Luận văn tốt nghiệp Khoa tài chính kế toán
LỜI MỞ ĐẦU
* * *
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường có tính cạnh tranh gay gắt như
hiện nay, buộc các Doanh Nghiệp muốn tồn tại và phát triển bền vững phải
đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường, không những sản xuất ra
những sản phẩm có chất lượng tốt mà còn phải tìm mọi biện pháp để hạ giá
thành sản phẩm. Đây chính là tiền đề tích cực giúp Doanh Nghiệp đẩy
mạnh tiêu thụ, tăng nhanh quay vòng vốn và đem lại nhiều lợi nhuận, từ đó
tăng nhanh tích lũy cho Doanh Nghiệp và nâng cao đời sống cho công nhân
viên.
Để đạt được điều đó thì trước tiên các Doanh Nghiệp phải quản lý
chặt chẽ Chi phí sản xuất (CPSX), tính toán chính xác Giá thành sản phẩm
thông qua bộ phận Kế toán tập hợp CPSX và tính giá thành sản phẩm.
Thông qua công tác kế toán CPSX và tính giá thành sản phẩm sẽ cung cấp
những thông tin chính xác và cần thiết giúp nhà quản lý Doanh Nghiệp
phân tích, đánh giá được tình hình thực hiện các định mức chi phí, tình
hình sử dụng vật tư, lao động, máy móc, thiết bị, tiền vốn...tiết kiệm hay
lãng phí, có hiệu quả hay không. Từ đó tìm ra các biện pháp hữu hiệu nhất
nhằm quản lý tốt chi phí và hạ giá thành sản phẩm; và đề ra các quyết định
phù hợp cho sự phát triển kinh doanh và yêu cầu quản trị Doanh Nghiệp.
Đặc biệt là, CPSX và Giá thành sản phẩm là hai chỉ tiêu kinh tế quan trọng
đối với các nhà quản lý Doanh Nghiệp vì chúng phản ánh chất lượng hoạt
động sản xuất kinh doanh của Doanh Nghiệp. Chính vì vậy, việc tổ chức
tốt công tác kế toán tập hợp CPSX và tính Giá thành sản phẩm là một yêu
cầu thiết yếu và là một trong những vấn đề được các Doanh Nghiệp quan
tâm.
Sau một thời gian thực tập tại Công ty xây dựng cấp thoát nước và
hạ tầng kỹ thuật, được sự hướng dẫn tận tình của cô giáo Nguyễn Thị Nụ
và được sự giúp đỡ của các cô chú, các anh chị ở Phòng tài vụ Công ty, em
SV: Đỗ Thị Hiền Lương_MS: 943238 Trường ĐHDL PHương Đông
I. NHẬN THỨC CHUNG VỀ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN
PHẨM TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY LẮP
1. Đặc điểm chung về hoạt đông xây lắp ảnh hưởng đến công tác hạch
toán kế toán trong các Doanh Nghiệp xây lắp
Kinh doanh xây lắp là ngành sản xuất vật chất quan trọng mang tính
chất công nghiệp nhằm tạo cơ sở vật chất hạ tầng cho nền kinh tế quốc dân.
Thông thường công tác xây dựng cơ bản do các đơn vị xây lắp nhận thầu
tiến hành. Hơn nữa ngành xây lắp có đặc thù, có vai trò quan trọng trong sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Khác với các ngành sản
xuất khác,xây dựng cơ bản có những đặc điểm kinh tế kỹ thuật đặc trưng
được thể hiện rất rõ ở sản phẩm xây dựng và quá trình sáng tạo ra sản phẩm
của ngành. Chính sự khác biệt đó đã ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản
lý và hạch toán trong xây dựng cơ bản. Những đặc thù riêng đó được thể
hiện trên các góc độ sau:
- Thứ nhất, hoạt động xây lắp chủ yếu thực hiện theo phương pháp
nhận thầu. Các tổ chức xây lắp như Tổng Công ty xây dựng; Công ty xây
dựng, các xí nghiệp, tổ, đội xây dựng làm nhiệm vụ nhận thầu thi công xây
dựng và lắp đặt các công trình. Các đơn vị xây lắp trực thuộc có thể tổ chức
hạch toán riêng hoặc thực hiện trên cùng một hệ thống sổ kế toán với đơn
vị chính.
- Thứ hai, sản phẩm xây lắp là các công trình, hạng mục công trình
có qui mô lớn, kết cấu phức tạp, thời gian sử dụng lâu dài và có giá trị lớn.
Nó mang tính chất ổn định, nơi sản xuất ra sản phẩm đồng thời là nơi sau
này sản phẩm hoàn thành đưa vào sử dụng và phát huy tác dụng. Do vậy,
SV: Đỗ Thị Hiền Lương_MS: 943238 Trường ĐHDL PHương Đông
4
Luận văn tốt nghiệp Khoa tài chính kế toán
việc tổ chức quản lý và hạch toán nhất thiết phải có dự toán thiết kế thi
công.
- Thứ ba, sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất còn các điều kiện
Nghiệp biết được chi phí và giá thành thực tế của từng công trình, hạng
mục công trình cũng như toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của toàn Doanh Nghiệp. Từ đó phân tích, đánh giá tình hình thực hiện các
định mức, dự toán chi phí về tình hình sử dụng vật tư, lao động...có hiệu
quả hay bị lãng phí, tình hình thực hiện giá thành sản phẩm. Đó là căn cứ
để đề ra các biện pháp hữu hiệu, kịp thời nhằm tiét kiệm chi phí xây lắp, hạ
giá thành sản phẩm, đề ra các quy định phù hợp cho sự pháp triển sản xuất
kinh doanh. Do vậy việc tổ chức tốt công tác kế toán chi phí xây lắp và tính
giá thành sản phẩm xây lắp phải đảm bảo xác định đúng nội dung, phạm vi
cấu thành trong giá thành sản phẩm có ý nghĩa rất quan trọng đối với một
Doanh Nghiệp muốn có vị trí đứng trong nền kinh tế thị trường hiện nay.
3. Yêu cầu của công tác kế toán chi phí xây lắp và tính giá thành sản
phẩm xây lắp trong Doanh Nghiệp xây dựng
Trong điều kiện nền kinh tế như hiện nay, để quản lý chặt chẽ và sử
dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư, Nhà nước đã ban hành các quy chế
quản lý phù hợp trong điều kiện quản lý đầu tư xây dựng. Chính phủ đã
quy định rõ:
- Công tác đầu tư và xây dựng phải đảm bảo tạo ra những sản phẩm
và dịch vụ được xã hội chấp nhận, đáp ứng được mục tiêu phát triển kinh tế
xã hội trong từng thời kỳ.
- Xây dựng phải theo quy hoạch được duyệt, xây dựng đúng tiến độ,
chất lượng cao với chi phí hợp lý và thực hiện bảo hành công trình.
Công tác kế toán chi phí xây lắp và tính giá thành sản phẩm là một
khâu quan trọng trong quá trình quản lý về đầu tư xây dựng cơ bản của mỗi
Doanh Nghiệp xây dựng nói riêng và của ngành xây dựng nói chung. Vì
vậy, những yêu cầu của việc quản lý vốn đầu tư và xây dựng trên đây cũng
chính là những yêu cầu của công tác kế toán chi phí xây lắp và tính giá
thành sản phẩm xây lắp.
SV: Đỗ Thị Hiền Lương_MS: 943238 Trường ĐHDL PHương Đông
6
7
Luận văn tốt nghiệp Khoa tài chính kế toán
Trong Doanh Nghiệp xây lắp các chi phí xây lắp bao gồm nhiều loại,
có nội dung kinh tế, công dụng khác nhau, yêu cầu quản lý đối với từng
loại chi phí cũng khác nhau. Do đó, đòi hỏi phải có sự phân loại chi phí xây
lắp vì nó là một yếu tố khách quan để hạch toán chính xác chi phí và hạ giá
thành sản phẩm xây lắp.
Tuỳ theo yêu cầu quản lý, đối tượng cung cấp thông tin, góc độ xem
xét chi phí mà chi phí xây lắp được phân theo các cách khác nhau:
* Phân loại chi phí theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí:
Theo cách phân loại này, toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh của
Doanh Nghiệp xây dựng được chia thành các yếu tố sau:
- Chi phí vật liệu: bao gồm toàn bộ chi phí về các loại đối tượng lao
động là nguyên vật liệu chính (sắt, thép, xi măng, gạch, đá, sỏi, cát...), vật
liệu phụ, nhiên liệu (xăng, dầu), phụ tùng thay thế, công cụ lao động thuộc
tài sản lưu động, thiết bị xây dựng cơ bản mà Doanh Nghiệp sử dụng trong
quá trình sản xuất sản phẩm.
- Chi phí nhân công: là toàn bộ số tiền công, tiền lương phải trả, các
khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ của người lao động trong Doanh
Nghiệp.
- Chi phí khấu hao TSCĐ: là toàn bộ chi phí khấu hao tài sản cố định
đã trích trong kỳ của Doanh Nghiệp dùng vào hoạt động sản xuất xây lắp.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: là số tiền trả về các khoản dịch vụ mua
ngoài, thuê ngoài phục vụ cho hoạt động sản xuất của Doanh Nghiệp.
- Chi phí khác bằng tiền: bao gồm toàn bộ chi phí phát sinh trong
quá trình sản xuất xây lắp ở Doanh Nghiệp, ngoài bốn yếu tố chi phí nói
trên.
Cách phân loại này có tác dụng cho biết kết cấu, tỷ trọng của từng
loại chi phí mà Doanh Nghiệp bỏ ra trong kỳ phục vụ hoạt động xây lắp để
lập bảng thuyết minh báo cáo tài chính, giúp cho việc xây dựng kế hoạch,
Phân loại chi phí theo tiêu thức này chỉ rõ chi phí Doanh Nghiệp bỏ
ra cho từng lĩnh vực hoạt động, từng địa điểm phát sinh chi phí, làm cơ sở
SV: Đỗ Thị Hiền Lương_MS: 943238 Trường ĐHDL PHương Đông
9
Luận văn tốt nghiệp Khoa tài chính kế toán
cho việc tính giá thành sản phẩm xây lắp theo khoản mục, phân tích tình
hình thực hiện kế hoạch giá thành...
* Phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí với khối lượng sản
phẩm sản xuất.
Theo cách phân loại này thì chi phí sản xuất của Doanh Nghiệp được
chia như sau:
- Chi phí bất biến (định phí): là các chi phí mà tổng số không thay
đổi khi có sự thay đổi về khối lượng hoạt động của sản xuất hoặc khối
lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ.
- Chi phí khả biến (biến phí): là những chi phí thay đổi về tổng số tỷ
lệ với sự thay đổi của mức độ hoạt động, khối lượng sản phẩm sản xuất ra
trong kỳ như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp.
- Chi phí hỗn hợp: là chi phí mang đặc điểm của hai loại chi phí nói
trên, trong một khoảng giới hạn nhất định những chi phí này là chi phí cố
định, khi vượt quá giới hạn đó nó trở thành chi phí biến đổi.
Cách phân loại này có ý nghĩa quan trọng đối với công tác quản lý
của Doanh Nghiệp, phân tích điểm hoà vốn và phục vụ cho việc ra quyết
định quản lý cần thiết để hạ giá thành sản phẩm, tăng hiệu quả kinh doanh.
* Phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí với đối tượng chịu
chi phí.
Theo cách phân loại này, chi phí xây lắp được chia thành: chi phí
trực tiếp và chi phí gián tiếp.
- Chi phí trực tiếp: là chi phí có liên quan trực tiếp đến việc chế tạo
sản xuất sản phẩm, chi phí liên quan trực tiếp đến việc cấu thành thực thể
công trình, hạng mục công trình. Nếu kết hợp cách phân loại này với cách
xây lắp là từng đơn đặt hàng.
- Thứ hai: Căn cứ vào đặc điểm phát sinh chi phí, mục đích, công
dụng của chi phí.
- Thứ ba: Căn cứ vào yêu cầu tính giá thành, yêu cầu quản lý, khả
năng, trình độ quản lý Doanh Nghiệp, trình độ càng nâng cao thì đối tượng
tập hợp chi phí càng cụ thể và càng chi tiết.
Việc xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí xây lắp hợp lý phù
hợp, giúp cho Doanh Nghiệp tổ chức tốt nhất công việc kế toán tập hợp chi
phí từ khâu ghi chép ban đầu, tổng hợp số liệu, vận dụng tài khoản và sổ
chi tiết.
1.2.2. Phương pháp tập hợp chi phí xây lắp
Phương pháp tập hợp chi phí xây lắp được sử dụng để tập hợp và
phân bổ chi phí trong giới hạn tập hợp chi phí đã định.
SV: Đỗ Thị Hiền Lương_MS: 943238 Trường ĐHDL PHương Đông
12
Luận văn tốt nghiệp Khoa tài chính kế toán
Trong xây dựng cơ bản, kế toán thường sử dụng hai phương pháp
chủ yếu để tập hợp chi phí cho đối tượng tính giá thành có liên quan. Đó là
phương pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp.
- Phương pháp trực tiếp: phương pháp này đòi hỏi ngay từ khâu hạch
toán ban đầu, các chứng từ kế toán đã phản ánh ghi chép riêng rẽ chi phí
xây lắp cho từng đối tượng tính giá thành có liên quan. Phương pháp trưc
tiếp áp dụng cho những chi phí cơ bản hoặc những Doanh Nghiệp chỉ có
một đối tượng tính giá thành là công trình, hạng mục công trình.
- Phương pháp phân bổ gián tiếp: phương pháp này được áp dụng
trong trường hợp chi phí xây lắp có liên quan đén nhiều đối tượng chi phí
khác nhau. Để phân bổ chi phí cho nhiều đối tượng cần phải xác định được
tiêu thức phân bổ cho hợp lý. Tiêu thức phân bổ phải đảm bảo được mối
quan hệ tỷ lệ giữa tổng chi phí cần phân bổ của các đối tượng.
Trình tự phân bổ như sau:
kết hợp với nguyên vật liệu chính làm thay đổi màu sắc, mùi vị, hình dáng
bề ngoài của sản phẩm.
- Nhiên liệu: là một loại vật liệu phụ dùng để cung cấp nhiệt lượng
cho quá trình sản xuất, kinh doanh tạo điều kiện cho quá trình chế tạo ra
sản phẩm có thể diễn ra bình thường. Nhiên liệu có thể ở thể rắn, lỏng, khí.
- Phụ tùng thay thế: là những loại vật tư dùng để sửa chữa, thay thế
máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, công cụ dụng cụ sản xuất.
- Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: là những loại vật liệu, thiết bị
được sử dụng cho công việc xây dựng cơ bản bao gồm cả thiết bị cần lắp
và không cần lắp, công cụ, khí cụ, và vật kết cấu dùng để lắp đặt các công
trình xây dựng cơ bản.
Để phản ánh những chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán căn cứ
vào các chứng từ như: Phiếu xuất kho, phiếu xuất vật tư theo hạn mức,
bảng phân bổ đà giáo cốp pha.
Để tính được Giá thực tế của nguyên vật liệu xuất kho trong kỳ,
trước hết ta xác định hệ số chênh lệch giữa giá thực tế và giá hạch toán,
được xác định theo công thức sau:
SV: Đỗ Thị Hiền Lương_MS: 943238 Trường ĐHDL PHương Đông
15
Luận văn tốt nghiệp Khoa tài chính kế toán
Hệ số giá
=
Trị giá thực tế
nguyên vật liệu
tồn kho đầu kỳ
+
Trị giá thực tế
nguyên vật liệu
nhập kho trong kỳ
Trị giá hạch
- Kết chuyển hoặc tính phân bổ trị giá nguyên liệu, vật liệu thực tế
sử dụng cho hoạt động xây lắp trong kỳ vào TK 154 “ Chi phí sản
SV: Đỗ Thị Hiền Lương_MS: 943238 Trường ĐHDL PHương Đông
16
Luận văn tốt nghiệp Khoa tài chính kế toán
xuất kinh doanh dở dang” và chi tiết cho từng đối tượng để tính giá
thành công trình xây lắp, giá thành sản phẩm lao vụ…
TK 621 không có số dư cuối kỳ.
Trình tự hạch toán:
* Khi mua hoặc xuất nguyên liệu, vật liệu sử dụng cho hoạt động xây
lắp, sản xuất công nghiệp, hoạt động dịch vụ trong kỳ:
- Khi xuất nguyên liệu, vật liệu sử dụng cho hoạt động xây lắp , sản
xuất công nghiệp, hoạt động dịch vụ trong kỳ, ghi:
Nợ TK 621- Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp (Giá chưa có VAT)
Có TK 152, 153
- Trường hợp mua nguyên vật liệu sử dụng ngay (không qua kho)
cho hoạt động sản xuất sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trong kỳ chịu
thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, ghi:
Nợ TK 621- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Nợ TK 133- Thuế GTGT được khấu trừ
Có TK 111, 112, 331
- Trường hợp mua nguyên liệu, vật liệu không qua nhập kho sử dụng
cho hoạt động sản xuất sản phẩm, hoặc thực hiện dịch vụ trong kỳ không
chịu thuế GTGT hoặc chịu thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp, ghi:
Nợ TK 621 – Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Có TK 331, 141, 111, 112
* Tạm ứng chi phí để thực hiện giá trị khoán xây lắp nội bộ (trường
hợp đơn vị nhận khoán không tổ chức hạch toán riêng). Khi bản quyết toán
tạm ứng về giá trị khối lượng xây lắp hoàn thành bàn giao được duyệt, ghi:
Nợ TK 621 - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
(nếu có
152
NVL,CCDC sử dụng không
kết cuối kuỳ nhập lại kho
Luận văn tốt nghiệp Khoa tài chính kế toán
Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm các khoản phải trả cho người
lao động thuộc quản lý của DN và cho người lao động thuê ngoài cho từng
loại công việc:
- Tiền lương chính của công nhân trực tiếp tham gia xây dựng công
trình và lắp đặt máy móc thiết bị.
- Tiền lương chính của công nhân vận chuyển nguyên vật liệu trong
thi công, của công nhân làm nhiệm vụ bảo dưỡng, công nhân dọn dẹp vật
liệu, công trường, công nhân khuôn vác máy từ kho đến chỗ lắp.
- Tiền lương phụ và các khoản phải trả khác cho công nhân sản xuất.
- Tiền thưởng ngoài quỹ lương của công nhân trực tiếp xây lắp.
Để phản ánh những chi phí nhân công trực tiếp, căn cứ vào bảng
thanh toán tiền lương, phiếu báo làm thêm giờ, kế toán phản ánh trên TK
622 “ Chi phí nhân công trực tiếp “. TK này dùng đế phản ánh chi phí lao
động trực tiếp tham gia vào quá trình hoạt động xây lắp, sản xuất sản phẩm
công nghiệp, cung cấp dịch vụ.
Không hạch toán vào TK này những khoản sau:
- Phải trả về tiền lương các khoản phụ cấp…cho nhân viên quản lý,
nhân viên văn phòng của bộ máy quản lý DN hoặc của hoạt động bán hàng.
- Khoản tính bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), kinh
phí công đoàn (KPCĐ) tính trên quỹ tiền lương nhân công trực tiếp của
hoạt động xây lắp.
Kết cấu của TK 622:
Bên Nợ:
- Chi phí nhân công trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất sản
phẩm (xây lắp, sản phẩm công nghiệp, cung cấp dịch vụ) bao
* Tính trích BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân trực tiếp sản xuất
(chỉ đối với hoạt động sản xuất công nghiệp hoặc hoạt động cung cấp dịch
vụ), ghi:
Nợ TK 622 – Chi phí nhân công trực tiếp
Có TK 338 – Phải trả phải nộp khác (3382, 3383, 3384)
* Cuối kỳ kế toán, tính phân bổ và kết chuyển chi phí nhân công trực
tiếp và các khoản trích theo lương theo đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
kinh doanh, ghi:
Nợ TK 154- Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
Có TK 622 – Chi phí nhân công trực tiếp
* Sơ đồ hạch toán Chi phí nhân công trực tiếp:
SV: Đỗ Thị Hiền Lương_MS: 943238 Trường ĐHDL PHương Đông
20
Luận văn tốt nghiệp Khoa tài chính kế toán
1.2.3.3. Kế toán tập hợp và phân bổ chi phí sử dụng máy thi công
Chi phí máy thi công là toàn bộ chi phí vật tư, lao động và chi phí
bằng tiền trực tiếp cho quá trình sử dụng máy thi công của đơn vị, gồm:
- Chi phí khấu hao máy thi công.
- Chi phí sửa chữa lớn và sửa chữa thường xuyên máy thi công.
- Chi phí tiền lương của công nhân phục vụ và điều khiển máy.
- Chi phí khác bằng tiền phục vụ cho hoạt động của xe, máy thi
công
Để tập hợp và phân bổ chi phí sử dụng xe, máy thi công phục vụ trực
tiếp cho hoạt động xây lắp công trình, kế toán sử dụng TK 623 “ Chi phí sử
dụng máy thi công “. TK này chỉ áp dụng đối với DN xây lắp thực hiện
xây, lắp các công trình theo phương thức thi công hỗn hợp vừa thủ công
vừa kết hợp bằng máy.
Không hạch toán vào TK 623 các khoản trích về BHXH, BHYT,
KPCĐ tính trên tiền lương phải trả cho công nhân sử dụng máy thi công.
máy thi công; chi phí điện, nước, thuê TSCĐ, chi phí trả cho nhà thầu
phụ…
+ TK 6238 – Chi phí bằng tiền khác: dùng để phản ánh các chi phí
bằng tiền phục vụ cho hoạt động của xe, máy thi công, các khoản chi phí
cho lao động nữ…
Trình tự hạch toán:
Hạch toán sử dụng máy thi công phụ thuộc vào hình thức sử dụng
máy thi công: tổ chức máy thi công riêng biệt thực hiện các khối lượng xây
lắp bằng máy hoặc giao máy thi công cho các đội, xí nghiệp xây lắp.
* Nếu tổ chức đội máy thi công riêng biệt và có phân cấp hạch toán
cho đội máy có hạch toán kế toán riêng, thì việc hạch toán được tiến hành
như sau:
SV: Đỗ Thị Hiền Lương_MS: 943238 Trường ĐHDL PHương Đông
22
Luận văn tốt nghiệp Khoa tài chính kế toán
- Hạch toán các khoản chi phí liên quan tới hoạt động của đội máy
thi công, ghi:
Nợ TK 621, 622, 627
Có các TK liên quan
- Hạch toán chi phí sử dụng máy và tính giá thành ca máy thực hiện
trên TK 154, căn cứ vào giá thành ca máy (theo giá thành thực tế hoặc giá
khoán nội bộ) cung cấp cho các đối tượng xây, lắp (công trình, hạng mục
công trình):
+ Nếu DN thực hiện theo phương thức cung cấp lao vụ máy lẫn nhau
giữa các bộ phận, ghi:
Nợ TK 623 (6238) – Chi phí sử dụng máy thi công
Có TK 154 – Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
+ Nếu DN thực hiện theo hình thức bán lao vụ máy lẫn nhau giữa
các bộ phận trong nội bộ, ghi:
Nợ TK 623 (6238) – Chi phí sử dụng máy thi công
Nợ TK 623 (6234) – Chi phí sử dụng máy thi công
Có TK 214 – Hao mòn TSCĐ
- Chi phí dịch vụ mua ngoài phát sinh (sửa chữa máy thi công mua
ngoài, điện nước, tiền thuê TSCĐ, chi phí trả cho nhà thầu phụ…), ghi:
Nợ TK 623 (6237) – Chi phí sử dụng máy thi công
Nợ TK 133 – Thuế GTGT được khấu trừ (nếu có)
Có Tk 111, 112, 331
- Chi phí bằng tiền khác phát sinh, ghi:
Nợ TK 623 (6238) – Chi phí sử dụng máy thi công
Nợ TK 133 – Thuế GTGT được khấu trừ
Có TK 111, 112
- Căn cứ vào bảng phân bổ chi phí sử dụng máy thi công (chi phí
thực tế ca máy) tính cho từng công trình, hạng mục công trình, ghi:
Nợ TK 154 – Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
Có TK 623 – Chi phí sử dụng máy thi công
SV: Đỗ Thị Hiền Lương_MS: 943238 Trường ĐHDL PHương Đông
24
Luận văn tốt nghiệp Khoa tài chính kế toán
Sơ đồ hạch toán Chi phí sử dụng máy thi công:SV: Đỗ Thị Hiền Lương_MS: 943238 Trường ĐHDL PHương Đông
25
623 (chi tiết máy thi công)
152
154
111,112,331
334
214
111,112