan trọng để bảo vệ con người trước
các hiện tượng tự nhiên như nắng, mưa, gió, bão, giá rét mà còn là nơi
nuôi dưỡng , giáo dục đào tạo con người từ khi sinh ra và lớn lên, tạo
điều kiện tái sản xuất sức lao động của con người.
*Nhà ở đô thị là điều kiện vật chất ảnh hưởng tới sinh hoạt xã
hội và điề
u chỉnh quan hệ xã hội.
Nhà ở không những là tài sản có giá trị, có tầm quan trọng đặc
biệt đối với mỗi gia đình, mà còn là một trong những tiêu chuẩn làm
thước đo phản ánh trình độ phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia, mức
sống dân cư của một dân tộc. Một thực tế là khi nhìn vào một ngôi nhà ta
có thể biết được phong tục tập quán, đời sống vật chất tinh thần củ
a
những người đang sống trong ngôi nhà đó.Đối tượng xã hội ngày càng
phát triển, tỷ lệ người già, người độc thân, các cặp vợ chồng mới ngày
càng tăng dẫn tới phải xây dựng những mẫu nhà, mẫu căn hộ thích hợp.
Xã hội phát triển, căn hộ đông người sẽ giảm, lối sống, tập quán của
Đề án chuyên ngành
Kinh tế và quản lý địa chính
C.Mác- Ăngghen: Toàn tập, NXB. Chính trị quốc gia, trang500
.
người dân đô thị thay đổi. Sự hình thành và phát triển các khu dân cư và
quá trình phát triển đô thị luôn gắn liền với phát triển nhà ở. Đi kèm là
sự đa dạng về kiến trúc nhà ở , thể hiện ở phong cách xây dựng, vật liệu
xây dựng , thiết kế bộc lộ quan điểm tôn giáo , nhân sinh , thẩm mỹ.
đảm các tiêu chuẩn của người tiêu dùng do thiếu thông tin về thị trường
nhà ở. Những người cần nhà ở nhất chính là những người nghèo thành
thị, nhưng thị trường nhà ở tư nhân không đáp ứng sự càn nhà mà đáp
ứng nhu cầu có khả năng thanh toán.Trong thực tế, xây dựng nhà ở khu
vực tư nhân có hiệu quả hơn khu vực Nhà nước. Nhưng nếu chúng ta
buông lỏng , không
điều tiết khu vực này sẽ dẫn đến khoảng cách giữa
người giàu và người nghèo tăng lên và dẫn đến sự bất bình đẳng trong xã
hội về nhà ở.
-Khu vực nhà ở không chính thức: Đây là khu vực xây dựng
nhà ở của tư nhân không theo quy tắc, hoặc nhà ở được xây dựng trên
các giá trị của cộng đồng và tự giúp đỡ lẫn nhau. Nhà ở trong khu vực
không chính thức có vô số hình thức, tuỳ thuộ
c vào bối cảnh kinh tế – xã
hội và thiết chế đăc thù của dân cư đô thị. Khu vực này, trên thực tế
đóng góp vào sự gia tăng quỹ nhà ở , đặc biệt đối với những tầng lớp dân
cư có thu nhập thấp.
*Cầu về nhà ở đô thị :
Tại các đô thị các đối tượng có nhu cầu nhà ở bao gồm :
-Nhà ở cho số dân tăng tự nhiên và tăng cơ
học.
-Nhà ở cho những hộ chưa có nhà, đang phải ở chung, ở nhờ,
hoặc phải sống tạm bợ tại các khu ổ chuột.
-Nhà ở cho công chức và lực lượng vũ trang.
-Nhà ở nới thêm diện tích ở cho những hộ hiện đang ở quá
chật.
-Nhà ở phục vụ các đối tượng tái định cư để chỉnh trang và
xây dựng các công trình hạ tầng đô thị
.
-Nhà ở cho viên chức và người lao động tại các khu công
khích các tổ chức kinh doanh tập thể tư nhân tham gia vào quá trình xây
dựng nhà ở, nâng cao giá trị quỹ nhà ở ; mặt khác có khả năng khắc phục
những cơn sốt giả tạo về giá nhà , tạ
o điều kiện thuận lợi cho người dân
thoả mãn nhu cầu của mình.
*Lập kế hoạch xây dựng nhà ở theo đồ án quy hoạch được
duyệt.
Đề án chuyên ngành
Kinh tế và quản lý địa chính
Lập kế hoạch xây dựng và phát triển nhà ở là một công tác
tổng hợp, phức tạp liên quan đến nhiều ngành như giao thông, thương
mại, dịch vụ đồng thời nó gắn liền với sự nghiệp phát triển kinh tế –xã
hội của địa phương. Đây là một công tác quan trọng và cấp bách đòi hỏi
người dân phải quan tâm và nhận thức được điề
u này. Lập kế hoạch xây
dựng và phát triển nhà ở tốt sẽ làm tiền đề quan trọng thúc đẩy phát triển
sản xuất, tăng năng suất lao động, nâng cao đời sống nhân dân, tạo nên
bọ mặt mới cho sự phát triển văn minh của đất nước.
*Cho phép hoặc đình chỉ việc xây dựng, cải tạo nhà ở .
Để bảo đảm nhà ở được xây dựng theo đúng quy hoạch đ
ã được
duyệt, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của quy hoạch tổng thể của
từng địa phương khi xây dựng nhà ở cần có sự chỉ đạo, cho phép của cấp
có thẩm quyền.
*Đăng ký, điều tra, thống kê nhà ở.
Đây là một nôi dung cơ bản trong công tác quản lý Nhà nước
về nhà ở. Nó bảo đảm quyền lợi của người chủ sở hữ
u nhà ở trước pháp
luật và bảo đảm cho cơ quan quản lý nắm được tình hình nhà ở của địa
phương mình và lập kế hoạch phát triển nhà ở.
sách vốn đầu tư vào cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng đã góp phần
giải quyết được nhu cầu nhà ở.Song, với cách sản xuất và phân phối nhà
ở trong thời kỳ bao cấp đã tạo ra nhiều bất công giữa các ngành, cơ quan
xí nghi
ệp. Cùng với sự thiếu kinh nghiệm về quy hoạch, quản lý đô thị
đã dẫn đến hệ thống đường xá, điện nước, vệ sinh môi trường thấp kém .
Theo số liệu điều tra nhà ở năm 1989 cho thấy: vào thời
điểm năm 1989 tỷ lệ dân số ở một số đô thị sống trong những căn nhà
được Nhà nước xây dựng trong giai đoạn 1961- 1975 như sau:
Thành phố Hà Nội: 23,6% dân cư thành phố.
Thành phố Hải Phòng: 19,8%
Thành phố Đà Nẵng: 37%
Thành phố Hồ Chí Minh:42%
Từ năm1975 đến 1985, tỷ lệ quỹ nhà ở mới xây dựng khá cao
trong tổng quỹ nhà của nhiều đô thị lớn như Hà Nội 37,1%; Hải Phòng
43,3%; Đà Nẵng 31,8%; trong khi đó Thành phố Hồ Chí Minh lại lâm
vào tình trạng khó khăn, đình trệ trong lĩnh vực này.
(2)
Đề án chuyên ngành
Kinh tế và quản lý địa chính
Tóm lại, đến cuối những năm 80 của thế kỷ XX chỉ có
khoảng 30% CBCNV Nhà nước được cấp nhà, 70% còn lại phải tự lo
lấy nhà ở của mình bằng nhiều cách khác nhau hoặc phải sống trong
những điều kiện nhà ở chật hẹp, thiếu không gian.
1.2.Từ 1986 đến nay:
Từ năm 1986 đến nay, chế độ bao cấp nhà ở không còn nữa.
Nhà ở đô thị do dân tự lo, hoặc Nhà nước và nhân dân cùng làm, bộ mặt
các khu nhà thay đổi rõ rệt.Theo sự phát triển của nền kinh tế thị trường,
lĩnh vực nhà ở cũng bắt đầu chuyển biến. Đến cuối 1990 diện tích nhà cả
/ người; trong đó Hà Nội có 9 triệu m
2
nhà ở , bình quân là 6,8
m
2
/người , Thành phố Hồ Chí Minh có 33 triệu m
2
nhà ở, bình quân là
7,8 m
2
/người.
Trong giai đoạn này Nhà nước có nhiều văn bản xoá bỏ bao
cấp, khuyến khích nhân dân tự xây dựng nhà ở. Chính sách đầu tư nhà ở
cũng chuyển từ đầu tư có tính chất bao cấp sang chính sách tạo điều kiện
đã khơi dậy tiềm năng của nhân dân trong xây dựng nhà ở.Việc đổi mới
sản xuất nhà ở đô thị ởViệt Nam thể hiện trên hai mặt: kh
ối lượng được
sản xuất ra và cơ cấu đa dạng của các chủ thể tham gia vào quá trình sản
xuất nhà ở .Vì vậy, trong năm 1990 tại các đô thị đã có 1/3 khối lượng
nhà ở được xây dựng bằng tiền của người dân. Năm 1992 vốn đầu tư xây
dựng nhà ở của cơ quan xí nghiệp và nhân dân gấp 2 lần vốn của Nhà
Đề án chuyên ngành
Kinh tế và quản lý địa chính
(2) Giáo trình QLNN về đất đai và nhà ở, trang 248.
nước .Đến 1994 thì 70% nhà ở là do dân tự xây dựng, tỷ lệ này có xu
hướng tăng dần. Điều này làm cho quỹ nhà ở tăng lên đáng kể cả về số
lượng và chất lượng, giải quyết được một bước nhu cầu nhà ở của dân
cư.
Tại các đô thị lớn, nhiều khu nhà ở mới đã và đang được xây
nhà ở còn bộc lộ những hạn chế sau đây:
Đề án chuyên ngành
Kinh tế và quản lý địa chính
*Về phát triển nhà ở :
Quỹ nhà ở tăng lên nhưng bình quân diện tích đầu người vẫn
thấp vì dân số đô thị tăng nhanh. Tình trạng nhà ở trong các đô thị xuống
cấp nghiêm trọng. Hiện có tới hàng triệu m
2
nhà ở đô thị cần sửa chữa
hoặc dỡ bỏ, nhưng do nguồn vốn đầu tư của quỹ nhà ở hạn hẹp nên hàng
triệu người vẫn phải sống chật vật trong những căn nhà này. Nhìn chung
chúng ta chưa có đầy đủ quy hoạch ngắn hạn, dài hạn, và chi tiết, chưa
phân lô, chuẩn bị đất và mặt bằng cho xây dựng lâu dài.Chúng ta chưa
hoàn thành và ban hành chiến lược phát triển nhà ở
đô thị toàn quốc tới
năm 2010 và các chương trình phát triển nhà ở cho đô thị lớn.
*Về phát triển và quản lý đô thị:
Chính sách tạo mặt bằng, chia đất cho dân xây dựng nhà ở
cần được xem xét nghiêm túc. Tại các đô thị – nơi tập trung đông dân
cư, đất xây dựng giảm đi, giá đất ngày càng tăng. Việc thả nổi cho người
dân tự do lo liệu trong việc xây dựng nhà ở, tuy có làm cho quỹ nhà
ở
trong phạm vi cả nước tăng lên đáng kể nhưng đã làm cho kiến trúc và
cảnh quan đô thị bị ảnh hưởng nhiều, cơ sở hạ tầng hầu như không có gì,
gây ra nhiều phức tạp trong việc quản lý kiến trúc và cơ sở hạ tầng.
Ngoài ra, do tài chính eo hẹp, cơ chế thu tiền sử dụng đất, chính sách
giải phóng mặt bằng, các loại thuế và phí chưa hợp lý nên các doanh
nghiệ
p kinh doanh nhà ở chỉ quan tâm tới các dự án nhỏ hoặc chi lô bán
đất để thu hồi nhanh vốn, đảm bảo lợi nhuậnmà ít quan tâm đầu tư các
-Quyền có chỗ ở là một quyền cơ bản của con người được
Nhà nước công nhận và chăm lo, thông qua các chính sách tạo điều kiện
để nhân dân tạo lập nhà ở phù hợp với nhu cầu và khả năng kinh tế của
mình. Nhà nước tạo điều kiện để những người có thu nhập thấp có thể
cải thiện nhà ở thông qua cơ chế chính sách tạo điều kiện c
ủa Nhà nước.
Phải lấy phát triển nhà ở để vừa giải quyết nhu cầu về chỗ ở kết hợp với
giải quyết các vấn đề tồn tại do lịch sử để lại trong lĩnh vực nhà đất .
-Nhà ở là tài sản lớn của cá nhân và hộ gia đình, nhưng cũng
là cơ sở vật chất to lớn của quốc gia, là sản phẩm hàng hoá của m
ột
ngành kinh tế quan trọng.Thị trường nhà ở vừa góp phần vào thực hiện
mục tiêu tăng tổng sản phẩm trong nước vừa nâng cao mức sống nhân
Đề án chuyên ngành
Kinh tế và quản lý địa chính
dân .Vì vậy, Nhà nước cần tạo điều kiện cho hoạt động đầu tư xây dựng
nhà ở phát triển.Tập trung xây dựng và ban hành đồng bộ hệ thống Pháp
luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bảo đảm cho thị trường bất động sản
hoạt động lành mạnh có hiệu quả có sự định hướng của Nhà nước .
-Nhà nước b
ảo đảm khuyến khích các doanh nghiệp, các tổ
chức kinh tế – xã hội, các thành phần kinh tế và mọi nguồn lực đầu tư
xây dựng các công trình nhà ở cho nhân dân đồng thời tạo điều kiện,
đảm bảo hiệu quả kinh doanh cho các chủ đầu tư thực hiện công việc xây
dựng nhà ở và đảm bảo công bằng xã hội đối với những đối tượngđược
thụ hưởng nhà ở.
-Phát tri
ển nhà ở không thể tách rời cơ chế về đất đai, tài chính,
vật liệu xây dựng, khoa học kỹ thuật, cơ cấu tổ chức vì vậy đòi hỏi sự
phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, và sự phân công hợp lý giữa các
ản lý hoật động kinh doanh bất
động sản nhà ở vào nề nếp và đạt hiệu quả cao, bảo đảm các nguyên tắc
công khai, công bằng.
Ba là: Nhà nước và xã hội tiếp tục thực hiện chính sách nhà ở
đối với người có công, quan tâm xây dựng nhà tình thương, giúp đỡ
những đối tượng không thể tự lực tạo lập nhà ở .
2.2.Phương hướng :
Chiến lược phát triển kinh tế –xã hội đề ra “ Phươ
ng hướng
phát triển đô thị là hình thành nhiều trung tâm vừa và nhỏ , phân bố hợp
lý; không tập trung dân cư quá đông vào các thành phố lớn. Một số địa
bàn có vị trí quan trọng đối với từng vùng ( ở phía Bắc là khu vực Hà Nội
– Hải Phòng-Quảng Ninh ; phía Nam là khu vực TP Hồ Chí Minh –Biên
Hoà -Bà Rịa –Vũng Tàu ; miền Trung là Đà Nẵng –Dung Quất và một số
thành phố cảng khác)cần thu hút đầu tư của cả nước và của n
ước
ngoài ”
Việc phát triển nhà ở tại khu vực đô thị phải đáp ứng được các
yêu cầu sau đây:
a.Tập trung huy động các nguồn lực nhằm phát triển quỹ nhà
để giải quyết những bức xúc về chỗ ở của nhân dân các đô thị, đặc biệt
tại các đô thị lớn đang có tốc độ đô thị hoá cao như thủ đô Hà Nộ
i , TP
Hồ Chí Minh , Hải Phòng, Huế, Vũng Tàu, Nha Trang cũng như các
khu công nghiệp tập trung, các khu chế xuất .
Đề án chuyên ngành
Kinh tế và quản lý địa chính
b.Chương trình phát triển nhà ở của từng đô thị phải thúc đẩy
chương trình phát triển kinh tế – xã hội và phục vụ tốt yêu cầu của quá
trình đô thị hoá tại các địa bàn , không thể để tình trạng thiếu nhà ở ảnh
:
3.1.Các giải pháp lớn:
Đề án chuyên ngành
Kinh tế và quản lý địa chính
Để thực hiện được các mục tiêu đã đề ra trong giai đoạn hiện
nay cần thiết phải có các giải pháp, chính sách đồng bộ, trên nguyên tắc
huy động khả năng đóng góp của người có nhu cầu nhà ở. Nhà nước tạo
điều kiện và tham gia tích cực của cộng đồng. Trong đó cần tập trung
vào các lĩnh vực :
(1)Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ươ
ng cần nhận thức
đầy đủ ý nghĩa kinh tế xã hội của phát triển thị trường bất động sản nhà
ở để tập trung chỉ đạo trong giai đoạn hiện nay. Căn cứ vào nội dung yêu
cầu của định hướng phát triển nhà ở quốc gia, chỉ đạo việc xây dựng
chương trình phát triển nhà ở của đô thị. Chương trình này được thông
qua Hội đồng nhân dân có nghị quyế
t trước khi Uỷ ban nhân dân cấp
tỉnh phê duyệt, làm cơ sở trong chương trình phát triển xã hội-kinh tế để
triển khai thực hiện và đánh giá kết quả trong từng kỳ kế hoạch.
(2) Chỉ đạo sát sao việc triển khai công tác qui hoạch các khu
dân cư; chuẩn bị dự án phát triển nhà ở, thực hiện công tác giải phóng
mặt bằng, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và nhà ở. Phấn đấ
u để việc phát
triển nhà ở đô thị được thực hiện theo dự án, từng bước khắc phục tình
trạng xây dựng nhà ở tự phát.
(3) Phát triển vật liệu xây dựng đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà
ở. Trong đó cần chú trọng các giải pháp về công nghệ, ứng dụng vật liệu
mới để nâng cao chất lượng nhà ở.
(4) Củng cố và tăng cường năng lự
c của các tổ chức tư vấn,
gay gắt.
Quy hoạch các khu dân cư phải tính đến khả năng đồng bộ về
hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội. Từ đặc điểm lịc sử, trình độ phát triển
kinh tế của đô thị nước ta, nhà ở đô thị có thể được xây dựng theo phố
hoặc xây dựng các tiểu khu hay nhóm nhà ở đồng bộ với các công trình
phúc lợi xã hội. Thực hiện nghiêm ngặt việc quản lý xây dựng mới, cải
tạo nhà ở tại các khu phố cũ. Có chương trình và kế hoạch cải tạo lại các
loại nhà ở đã xuống cấp hoặc các khu nhà ở mà môi trường tối thiểu
không dảm bảo .
b. Giải pháp về kiến trúc:
Các giải pháp thiết kế
nhà ở cho đô thị bao gồm: Giải pháp cải
tạo nâng cấp nhà ở cũ và giải pháp thiết kế mới cho các loại hình nhà ở.
Đề án chuyên ngành
Kinh tế và quản lý địa chính
* Cải tạo nâng cấp nhà ở cũ trong đô thị:
Các khu nhà ở nhiều tầng cũ được xây dựng từ những năm 60-
70 đến nay đã xuống cấp và biến dạng nhiều do không được tu bổ
thường xuyên, do cơi nới, lấn chiếm các khu nhà này cần được quyết
định cải tạo lại hay phá đi xây mới. Các khu nhà được xem xét giữ lại để
cả
i tạo cần chú ý:
- Cải tạo từng nhà trên nguyên tắc bảo đảm căn hộ độc lập,
khép kín, đủ diện tích theo chỉ tiêu qui định cho mỗi hộ.
- Cải tạo toàn khu chung cư giải phóng các phần cơi nới, lấn
chiếm của từng hộ, giải phóng đất dành cho khuôn viên, sân vườn, bãi
tập thể dục thể thao
- Đối với nhà ở chia lô, nhà ở được xây dựng ở các khu phố từ
trướ
- Về cơ cấu căn hộ: mỗi hộ độc lập phải đảm bảo đủ các
không gian.
+ Phòng khách tối thiểu là 12m
2
, tối đa 20m
2
.
+ Các phòng ngủ tối thiểu 10-14m
2
, tối đa 14-18m
2
.
+ Bếp có kết hợp với phòng ăn.
+Khu vệ sinh, phơi quần áo.
+Tiền sảnh có cây xanh.
Chú ý tổ chức không gian trong và ngòi nhà sinh động, giữ gìn
bản sắc dân tộc .
- Điều kiện tiện nghi và các khả năng tổ hợp không gian:
Không gian nhà ở phải được chiếu sáng, thông thoáng tự nhiên. Bếp,
phòng ăn thuận tiện. Phòng khách có khả năng thay đổi theo nhu cầu của
từng hộ.
- Hoàn thiện và nâng cao thẩm mỹ khu nhà ở:
+ Các tổ chức đầu tư phát triển nhà ở cần chú ý các mẫu thiết
kế, các căn hộ mới và bố trí sắp xếp các khu ở đồng bộ với các tiện nghị
công cộng, đáp ứng nhu cầu ở phù hợp với trình độ phát triển kinh tế xã
hội, tập quán truyền thống dân cư.
Đề án chuyên ngành
Kinh tế và quản lý địa chính
+ Thẩm mỹ khu nhà ở: Việc xây dựng các khu ở đẹp có giá trị
thẩm mỹ là cần thiết, góp phần tích cực vào việc hình thành cuộc sống
nhập trong xã hội. Như vậy, chính sách thuế đối với đất đai phải đảm
Đề án chuyên ngành
Kinh tế và quản lý địa chính
bảo công bằng và có thể điều tiết được chính sách phát triển nhà ở của
chúng ta. Song song với chính sách giá đất, cần có mức thuế đất phù hợp
theo từng thời kỳ để điều tiết việc xây dựng nhà ở tràn lan trong đó sử
dụng đất kém hiệu quả. Thực tế hiện nay ở một số đô thị lớn nhiều
trườ
ng hợp đầu cơ nhà đất dẫn đến việc diện tích nhà ở và đất đai bỏ
trống khi nhu cầu về đất đai của nhiều tầng lớp nhân dân rất lớn. Khi
mức thuế đất được điều tiết đến một mức độ nhất định thì chỉ những
người thực sự có nhu cầu sử dụng đất mới cần đến đấ
t hoặc những người
đang sử dụng đất kém hiệu quả buộc có những phương án có hiệu quả
hơn. Và như vậy nhu cầu đất sẽ giảm đi, nhu cầu chỗ ở trong khu chung
cư tăng lên.
Bên cạnh đó, nhà nước cũng cần điều chỉnh thuế chuyển
quyền sử dụng đất đô thị để đảm bảo chế độ công b
ằng về đất đai, mọi
người dân khi thực hiện mua, bán, cho, tặng, chuyển nhượng đều phải
nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất. Tất cả các đối tượng được sử dụng
đất đề phải đóng thuế . Như vậy đất đai mới luôn thật sự là sở hữu toàn
dân.Thực tế hiện nay, Nhà nước chưa thể quản lý được vi
ệc chuyển
nhượng, sử dụng đất đai do nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân
người dân chưa có khả năng chi trả và nguyên nhân cố tình chây ỳ, chờ
chính sách mới của Nhà nước hợp thức hoá. Do đó cần ủng hộ quan
điểm ghi nợ ngân sách Nhà nước đến khi phát sinh thu nhập từ sử dụng
hoặc chuyển nhượng đất.
-Về tiền thuê đất: Chính sách về tiền thuê hợp lý không những
ột cách chủ quan sẽ tạo nhu cầu giả tạo, gây áp lực trong việc
giải quyết nhà ở. Giá cả quy định cao quá sẽ gây khó khăn cho doanh
nghiệp đầu tư trong sản xuất kinh doanh. Nhà nước nên khống chế mức
giá trần trong việc bán, cho thuê diện tích ở còn giá cả cụ thể do doanh
nghiệp cá nhân tự hạch toán và ấn định. Việc này sẽ giải quyết dược tính
tự chủ trong kinh doanh của chủ đầu tư, ng
ười sử dụng, giải quyết được
sự công bằng trong phân phối diện tích ở.
- Chính sách xã hội trong việc xác định đối tượng được
hưởng ưu đãi và chính sách khuyến khích người dân sống trong các khu
chung cư.
d. Giải pháp về tín dụng ngân hàng:
Đề án chuyên ngành
Kinh tế và quản lý địa chính
Về lãi suất cho vay: Ngân hàng nhà nước đã bỏ qui định về lãi
suất trần cho vay, chuyển sang điều hành theo cơ chế lãi suất cơ bản.
Theo đó, doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng có thể thoả thuận một
cách linh hoạt lãi suất cho vay cố định hay điều chỉnh phù hợp với thời
hạn, mức độ rủi ro.
Về đảm bảo ti
ền vay: áp dụng biện pháp thế chấp cầm cố tài
sản của khách hàng vay, bảo lãnh bằng tài sản bên thứ ba, nếu có đủ
điều kiện.
- Thời hạn vay: phù hợp với thời hạn hoàn vốn của dự án, khả
năng tră nợ của chủ dự án
- Mức cho vay: căn cứ vào nhu cầu vốn của dự án khả năng tài
chính, giá trị bảo đẩm tiền vay của ch
ủ dự án.
e. Giải pháp về thị trường nhà đất.
Tạo cơ sở pháp lý hoàn chỉnh cho việc vận hành thị trường