Thực trạng và giải pháp phân bố và sử dụng nguồn nhân lực ở huyện Bình Liêu, Quảng Ninh - Pdf 97

Chuyờn thc tp tt nghip
LI NểI U
Cựng vi s phỏt trin kinh t xó hi ca t nc ngun nhõn lc ca
chỳng ta ó gúp phn khụng nh vo cụng cuc xõy dng v phỏt trin ú.
Ngun nhõn lc l mt ti nguyờn vụ giỏ ca xó hi vỡ vy chỳng ta phi bit
khai thỏc, s dng sao t hiu qu cao nht. iu ny ph thuc rt ln vo
vic phõn b v s dng ngun lc ny, khụng ch tn dng ngun lc sn cú
gúp phn phỏt trin kinh t xó hi m cũn gii quyt tt cỏc vn xó hi.
Qua quỏ trỡnh thc tp v nghiờn cu tai phũng Ni v lao ng thng
binh v xó hi huyn Bỡnh Liờu em thy lc lng lao ng õy khỏ di do,
chim hn na s dõn ca huờn. Nhng vn s dng lao ng õy khụng
hp lý vỡ vic phõn b lao ng cha tt, tp trung quỏ nhiu khu vc sn xut
Nụng lõm nghip, cha tn dng ht tim nng sn cú ca huyn. Do ú vn
phõn b v s dng nhõn lc huyn Bỡnh Liờu l vn cn phi c nghiờn
cu.
Vi mt s kin thc ớt i ca mỡnh em mun úng gúp mt phn nh vo
vic thỏo g khú khn vng mc trong vic phõn b v s dng ngun nhõn
lc ca huyn. Em ó chn ti Thực trạng và giải pháp phân bố và sử
dụng nguồn nhân lực ở huyện Bình Liêu tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2000
-2010 và những năm tiếp theo. lm chuyờn thc tp tt nghip.
Kt cu chuyờn gm 3 chng:
Chng I: lý lun c bn v phõn b v s dng ngun nhõn lc.
Chng II: phõn tớch thc trng phõn b v s dng ngun nhõn lc
huyn Bỡnh Liờu t 2000 - 2006.
Chng III: cỏc gii phỏp ch yu phõn b v s dng cú hiu qu
ngun nhõn lc huyn Bỡnh Liờu nhng nm ti.
Sinh viờn: Hong Ngc Hng Lp KTL K36
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG I
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ SỦ DỤNG VÀ
PHÂN BỔ NGUỒN NHÂN LỰC

Nguồn lực này bao gồm toàn bộ những người nằm trong độ tuổi lao động
có khả năng lao động không kể đến trạng thái có làm việc hay không làm việc.
Theo thống kê của liên hợp quốc khái niệm này gọi là dân số hoạt động, có
nghĩa là tất cả những người có khả năng làm việc trong dân số trình độ theo tuổi
lao động.
Nguồn nhân lực tham gia vào hoạt động kinh tế hay còn gọi là dân số hoạt
động kinh tế.
Đây là số người có công ăn việc làm đang hoạt động trong các ngành kinh
tế và văn hoá xã hội.
Như vậy nguồn nhân lực sẵn có trong dân số và nguồn nhân lực tham gia
vào hoạt động kinh tế có sự khác nhau. Sự khác nhau này là do một số bộ phận
những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, nhưng vì nhiều
nguyên nhân khác nhau, chưa tham gia vào hoạt động kinh tế ( thất nghiệp, có
việc làm nhưng không muốn làm việc, còn đang học tập, có nguồn thu nhập
khác nên không cần đi làm).
Khi có số liệu về dân số hoạt động và dân số không hoạt động kinh tế
người ta tính theo một số chỉ tiêu về mức đảm nhiệm như sau:
Tổng dân số- số nhân khẩu hoạt động kinh tế
Mức đảm nhiệm 1 =
...................................................................................................................
nhân khẩu hoạt động số nhân khẩu hoạt động
Mức đảm nhiệm của 1 Tổng số dân - số nhân khẩu hoạt động kinh tế
nhân khẩu hoạt động =
................................................................................................
kinh tế Số nhân khẩu hoạt động kinh tế
Mức đảm nhiệm về gia Số nhân khẩu phải nuôi
đình của 1 nhân khẩu =
......................................................................
hoạt động số nhân khẩu phải nuôi
Sinh viên: Hoàng Ngọc Hưng Lớp KTLĐ K36

Chia ra
+ Bộ phận nguồn lao động chính. Đây là bộ phận nằm trong độ tuổi lao
động và có khả năng lao độmg
Sinh viên: Hoàng Ngọc Hưng Lớp KTLĐ K36
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
+ Bộ phận nguồn lao động phụ: Đây là bộ phận dân cư nằm ngoài độ tuổi
lao động có thể và cần tham gia vào nền sản xuất. Thực tế có một bộ phận dân
cư nằm ngoài độ tuổi lao động vì nhiều nguyên nhân hiện đang tham gia vào nền
sản xuất. đối với nền kinh tế kém phát triển thì nhu cầu làm việc của số người
này càng cao. Ở nước ta qui định người ở độ tuổi 12, 13, 14 và những người quá
tuổi từ 56-60 đối với nữ và 61-65 đối với nam được tính vào bộ phận này.
+ Nguồn lao động khác: Là bộ phận nguồn nhân lực hàng năm được bổ
xung thêm từ bộ phận xuất khẩu lao động, hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về.
Căn cứ vào trạng thái làm việc hay không làm việc.
Người ta chia ra
+ Lực lượng lao động: Bao gồm những người thuộc lực lượng lao động có
khả năng lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và những người
thất nghiệp song có nhu cầu tìm việc làm.
+ Nguồn lao động: Bao gồm những người thuộc lực lượng lao động và
những người thất nghiệp song không có nhu cầu tìm việc làm.
3. Phương pháp xác định nguồn nhân lực.
3.1. Dân số hoạt động kinh tế.
Dân số hoạt động kinh tế còn gọi là lực lượng lao động bao gồm những
người đủ từ 15 tuổi trở lên đang có việc làm hoặc không có việc làm nhưng có
nhu cầu tìm việc làm. Đây là lực lượng quan trọng nhất.
+ Dân số hoạt động kinh tế thường xuyên: Là những người đủ từ 15 năm
tuổi trở lên có tổng số ngày làm việc và ngày có nhu cầu làm thêm lớn hơn hoặc
bằng 183 ngày.
+ Dân số hoạt động không thường xuyên là những người đủ từ 15 tuổi trở
lên có tổng số ngày làm việc trong năm nhỏ hơn 183 ngày.

: dân số hoạt động kinh tế.
3.5. Tỷ lệ người thất nghiệp
Là tỷ lệ % số người thất nghiệp so với dân số hoạt động kinh tế
N
TN
T
TL
% =
...................
D
KT
T
TN
: Tỷ lệ thất nghiệp
N
TN
: số người thất nghiệp
3.6. Tỷ lệ người thiếu việc làm.
Là tỷ lệ người thiếu việc làm so với dân số hoạt động kinh tế.
N
TVL
T
TVL
% =
.....................
D
KT
T
TVL
: Tỷ lệ thiếu việc làm

qui luật, một xu thế tiến bộ hơn so với trước nhằm sử dụng có hiệu quả hơn
nguồn nhân lực để phát triển và tăng trưởng kinh tế.
4.2. Cơ cấu của nguồn nhân lực.
4.2.1. Cơ cấu nguồn nhân lực theo không gian: bao gồm cơ cấu nguồn nhân lực
theo vùng, ngành khu vực, thành phần kinh tế.
Bảng 1:
Cơ cấu nguồn nhân lực chia theo khu vực thành thị
và nông thôn của nước ta
Đơn vị: Người
Khu vực 2002 2003 2004 2005
Thành thị 20.022100 20.869200 21.131200 22.336800
Nông thôn 59.705300 60.032900 60.294500 60.769500
(Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam)
Qua bảng cho thấy cơ cấu nguồn nhân lực chia theo khu vực thành thị và
nông thôn thì cả hai khu vực đều tăng.
Bảng 2: Tỷ lệ lao động theo khu vực
Ta có thể thấy tình hình tăng tỷ lệ lao động ở các khu vực như sau:
Đơn vị: %
Khu vực 2002 2003 2004 2005
Thành thị 25,11 25,80 24,50 26,88
Nông thôn 74,89 74,20 75,50 73,12
(Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam)
4.2.2. Cơ cấu nguồn nhân lực theo giới tính, độ tuổi của người lao động
Bảng 3: Cơ cấu nguồn nhân lực chia theo nhóm tuổi ở nước ta năm 2005
Sinh viên: Hoàng Ngọc Hưng Lớp KTLĐ K36
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nhóm tuổi Người Tỷ lệ %
15-24 18.865130 22.7
25-34 23.319628 28,06
35-44 22.862543 27,51

làm việc của từng cá nhân người lao động.
Sinh viên: Hoàng Ngọc Hưng Lớp KTLĐ K36
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
-Trong quá trình sử dụng lao động phải tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi
cho người lao động có thể phát triển một cách toàn diện về sức khẻo, khả năng
làm việc và tính năng động sáng tạo của người lao động.
5.2. Nội dung của sử dụng lao động.
Xuất phát từ mục tiêu trên, nội dung của sử dụng lao động bao gồm hai
nội dung cơ bản.
Một là: Tìm kiếm giải pháp nhằm phát hiện đánh giá, khai thác tổng hợp
năng lực của từng cá nhân tạo ra sức mạnh tổng hợp của tập thể nguồn lao động.
Hai là: Tìm kiếm giải pháp nhằm đào tạo bồi dưỡng, nâng cao chất lượng
nguồn lao động để có thể đạt được hiệu quả cao.
II. Sự cần thiết phải nghiên cứu sự phân bố và sử dụng nguồn nhân lực.
1.Vai trò của nguồn nhân lực trong đời sống kinh tế xã hội.
Nguồn nhân lực là một trong những tàì nguyên quí giá để góp phần phát
triển kinh tế xã hội. Là yếu tố đóng vai trò quyết định trong sự phát triển của các
ngành. Nếu không có nguồn nhân lực thì kinh tế sẽ không phát triển.
Quảng Ninh là tỉnh thuộc miền núi phía Đông Bắc Bộ có nhiều tài nguyên
thiên nhiên nhưng Tỉnh không ỉ lại vào tài nguyên thiên nhiên sẵn có mà Tỉnh đã
biết khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên có hiệu quả bằng cách phân bố
và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực vào các lĩnh vực của đời sống kinh tế
nên Quảng Ninh đã trở thành một cực trong tam giác phát triển của vùng kinh tế
trọng điểm Bắc Bộ, địa bàn động lực phát triển năng động có tộc độ tăng trưởng
cao, bền vững thúc đẩy phát triển bên trong, đối ứng cạnh tranh với bên ngoài.
Qua đó có thể thấy rằng nguồn nhân lực đóng một vai trò rất quan trọng
trong đời sống kinh tế xã hội. Một tài nguyên không bao giờ cạn kiệt nếu chúng
ta biết khai thác và sử dụng một cách hợp lý, có hiệu quả, nó sẽ đem lai hiệu quả
kinh tế cao.
2. Sự cần thiết phải phân bố và sử dụng nguồn lao động hợp lý.

được công ăn việc làm cho người lao động vừa thúc đẩy kinh tế phát triển.
Nếu chúng ta không biết phân bố và sử dụng hợp lý nguồn nhân lực dồi
dào, một thế mạnh của đất nước để phát triển kinh tế thì ngược lại gây lãng phí
nguồn nhân lực, nền kinh tế bị kìm hãm, thu nhập của người lao động giảm xút,
phân hoá giàu nghèo tăng nhanh, các tệ nạn và tội phạm phát triển.
Sinh viên: Hoàng Ngọc Hưng Lớp KTLĐ K36
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Phân bố và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực giúp người lao động tham
gia vào quá trình sản xuất xã hội đó là yêu cầu và là nguyện vọng của mọi người
dân và cũng là điều kiện cơ bản để tồn tại và phát triển loài người.
3. Nội dung của phân bố và sử dụng nguồn nhân lực ở Việt Nam.
3.1. Phân bố và sử dụng nguồn nhân lực theo lĩnh vực sản xuất vật chất và
không sản xuất vật chất.
Phương pháp luận chia hai lĩnh vực này dựa trên sự phân chia lao động
sản xuất và lao động không sản xuất chủ yếu xuất phát từ tính chất vật chất của
lao động.
Lao động ra sản xuất vật chất tạo ra của cải vật chất, mang hình thái hiện
vật gồm tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng. Nó sáng tạo ra sản phẩm xã hội và
thu nhập quốc dân. Tính chất của lao động này biểu hiện ra ở chỗ nó được vật
chất hoá.
Lao động không sản xuất vật chất cũng là lao động cần thiết có ích cho
đối với xã hội. Trong điều kiện hiện nay vai trò của lao động hoạt động trong
lĩnh vực này càng trở nên quan trọng, vì lẽ khoa học kỹ thuật trở thành lực lượng
sản xuất trực tiếp.
Giữa các nước có trình độ phát triển khác nhau thì cơ cấu nguồn nhân lực
trong hai lĩnh vực này cũng khác nhau. Đối với các nước có nền kinh tế phát
triển lực lượng sản xuất hoạt động trong lĩnh vực không sản xuất vật chất chiếm
một tỷ lệ lớn và cao hơn lực lượng lao động hoạt động trong các ngành sản xuất
vật chất. Đối với các nước nghèo kinh tế chậm phát triển thì ngược lại tỷ lệ lao
động trong lĩnh vực sản xuất vật chất lại cao hơn so với lao động trong lĩnh vực

Xu hướng biến đổi chung của sự phân bố này là tăng tỷ trọng trong các
ngành công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng lao động làm việc trong các ngành
nông nghiệp. Để sử dụng tốt hơn nguồn lực hiện có vận dụng vào được những
thành tựu hiện có của khoa học kỹ thuật.
Nước ta là một nước đang phát triển, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu.
Phần lớn lao động sống ở nông thôn và sống dựa vào sản xuất nông nghiệp.
Trong khi đó đất đai sản xuất trong nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do sự gia
tăng dân số nhanh, dẫn đến năng suất lao động không ngừng bị giảm. Dẫn đến
Sinh viên: Hoàng Ngọc Hưng Lớp KTLĐ K36
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tình trạng thiếu việc làm lao động bị dư thừa, tỷ suất sử dụng nguồn nhân lực
vào sản xuất sản phẩm vật chất thấp.
Trong ngành công nghiệp, dưới tác động của khoa học công nghệ sẽ thúc
đẩy hình thành ngành nghề mới tạo ra nhiều sản phẩn mới, nâng cao chất lượng
sản phẩm. Tiến bộ khoa học công nghệ đi đôi với biến đổi cơ cấu lao động theo
hướng: thu thêm lao động vào các ngành nghề mới, giảm lao động phổ thông,
lao động giản đơn, nâng cao tỷ lệ lao động chất xám, lao động kỹ thuật. Vì các
ngành công nghiệp sẽ thu hút và ngày càng sử dụng nhiều lao động từ nông
nghiệp chuyển sang.
Khi công nghiệp phát triển đến một trình độ nhất định thì nhu cầu về các
loại hình dịch vụ tăng lên. Thu hút một lực lượng lao động từ công nghiệp
chuyển sang dịch vụ là rất cao. trong khi ngành nông nghiệp chỉ sử dụng một tỷ
trọng rất nhỏ nguồn nhân lực.
Căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế xã hội chung của đất nước. Đảng
và nhà nước ta đã xác định phương hướng phát triển công nghiệp ở nước ta.
+ Chú trọng phát triển công nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản gắn với
nông nghiệp và kinh tế nông thôn.
+ Phát triển mạnh công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu, các
ngành này phải chú trọng đổi mới công nghệ để tăng sức cạnh tranh trên thị
trường.

động không sử dụng hết ở các vùng đồng bằng trong khi đó vùng trung du miền
núi lại thiếu lao động để khai thác. Nhà nước phải có nhữnh chính sách khuyến
khích lao động làm kinh tế ở các khu vực trung du miền núi nhằm làm giảm bớt
sức ép về việc làm ở khu vực đồng bằng. Tận dụng có hiệu quả nguồn lực sẵn có
không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế cao mà còn giải quyết tốt các vấn đề xã hội,
góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển.

CHƯƠNG II
Sinh viên: Hoàng Ngọc Hưng Lớp KTLĐ K36
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÂN BỐ VÀ
SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC HUYỆN BÌNH LIÊU
TỈNH QUẢNG NINH
I. Quá trình hình thành và đặc điểm kinh tế xã hội của huyện Bình Liêu
tỉnh Quảng Ninh.
1. Quá trình hình thành và phát triên của huyện Bình Liêu.
1.1. Quá trình hình thành
Bình Liêu ngày nay, dưới thời phong kiến Việt Nam, khi thực dân pháp
chưa xâm lược gồm hai tổng Bình Liêu và Kiến Duyên của châu Tiên Yên thuộc
phủ Hải Ninh ( phủ Hải Ninh gồm có ba châu: Móng Cái, Tiên Yên , Hà Cối ),
tỉnh Quảng Yên. Ngày 12 tháng 3 năm 1883, thực dân pháp đánh chiếm Quảng
Yên và sau đó chiếm huỵên Bình Liêu, từng bước củng cố ách thống trị của
chúng. Ngày 10 tháng 12 năm 1906, phủ toàn quyền Pháp ra nghị định tách ba
châu: Móng Cái, Tiên Yên, Hà Cối khỏi tỉnh Quảng Yên, thành lập tỉnh mới Hải
Ninh. Ngày 14 tháng 12 năm 1912 phủ toàn quyền Pháp ra nghị định xoá bỏ tỉnh
Hải Ninh lập đạo quân binh thứ nhất. Ngày 16 tháng 12 năm 1919 phủ toàn
quyền pháp ra nghị định tách hai tổng Bình Liêu và Kiến Duyên khỏi châu Tiên
Yên, lập châu Bình Liêu gồm hai tổng: Bình Liêu và Kiến Duyên. (Tổng Bình
Liêu gồm có: Một thị trấn và bốn xã, tổng Kiến Duyên gồm có: Ba xã và một
phần Pháp cắt cho Trung Quốc năm 1893 thuộc tỉnh Quảng Tây).

Thành tạo sự giao lưu mậu dịch biên giới, trao đổi hàng háo, thúc đẩy sự phát
triển kinh tế - thương mại, dịch vụ trên địa bàn huyện.
Hệ thống kết cấu hạ tầng từng bước được xây dựng và cải thiện là khâu
đột phá tạo tiền đề cho phát triển kinh tế xã hội của huyện. Tuyến giao thông
duy nhất là quốc lộ 18c đường nhựa cấp 5 miền núi chạy dọc giữa huyện từ Tiên
Yên đến cửa khẩu Hoành Mô kết nối Huyện Bình Liêu với các trung tâm kinh tế
của tỉnh phục vụ phát triển kinh tế xã hội.
1.2.2. Địa hình.
Cấu trúc địa hình đa dạng của miền núi cao, phân dị độ dốc lớn, nên đất
thường bị xói mòn rửa trôi, ảnh hưởng đến sản xuất nông lâm nghiệp. Độ cao
phổ biến khoảng 300-400m; có một đỉnh cao trên 1000m ( như cao Xiêm).
Địa hình đồi núi rất lớn, chiếm 90 % diện tích, chia thành các vùng chính:
+ Vùng tây sông Bình Liêu
+ Vùng đông sông Bình Liêu
+ Vùng núi cao Đông Bắc
1.2.3. Khí hậu thuỷ văn .
Do ảnh hưởng của vị trí địa lý và cấu trúc địa hình, đặc trưng của khí hậu
Bình Liêu là khí hậu miền núi phân hoá theo đai cao, tạo ra những tiểu vùng
Sinh viên: Hoàng Ngọc Hưng Lớp KTLĐ K36
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nhiệt đới và á nhiệt đới thuận lợi cho phát triển các loại cây trồng, vật nuôi như:
Hồi, quế, trẩu, sở ; vùng thấp phù hợp với các loại cây ăn quả như: Nhãn, vải,
hồng...yếu tố hạn chế là trong mùa khô là rất thiếu nước và chịu ảnh hưởng của
hiện tượng thời tiết bất lợi như băng giá, sương muối. nhiệt độ trung bình từ
18
o
c-28
o
c, nhiệt độ trung bình cao nhất mùa hạ từ 30
o

theo sự phân loại được phân vùng như sau:
Sinh viên: Hoàng Ngọc Hưng Lớp KTLĐ K36
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
+ Loai đất Meviôlit: Phân bố chủ yếu là ở phía đông và phía nam sông
Tiên Yên chảy dài theo dãy núi Cao Xiêm và Cao Ba Lanh ( dọc từ xã Đồng
Văn- Hoành Mô đến huyện Tiên Yên) loại đất này có độ phì cao, tầng dầy trung
bình khoảng từ 0,6-0,8m độ ẩm cao, mùa khô nhiệt độ thấp phù hợp cho trồng
các loại cây công nghiệp có dầu như: hồi, quế, trẩu, sở.
Loại đất Feralit phát triển trên đất phiến sa thạch có tầng đất mỏng trung
bình từ 0,4 - 0,6m độ phì kém, độ dốc lớn nên dẽ bị sói mòn và rửa trôi, phân bố
chủ yếu ở phía tây bắc sông Tiên Yên, loai đất này phù hợp với loại cây: thông
mã vĩ, bạch đàn keo, ở một số vùng ven khe suối và chân núi có thể trồng các
loại cây: hồi, quế, xa mộc và các loại cây ăn quả.
1.2.5. Tài nguyên rừng.
Tổng diện tích rừng 17.374 ha.
a. Rừng tự nhiên: 5.953 ha.
b. Rừng trồng: 11.412 ha.
1.2.6. Tài nguyên khoáng sản.
Do cấu trúc tài nguyên khoáng sản huyện nghèo về số lượng và chất
lượng đây là sự hạn chế đối với sự pját triển kinh tế của huỵện.
1.3. Dân số nguồn lao động.
1.3.1. Qui mô dấn số.
Dân số trung bình của huyện Bình Liêu năm 2005 là 27.660 người, chiếm
khoảng 2,5 % dân số của tỉnh.
1.3.2. Cơ cấu dân số theo giới tính, dân tộc, độ tuổi.
Bình Liêu có 5 dân tộc chính thuộc các dân tộc ít người trong cộng đồng
các dân tộc Việt Nam, sống phân tán và xen kẽ, trong đó chủ yếu là người Tày,
Dao, Sán Chỉ:
- Dân tộc Tày chiếm 56,5 %
- Dân tộc Dao chiếm 30,3 %

và sử dụng nhân lực
Sản xuất nông - lâm nghiệp chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế
huyện Bình liêu, đóng góp trên 50 % GDP và 90 % lực lượng lao động, đảm bảo
ổn định đời sống cho nhân dân trên địa bàn huyện.
Cơ cấu kinh tế của huyện Bình liêu thể hiện những nét đặc trưng của kinh
tế miền núi, dân tộc, có cửa khẩu biên giới, theo đó tỷ trọng trong khu vực nông
- lâm nghiệp và dịch vụ khá cao, tỷ trọng trong khu vực công nghiệp - tiểu thủ
công nghiệp rất thấp ( chỉ chiếm 2,24 % GDP). Cơ cấu kinh tế của huyện tiếp
tục chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng của khu vực công nghiệp xây dựng
tiểu thủ công nghiệp tăng, giảm tỷ trọng nông nghiệp song vẫn còn chậm.
Sinh viên: Hoàng Ngọc Hưng Lớp KTLĐ K36
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Có 89 % dân số sống bằng nghề nông. Mặt khác các cơ sở sản xuất công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp nhỏ, lẻ, chỉ sản xuất các mặt hàng thủ công không
đủ sức cạnh tranh. Việc mở rộng nghành nghề gặp rất nhiều khó khăn.
Tuy còn gặp nhiều khó khăn xong huyện đã có những chính sách phát
triển kinh tế phù hợp với điều kiện của mình. Một số kết quả đạt được khi thực
hiện kế hoạch kinh tế xã hội 5 năm ( 2001- 2005)
+ Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện giai đoạn 2001- 2005
đạt 362,5 tỷ đồng, bình quân mỗi năm thu được 72,5 tỷ đồng, tốc độ tăng bình
quân 12,7 % năm.
+Thu nhập bình quân đầu người đạt 1700000 đồng trên năm.
Qua đó cho thấy Bình Liêu là một huyện miền núi, dân tộc thu nhập của
đồng bào vẫn dựa vào sản xuất nông lâm nghiệp là chủ yếu, các ngành dịch vụ
thương mại và các ngành khác còn kém phát triển. Song nguồn nhân lực hoạt
động trong lĩnh vực chiếm tỷ lệ lớn. Do vậy việc phân bố và sử dụng nguồn
nhân lực gặp rất nhiều khó khăn vì công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và các
ngành dịch vụ kém phát triển.
Kết quả thực hiện kế hoạch 5 năm của các ngành cụ thể như sau:
+ Sản xuất nông nghiệp phát triển tương đối toàn diện , có sự chuyển biến

4,46%/năm giai đoạn năm 2000-2004, thông qua các dự án trồng rừng ( dự án
327, dự án tròng 5 triệu ha rừng, dự án định canh định cư, dự án PAM, dự án
trồng rừng Việt Đức), đồng thời thực hiện tốt công tác giao đất giao rừng,
chuyển dần xã hội hoá việc bảp vệ và phát triển rừng. đến nay đã có 85% số hộ
nông dân được nhận đất, rừng để đầu tư trồng
rừng, kết hợp với chăn nuôi góp phần giải quyết việc làm xoá đói giảm nghèo ở
nông thôn.
Tổng diện tích gieo trồng rừng mới tập trung trên địa bàn các năm
2000-2004 là 5.021 ha, bình quân khoảng 1000 ha/năm, trong đó chủ yếu là cây
thông, cây keo, các cây đặc sản ( hồi, quế,sở chiếm 30% diện tích rừng trồng) và
trang trại- vườn- rừng. Tổng diện tích tu bổ, khoanh nuôi 5 năm 2000-2004
là5.780 ha, bình quân khoảng 1150 ha/năm.
Sinh viên: Hoàng Ngọc Hưng Lớp KTLĐ K36
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Diện tích rừng hồi đạt 6.078 ha, sản lượng thu hái ở mức ổn định trung
bình 300-400 tấn/năm, rừng quế gần 3000 ha.Giá tri sản xuất lâm nghiệp đạt gần
20 tỷ đồng.
+ Tiểu thủ công nghiệp: Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp vẫn giữ
được nhịp độ phát triển ổn định và có bước tăng trưởng, một số ngành sản xuất
được mở rộng như: sửa chữa xe máy, gò hàn, sửa chữa điện tử...những ngành
nghề có tốc độ tăng trưởng rõ rệt là: sản xuất vật liệu xây dựng ( gạch chỉ, khai
thác cát, đá, sỏi), sản xuất đồ mộc và xây dựng, chế biến nông lâm sản... đã thu
hút và giải quyết được nhiều việc làm, tăng thu nhập cho người lao động địa
phương. Giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp hàng năm thực hiện 2.241 triệu
đồng, tăng gấp 1,7 lần so với mức bình quân 5 năm trước. Bình quân hành năm
sản xuất 4 triệu viên gạch nung, khai thác trên 15.000m
3
cát, đá sỏi, xay xát trên
7.500 tấn lương thực. Đã đầu tư dây truyền mới cho sản xuất miến dong, đang
tiến hành xây dựng dự án sản xuất gạch tập trung theo qui mô công nghiệp để

về kinh tế - thương mại giữa các địa phương với tỉnh Quảng Tây. Vị thế của
Bình Liêu tạo điều kiện giao lưu kinh tế - thương mại, trao đổi hàng hoá, phát
triển dịch vụ xuất nhập khẩu với đối tác huyện Phòng Thành kề bên.
Trong những năm gần đây từng bước xây dựng được kết cấu hạ tầng kỹ
thuật ( giao thông, bưu chính viễn thông, thuỷ lợi ) tương đối hoàn chỉnh và phát
huy tác dụng là một trong những khâu đột phá trọng tâm cho phát triển kinh tế
xã hội của huyện.
* khó khăn
Tiềm lực kinh tế của huyện miền núi còn nhỏ bé, xuất phát điểm của nền
kinh tế thấp, phát triển chưa thật bền vững và chưa tương xứng với tiềm năng và
yêu cầu của sự phát triển.
Chất lượng của nguồn nhân lực còn thấp so với yêu cầu phát triển CNH ;
HĐH ; trình độ tay nghề ( trình độ kỹ thuật, kỹ năng lành nghề) còn nhiều hạn
chế. Dân cư phân bố phân tán xen kẽ gây khó khăn cho phát triển sản xuất.
Ngân sách của huyện hạn hẹp, vẫn phải có trợ cấp của tỉnh và TW trong cân đối
chi ngân sách hành năm của địa phương, nên ảnh hưởng đến sự phát triển chưa
ổn định, bền vững của nền kinh tế huyện.
Sinh viên: Hoàng Ngọc Hưng Lớp KTLĐ K36
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Do chưa phát huy hết yếu tố nội lực, thiếu một cơ chế tài chính phù hợp
nên các hoạt động dịch vụ giao lưu mậu dịch tại cửa khẩu Hoành Mô- Đồng Văn
chưa phát huy được đầy đủ lợi thế của khu vực.
Khoa học công nghệ chưa tác động mạnh đối với việc thực hiện các mục
tiêu kinh tế.
Đời sống của đồng bào dân tộc còn thấp, dân trí thấp, vẫn còn trông trờ
vào nhà nước.
II. Phân tích và đánh giá thực trạng phân bố và sử dụng nguồn nhân lực ở
huyện Bình Liêu.
1.Thực trạng phân bố nguồn lực
1.1.Dân số và lao động toàn huyện

%, giảm 4,7 % do vậy vấn đề phân bố và sử dụng lao động sao cho hợp lý để
giải quyết số lao đông dư thừa này.
Dân số của huyện ngày một tăng kéo theo nguồn nhân lực tăng theo trong
khi diện tích đất đai cố định. mặt khác đây là một huyện miền núi và dân tộc
hoạt động sản xuất chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất nông lâm nghiệp , nguồn
nhân lực tăng lên diện tích đất canh tác bình quân/người sẽ giảm, dẫn đến năng
suất giảm theo, do vậy thu nhập của người dân thấp, số lao động thiếu việc làm
sẽ tăng lên, làm cho kinh tế xã hội của huyện chậm phát triển.
1.2. Phân bố nguồn lực theo giới tính và độ tuổi của lực lượng lao động huyện
qua 2 năm 2001 và 2005.
Bảng 7: Cơ cấu theo giới và độ tuổi của lực lượng lao động huyện.
Tuổi 2001 2005
Nam Nữ Nam Nữ
SN Tỷ lệ SN Tỷ lệ SN Tỷ lệ SN Tỷ lệ
15-19 1.619 11,24 1.800 12,50 1.466 10,56 1.493 10,75
20-24 1.155 8,02 1.284 8,91 1.023 7,37 1.272 9,15
25-29 1.037 7,20 1.153 8,00 852 6,15 954 6,87
30-34 935 6,49 1,039 7,21 857 6,17 877 6,39
35-39 735 5,10 817 5,67 885 6,37 803 5,79
40-44 424 2,94 472 3,27 775 5,59 548 3,95
45-49 374 2,95 466 3,23 470 3,38 506 3,64
50-54 364 2,52 407 2,82 332 2,39 332 2,39
55-59 298 2,07 280 2,02
Tổng 6.941 48,17 7.437 51,61 6.940 50,01 6.785 48,94
(Nguồn: UBDS và KHHGĐ huyện Bình Liêu)
Qua bảng cho thấy lực lượng lao động trong độ tuổi của nữ năm 2001
nhiều hơn năm 2005 . do đặc điểm của nam giới thường hoạt động trong các lĩnh
vực đòi hỏi phải có sức khoẻ như các ngành công nghiệp, công nghiệp khai thác.
còn nữ giới thích hợp với các nghề đòi hỏi sự dẻo dai, khéo léo, nhưng công
việc thủ công không đòi hỏi phải mất nhiều sức lực. Do vậy, cần phải phân bố


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status