Báo cáo chuyên đề thực tập Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
Mục lục
Lời nói đầu
Trang 5
Chơng I: Hệ thống chỉ tiêu thống kê nghiên cứu khách du
lịch quốc tế
Trang 7
I. Khái niệm chung về khách du lịch
Trang 7
1.1. Khái niệm du lịch và ngành du lịch Trang 7
1.1.1. Khái niệm du lịch Trang 7
1.1.2. Các loại hình du lịch Trang 9
1.1.3. Ngành du lịch Trang 11
1.2. Khái niệm và đặc điểm của khách du lịch. Trang 19
1.2.1. Khái niệm khách du lịch. Trang 19
1.2.2. Đặc điểm khách du lịch Trang 19
1.2.3. Phân loại khách du lịch. Trang 20
1.2.4. Các nhân tố ảnh hởng đến lợng khách du lịch. Trang 21
1.2.5. Vai trò, ý nghĩa của việc nghiên cứu khách du lịch đối với sự phát triển
kinh tế xã hội.
Trang 22
II. Hệ thống chỉ tiêu thống kê nghiên cứu khách du lịch.
Trang 23
2.1. Số khách du lịch. Trang 23
2.2. Số ngày khách du lịch Trang 25
2.3. Nghiên cứu thống kê kết cấu khách du lịch Trang 26
2.3.1. Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết cấu khách du lịch Trang 26
2.3.2. Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết cấu ngày khách du lịch. Trang 30
2.4. Số ngày lu trú bình quân một khách
Trang 31
Chơng 2: Phơng pháp phân tích và dự doán thống kê nghiên
2.4.1. Khái niệm, ý nghĩa, yêu cầu Trang 45
2.4.2. Khả năng vận dụng Trang 47
III. Các phơng pháp dự đoán thống kê khách du lịch quốc tế
Trang 57
3.1. Khái niệm về dự đoán thống kê Trang57
3.1.1. Khái niệm về dự đoán thống kê Trang 57
3.1.2. ý nghĩa của dự đoán thống kê ngẵn hạn trong nghiên cứu du lịch Trang 59
Lê Thị Thành 43b Trang 2
Báo cáo chuyên đề thực tập Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
3.1.3. Nhiệm vụ của dự đoán thống kê ngắn hạn trong du lịch Trang 60
3.2. Một số phơng pháp dự đoán thống kê đơn giản Trang 60
3.2.1. Dự đoán dựa vào lợng tăng giảm tuyệt đối trung bình Trang 60
3.2.2. Dự đoán dựa vào hàm xu thế Trang 61
3.2.3. Dự đoán dựa vào hàm xu thế và biến động thời vụ Trang 63
3.2.4. Dự đoán chuyên gia Trang 64
Chơng III. Vận dụng một số phơng pháp thống kê nghiên cứu
khách du lịch quốc tế vào Việt Nam thời kỳ 1990 2004 và
dự đoán đến năm 2007
Trang 66
I. Tổng quan về thị trờng khách du lịch quốc tế và thực trạng khách du lịch
quốc tế vào Việt Nam Thời gian qua
Trang 66
1.1. Tổng quan về thị trờn khách du lịch quốc tế. Trang 66
1.1.1. Du lịch thế giới Trang 66
1.1.2. Du lịch một số nớc Châu á Thái Bình Dơng
Trang 69
1.1.3. Du lịch Việt Nam thời kỳ đổi mới Trang 73
1.2. Thực trạng khách du lịch quốc tế vào Việt Nam thời kỳ 1990 - 2004 Trang 71
II. Phân tích khách du lịch quốc tế vào Việt Nam thời kỳ 1990 2004
Trang 81
Trang 134
Lê Thị Thành 43b Trang 4
Báo cáo chuyên đề thực tập Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
Lời mở đầu
du lịch là một ngành kinh tế có vị trí và vai trò quan trọng đối với sự phát triển
trong nền kinh tế quốc dân của nhiều nớc trên thế giới, đặc biệt là các nớc Châu á và
Thái Bình Dơng. Nó là ngành kinh tế không ống khói có sức thu hút mạnh về ngoại tệ,
tạo việc làm, tăng thu nhập và kích thích đầu t ở nhiều quốc gia. Tại Việt Nam, Đảng và
Nhà nớc luôn quan tâm đến sự phát triển của ngành du lịch: Hiến pháp năm 1992 quy
định Nhà nớc và xã hội phát triển du lịch, mở rộng hoạt động du lịch trong nớc và du
lịch quốc tế.. Chính phủ xác định du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, phát triển du
lịch là phơng hớng chiến lợc quan trọng trong đờng lối phát triển kinh tế, xã hội nớc ta.
Phát triển du lịch nhằm góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc,
khuyến khích các thành phần kinh tế kinh doanh du lịch phát triển dới sự quản lý thống
nhất của nhà nớc. Trong đó, doanh nghiệp Nhà nớc phải phát huy vai trò chủ đạo, làm
cho du lịch nớc ta ngày càng phát triển mạnh mẽ, lành mạnh, sớm đuổi kịp du lịch các n-
ớc trong khu vực. Tính đến năm 2005, ngành Du lịch Việt Nam bớc sang tuổi 45 đầy sức
sống, sẽ phải vơn lên mạnh mẽ trên tất cả các mặt để phấn đấu đón trên 3 triệu lợt khách
quốc tế; hơn 15 triệu lợt khách du lịch nội địa, Doanh thu khoảng 30.000 tỷ đồng; trở
thành ngành kinh tế mũi nhọn trong nền Kinh tế Quốc dân.
Nhng vấn đề đặt ra là Du lịch Việt Nam phát triển nh vậy thì công tác thống kê du
lịch ở Việt Nam ra sao để có thể góp phần thúc đẩy tốc độ phát triển của ngành du lịch
Việt Nam và có thể quốc tế hoá trong lĩnh vực thống kê du lịch nói riêng cũng nh trong
các lĩnh vực kinh tế xã hội nói chung nh xu hớng chung đang diễn ra trên phạm vi rộng
khắp thế giới. Hiện nay, thống kê các nớc phát triển và đang phát triển đều cố gắng chuẩn
hoá từ các khái niệm cơ bản cho đến nội dung, hệ thống chỉ tiêu, phơng pháp thống kê
tính toán cũng nh các cách phân tổ, phân loại theo chuẩn mực quốc tế, nhằm đảm bảo cho
việc thực hiện so sánh quốc tế một cách dễ dàng. Tổ chức du lịch thế giới và uỷ ban
thống kê liên hợp quốc đã có nhiều cố gắng. kỳ họp lần thứ 27 của Uỷ ban thống kê
Liên hợp quốc vào năm 1993 đã đa ra các nguyên tắc, khái niệm, nội dung thống kê du
Ch ơng I
Hệ thống chi tiêu thống kê nghiên cứu khách du lịch quốc tế
I. Khái niêm chung về khách du lịch
1.1. Khái niệm du lịch và ngành du lịch
1.1.1. Khái niệm du lịch.
Cho đến thời điểm hiện nay, so với các ngành kinh tế khác thì ngành Du lịch đợc
coi là một ngành còn non trẻ. Trong suốt nhiều thế kỷ trớc đây, du khách hầu hết chỉ là
những ngời hành hơng, lái buôn, sinh viên và các nghị sĩ. Vào đầu thế kỷ 20, du lịch chỉ
dành cho những ngời giàu có và khá giả, họ đi Du lịch để giải trí và chữa bệnh. Ngày nay,
du lịch gắn liền với cuộc sống của hàng triệu ngời, và chỉ thực sự có từ sau chiến tranh
thế giới thứ 2, nhng khái niệm về Du lịch vẫn cha đầy đủ và phản ánh đúng nội dung của
nó, cha dựa trên cơ sở khoa học
Khái niệm du lịch quốc tế lần đầu tiên đợc Hội đồng Liên hợp quốc đa ra vào năm
1937 và sau nhiều lần sửa chữa và bổ sung đến năm 1993 Uỷ ban Thống kê Liên hợp
quốc thống nhất khái niệm về Du lịch quốc tế do Tổ chức Du lịch thế giới (WTO) đề
nghị. Cụ thể là:
Du lịch là hoạt động về chuyến đi đến một nơi khác với môi trờng sống thờng
xuyên (usual environment) của con ngời và ở lại đó để thăm quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải
trí hay các mục đích khác ngoài việc tiến hành các hoạt để có thù lao ở nơi đến với thời
gian liên tục ít hơn một năm.
Nh vậy, theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới và trong khuôn khổ của
Thống kê Du lịch thì lợng khách du lịch sẽ đợc tính dựa trên: Môi trờng thờng xuyên;
khoảng thời gian đã đợc các tổ chức Du lịch quốc tế qui định và mục đích của chuyến đi.
Thứ nhất: Môi trờng thờng xuyên.
Môi trờng thờng xuyên của một ngời là không gian xung quanh của nơi ở, làm việc
hoặc đi lại thờng xuyên của ngời đó. Môi trờng thờng xuyên cho phép loại trừ các chuyến
đi trong pham vi của nơi ở và các chuyến đi có tính chất thờng xuyên hàng ngày. Những
tiêu thức đợc áp dụng để xác định môi trờng thờng xuyên là:
Lê Thị Thành 43b Trang 7
Báo cáo chuyên đề thực tập Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
Báo cáo chuyên đề thực tập Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
Hiện này, nhiều nớc châu Âu, châu Mỹ, châu Phi ... áp dụng khái niệm này và vận
dụng vào trong công tác thống kê du lịch. Tại hội nghị về thống kê du lịch do Tổ chức du
lịch thế giới (WTO) tổ chức họp với các nớc châu á Thái Bình Dơng ngày 30/4/1998 ở
Trivandrum (ấn Độ) có 16 nớc tham dự và hầu hết các nớc này đều tán thành định nghĩa
này về du lịch. Trong số đó có Triều Tiên, Trung Quốc, Hồng Kông, Ma cao, Srilanka,
Philippins, autrailia... Song, mỗi nớc khác nhau có điều kiện về tự nhiên, kinh tế xã hội
khác nhau, phong tục tập quan khác nhau nên sẽ có quy định về phạm vi thống kê du lich
khác nhau đặc biệt là về phạm vi môi trờng thờng xuyên.
1.1.2. Các loại hình du lịch.
Hệ thống du lịch của một nớc, một tỉnh hoặc thành phố có thể đợc hình thành trên
các cơ sở rất khác nhau:
Điều kiện tự nhiên: biển, núi, rừng nguyên sinh, suối nớc nóng, hồ lớn, nơi có
phong cảnh đẹp, hang động đẹp
Di sản lịch sử: Thành quách, lâu đài, chùa, đền, miếu nơi đã diễn ra các sự kiện
lịch sử quan trọng, các thành thị đẹp.
Các trung tâm kinh tế, văn hoá lớn.
Những khu vực đặc biệt của đất nớc, có ý nghĩa nghiên cứu: rừng quốc gia, các
khu di tích, vùng có nghề truyền thống hiếm lạ
Vì vậy có nhiều loại hình du lịch:
a. Tham quan: Để thoã mãn nhu cầu đi xem phong cảnh đẹp của đất nớc mình
hoặc nớc ngoài, tạo niềm vui đợc hiểu biết thêm về cảnh quan, phong tục, con ngời, sản
vật, tài nguyên nơi tham quan. tham quan thờng đi đôi với giải trí, làm cho đầu óc sảng
khoái, yêu đời hơn. Tham quan thờng đợc thực hiện theo tuyến nh: Hà nội Huế
Thành phố hồ chí Minh.
b. Nghỉ ngơi: Để thoả mãn nhu cầu dứt khỏi những công việc bận rộn, cốt để đầu
óc và thân thể đợc nghỉ ngơi, lấy lại sức làm việc. Trong loại hình nghỉ ngơi cũng có các
hoạt động tham quan, nhng không phải là chính. Nghỉ ngơi cũng thờng đi đôi với giải trí.
Ngời nghỉ ngơi thờng ở một vài địa điểm, không di động nhiều.
Lê Thị Thành 43b Trang 9
Lê Thị Thành 43b Trang 10
Báo cáo chuyên đề thực tập Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
b. Du lịch trong nớc: đây cũng là dạng đợc quan tâm vì là nguồn thờng xuyên và
rộng khắp của hoạt động du lịch (hơn là số từ nớc ngoài vào, thờng chỉ tập trung vào một
số khu vực nhất định). Đây cũng còn là nhiệm vụ văn hoá xã hội của ngành du lịch đối
với nhân dân trong nớc.
c. Du lịch ra nớc ngoài: ở nớc ta dạng này còn ít, nhng dần dần có thể sẽ ngày càng
tăng dần. Nhìn chung, dạng này không nằm trong phạm vi phục vụ của ngành du lịch nớc
ta. Vì vậy, thống kê chỉ quan sát ở dạng chung (trừ những tổ chức du lịch liên doanh giữa
ta và nớc ngoài, ta có thu đợc lệ phí phục vụ).
Việc phân biệt các dạng này cũng rất cần cho công tác quy hoạch xây dựng các
khu du lịch và các hoạt động phục vụ du lịch.
1.1.3. Ngành Du lịch.
1.1.3.1. Khái niệm.
Ngành Du lịch là một nghành kinh tế tổng hợp có nhiệm vụ phục vụ nhu cầu tham
quan, giải trí, nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao,
nghiên cứu khoa học và các dạng nhu cầu khác.
Từ khái niệm này, có thể thấy:
Du lịch là một ngành đặc biệt, có nhiều đặc điểm và tính chất pha trộn nhau, tạo
thành một tổng thể rất phức tạp.
Du lịch phục vụ một nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân trong nớc và khách nớc
ngoài là nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ ngơi, học hỏi để tái sản xuất sức lao động, tăng
hiểu biết về đất nớc và con ngời. Đây là nhu cầu vốn có của con ngời, và với mức sống
ngày càng tăng, nhu cầu này sẽ càng lớn.
1.1.3.2. Đặc điểm của ngành Du lịch.
- Du lịch là một ngành kinh tế:
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, phục vụ nhu cầu tiêu dùng đa dạng chung
và cao cấp của khách du lịch. Trong hoạt động của ngành Du lịch, có nhiều bộ phận có
tính chất kinh tế rõ rệt: thu nhập của ngành Du lịch ở nhiều nớc rất lớn. Ví dụ Nam T năm
1987 ngành du lịch thu hơn 1.6 tỉ đôla, chiếm 3% tổng sản phẩm xã hội và 15% tổng thu
1.1.3.3. ý nghĩa của sự phát triển du lịch.
Từ sau đại chiến thế giới lần thứ hai, hoạt động du lịch đã phát triển mạnh mẽ có
tính chất bùng nổ ở nhiều khu vực trên thế giới. Số ngời đi du lịch đã phát triển từ 25 triệu
lợt ngời năm 1950 lên 333 triệu lợt ngời năm 1985, tăng 13.3 lần; thu nhập về các hàng
hoá và dịch vụ du lịch từ 2,1 tỷ đô là năm 1950 lên 109,5 tỷ đô la Mỹ năm 1985, tăng 52
lần. Du lịch không chỉ phát tiển ở những nớc có nền công nghiệp tiên tiến, hiện đại mà
ngay cả ở các nớc thuộc thế giới thứ 3. Có những nớc du lịch đã trở thành ngành kinh tế
mũi nhọn, là quốc sách để kinh doanh thu ngoại tệ cho đất nớc dới hình thức xuất khẩu
tại chỗ nh Thái Lan, Hồng Kông, Indonexia. Du lịch phát triển chẳng những đem lạ hiệu
quả kinh tế cho đất nớc mà còn có ý nghĩa chính trị, xã hội và văn hoá.
- Đối với kinh tế:
Du lịch là ngành kinh tế có hiệu quả cao tỷ lệ lãi ngoại tệ trên cơ sở vốn đầu t so
với các ngành kinh tế khác cao hơn từ 2 4 lần thời gian thu hồi vốn nhanh.
Thật vậy hàng năm nớc ta đón một lợng khách quốc tế rất lơn và doanh thu từ các
hoạt động của khách cũng nhiều. Cụ thể năm 1994 theo thống kê tình hình chi tiêu của
khách thì bình quân 1 khách quốc tế chi tiêu cho một ngày là 119,4 USD. Năm 2004 nớc
ta đón đợc khoảng 2,9 triệu lợt khách quốc tế, vợt chỉ tiêu kế hoạch đạt ra (2,8 triệu) và
tăng trởng gần 20% só với năm 2003; khách du lịch nội địa đạt khoảng 14 triệu lợt; thu
nhập du lịch đạt khoảng 26 ngàn tỷ đồng (kế hoạch đặt ra 25 ngàn tỷ đồng). Và năm
2005 dự kiến đón 18,2 triệu lợt khách du lịch trong đó có 3,2 triệu lợt khách quốc tế,
tăng 14% so với kế hoạch năm 2004; 15 triệu lợt khách du lịch nội địa, tăng 10,5% so với
năm 2004. Thu nhập du lịch đạt 30000 tỷ đồng, tăng hơn 15% so với mức thực hiện năm
2004.
Du lịch góp phần giải quyết công ăn việc làm cho một lực lợng lao động lớn.
Hằng năm những vùng, những địa phơng có khách du lịch đến thăm đã thu hút đợc
một lực lợng lao động lớn. Số lao động này tham gia vào các hoạt động phục vụ nhu cầu
của khách nh: Nghỉ ngơi, sắm đồ, lu niệm, ăn uống Theo thống kê về tình hình thu
nhập của ngời lao động phục vụ khách du lịch thì năm 1994 thu nhập bình quân của một
ngời lao động phục vụ khách là 500 nghìn đồng/ tháng. Lực lợng lao động trong ngành
du lịch phát triển cả số lợng và chất lợng. Năm 1991, cả nớc có trên 20 nghìn lao động
sản của đất nớc cũng nh việc phát triển kinh tế xã hội nói chung.
Lê Thị Thành 43b Trang 14
Báo cáo chuyên đề thực tập Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
Du lịch làm tăng cờng các mối quan hệ xã hội, tình hữu nghị sự hiểu biết lẫn nhau
giữa các dân tộc, quốc gia, góp phần bảo vệ nền hoà bình thế giới.
Trên đây là những mặt tích cực mà du lịch mang lại, nhng cái gì cũng có hai mặt
của nó. Du lịch cũng vậy, việc phát triển du lịch sẽ kèm theo việc du nhập nền văn hoá
ngoại quốc, chính điều này làm mất dần bản sắc văn hóa dân tộc nếu chúng ta không biết
gìn giữ và chọn lọc. Thêm vào đó là sự lây nhiễm bệnh tật, tệ nạn xã hội và thậm chí nó
còn có thể là đờng dẫn cho việc tuyên truyền phản động, gây bạo loạn nhằm lật đổ chính
quyền. nhiều ngời còn lạm dụng du lịch để buôn bán lậu, làm ăn trái phép
Vì vậy để đảm bảo kinh doanh du lịch có hiệu quả cần phải tạo cho du khách một
cảm giác an toàn, môi trờng lành mạnh, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội,
không chỉ cho du khách mà cho cả các địa phơng có du khách đến thăm.
- Đối với chuyển dịch cơ cấu sản xuất.
Du lịch là một loại hình xuất khẩu tại chỗ. Hoạt động dịch vụ của ngành du lịch
cũng góp phần quan trọng trong việc nâng cao tỷ trọng của ngành dịch vụ trong cơ cấu
kinh tế. Chính vì vậy, nhiều nớc trên thế giới đã thay đổi vị thế của mình nhờ phát triển
du lịch. ở nớc ta, ngành dịch vụ cũng đã có sự lớn mạnh và ngày càng khẳng định đợc vị
trí của mình trong cơ cấu ngành, nhờ sự đóng góp của ngành du lịch. Tuy ngành du lịch
không phải là nhân tố quyết định đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, song nó là nhân tố
cơ bản quan trọng thúc đẩy việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nớc ta. Lúc đầu, cơ cấu
ngành nớc ta chỉ đơn thuần là Nông nghiệp lạc hậu, cáu đó chuyển sang có cấu Nông
nghiệp Công nghiệp, đặc biệt công nghiệp chế biến kết cấu hạ tầng dịch vụ và
sau đó là Công nghiệp Nông nghiệp Dịch vụ hiện đại, xu hớng chung và cũng là
mục tiêu của nớc ta là chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành Dịch vụ Công nghiệp Nông
nghiệp.
Trong bối cảnh hiện nay, khi nền kinh tế thế giới đang chuyển từ nền kinh tế công
nghiệp sang nền kinh tế trí thức, sự phát triển ngầy càng mạnh mẽ của ngành du lịch sẽ
không chỉ thúc đẩy nhanh sự phát triển của các ngành mà còn làm phân công lao động xã
hiện chính sách mở cửa, mở rộng giao lu Kinh tế Văn hoá xã hội với bên ngoài và đã
mang lại một kết quả to lớn. Nền kinh tế nớc ta đã phát triển nhanh chóng và dần có sự
phát triển tơng hợp với các nớc trong khu vực và trên thế giới. Các ngành công nghệ cao,
các phát minh mới đã dần đ ợc ứng dụng vào cuộc sống. Khu vực dịch vụ những năm
qua cũng phát triển rất đa dạng và nhanh chóng, tốc độ bình quân hàng năm từ 8 -10%.
Xuất hiện một số lĩnh vực mới và hiện đại, phát triển nhanh, năng động nh; dịch vụ viễn
thông, dịch vụ ngân hàng, tài chính, tín dụng, xuất nhập khẩu, dịch vụ vận tải đặc biệt
Lê Thị Thành 43b Trang 16
Báo cáo chuyên đề thực tập Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
là dịch vụ du lịch. Ta đã biết, ngành Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, doanh nghiệp
du lịch sử dụng dịch vụ và hành hoá của các Doanh nghiệp thuộc nhiều ngành kinh tế
khác nhau để phục vụ khách du lịch. Điều này, có nghĩa là hoạt động du lịch càng phát
triển mạnh thì nó càng thúc đẩy dịch vụ của các ngành khác phát triển nhanh hơn: Dịch
vụ hớng dẫn viên đa đón và tiễn khách, các loại dịch vụ bu điện, vận tải, thơng mại, tín
dụng và các loại dịch vụ khác nh ăn uống, vui chơi giải trí, tham quan Du lịch làm cho
khu vực dịch vụ phát triển nhanh chóng và chính sự phát triển này đã góp phần thúc đẩy
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng hội nhập và giảm tơng đối tỷ trọng Nông
nghiệp, tăng tỷ trọng Dịch vụ và Công nghiệp. Điều này, đợc thể hiện cụ thể ở bảng
chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế nớc ta trong 10 năm qua.
Bảng 2: Cơ cấu kinh tế nớc ta những năm 1991 -1999
Đơn vị: %
Năm Công nghiệp Nông nghiệp Dịch vụ
1990 22.7 38.7 38.6
1991 23.8 40.1 35.7
1992 27.3 33.9 33.8
1993 28.9 29.9 41.2
1994 28.9 27.4 43.7
1995 28.8 27.2 44
1996 29.7 27.8 42.5
1997 32.1 25.8 42.1
chú ý của các nhà đầu t trong nớc và nớc ngoài, tạo điều kiện cho việc nâng cao các cơ sở
vật chất kỹ thuật, cũng nh cơ sở hạ tầng. Điều đó, sẽ là cơ sở cho ta thực hiện tốt sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Mặt khác, nhờ hoạt động du lịch mà hoạt động
giao lu kinh tế đợc tiến hành dễ dàng hơn, nhiều ngời từ việc đi du lịch đã khám phá ra n-
ớc ta là một nớc giàu tài nguyên, có nguồn nhân lực dồi dào, có môi trờng làm việc tốt
nên nhiều nhà đầu t nớc ngoài đã chọn Việt Nam là nơi làm ăn, từ đó các ngành nghề mới
đã ra đời cùng với những công nghệ tiên tiến đã đợc đi vào cuộc sống, tạo nên bớc ngoặt
lớn trên con đờng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Tóm lại, ngành du lịch có vai trò quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
cũng nh trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá tạo cơ sở và nền tảng để nền kinh
tế nớc ta tiếpp tục phát triển mạnh và vơn lên ngang tầm với nền kinh tế trong khu vực và
trên thế giới trong tơng lại, với xu thế chung là nền kinh tế tri thức.
1.2. Khái niệm và đặc điểm của khách du lịch
1.2.1. Khái niệm khách du lịch.
Lê Thị Thành 43b Trang 18
Báo cáo chuyên đề thực tập Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
Du lịch là một bộ phận của sự đi lại. Du lịch chủ yếu bao gồm hoạt động của
những ngời đi và ở lại những nơi ở ngoài môi trờng thờng xuyên của họ để nghỉ ngơi,
thực hiện công việc và các mục đích khác. Chúng ta hãy coi những ngời tham gia vào du
lịch nh một điểm xuất phát, những ngời này đợc gọi là khách. Nh vậy, với mục đích
thống kê, khái niệm về khách đợc định nghĩa nh sau:
Khách là những ngời đi ra khỏi môi trờng sống thờng xuyên của minh đến một
nơi khác ít hơn 12 tháng với mục đích của chuyến đi không phải để tiến hành các hoạt
động đem lại thù lao ở nơi đến.
Thuật ngữ Khách đợc sử dụng nh là khái niệm cơ sở của toàn bộ hệ thống thống
kê. Để hiểu rõ hơn định nghĩa về khách, chúng ta hãy tìm hiểu các đặc điểm của khách
du lịch.
1.2.2. Đặc điểm khách du lịch.
Khách du lịch là những ngời thực hiện chuyến đi phải là để đến một nơi khác với
môi trờng thờng xuyên. Khái niệm về môi trờng thờng xuyên liên quan đến hai vấn đề là
- Những ngời đi theo dạng tị nạn hoặc du mục.
- Những ngời quá cảnh mà không vào nớc đó (chỉ chờ chuyển máy bay vào sân
bay) thông qua kiểm tra hộ chiếu nh những hành khách ở lại trong thời gian rất ngắn ở ga
sân bay hoặc là những hành khách trên thuyền đỗ ở cảng mà không đợc phép lên bờ.
1.2.3.2. Khách trong nớc.
Đợc định nghĩa là những ngời đi ra khỏi môi trờng sống thờng xuyên của mình trong
thời gian liên tục ít hơn 12 tháng với mục đích của chuyến đi không phải để tiến hành các
công việc nhằm nhận thù lao ở nơi đến.
Khách trong nớc cũng đợc chia làm hai loại:
- Khách nghỉ qua đêm tại cơ sở lu trú nơi đến
- Khách trong ngày (không nghỉ qua đêm tại cơ sở l trú nơi đến)
Những trờng hợp sau theo khái niệm trên không đợc gọi là khách trong nớc:
- Những ngời c trú ở nớc này đến một nơi khác với mục đích là c trú ở nơi đó.
- Những ngời đến một nơi khác và nhận đợc thù lao từ nơi đó.
- Những ngời đến và làm việc tạm thời ở đó.
- Những ngời đi thờng xuyên hoặc theo thói quen giữa các vùng lân cận để học tập
hoặc nghiên cứu.
- Những ngời du mục và những ngời không c trú cố định.
- Những chuyến đi diễn tập của lực lợng vũ trang.
Lê Thị Thành 43b Trang 20
Báo cáo chuyên đề thực tập Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
1.2.4. Các nhân tố ảnh hởng đến lợng khác du lịch.
Khách du lịch chịu tác động của rất nhiều nhân tố, những nhân tố này tác động
làm thay đổi xu hớng du lịch, làm ảnh hởng đến kết quả hoạt động kinh doanh.. Dới đây
là một số nhân tố chủ yếu tác động đến khách du lịch.
Thứ nhất: Mức thu nhập dân c.
Mức thu nhập là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến số lợng khách du lịch và từng
loại khách du lịch. Các nhân tố này tạo ra nhu cầu có khả năng thanh toán của du khách,
bởi vì nhu cầu du lịch hiện nay vẫn cha thực sự trở thành nhu cầu cấp thiết, đặt lên hàng
đầu, nên khả năng thanh toán cho du lịch chỉ là phần còn lại sau khi thu nhập đủ trang
hội chính trị, thể thao, các cuộc hội họp ); nhân tố sở thích, khẩu vị (phản ánh nhu cầu
phát sinh từ khung cảnh văn hóa hay nhu cầu thực sự của con ngời), và hàng loạt các
nhân tố khác nh truyền thống, phong tục, tập quán, sự đa dạng , phong phú của các di tích
lịch sử văn hoá, lòng nhiệt tình và thiện cảm của những ngời bản địa.
Tuy nhiên, trong thực tế để xem xét mức biến động của số lợng khách du lịch
chúng ta không thể xét riêng từng nhân tố kể cả các nhân tố chủ yếu cũng nh là các nhân
tố thứ yếu, mang tính chất cục bộ. Do đó, muốn nghiên cứu đạt kết quả tốt nhất, ta phải
xét trên tổng thể các mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hởng.
1.2.5. Vai trò, ý nghĩa của việc nghiên cứu khách du lịch đối với sự phát triển.
Khách du lịch là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá khả năng thu hút khách, khối lợng
hoạt động, kết quả đạt đợc của từng đơn vị kinh doanh và toàn ngành du lịch trong từng
thời kỳ nhất định.
Các chỉ tiêu thống kê khách du lịch còn đợc dùng để tính ra nhiều chỉ tiêu chất l-
ợng và hiệu quả của hoạt động kinh doanh du lịch nh phân tích các nhân tố ảnh hởng đến
doanh thu du lịch, các chỉ tiêu về lợi nhuận, mức doanh lợi
Chỉ tiêu khách du lịch là chỉ tiêu cơ sở giúp cho các nhà kinh doanh đa ra các mục
tiêu chiến lợc và các biện pháp để năng cao hiệu quả thu hút khách cho kế hoạch tiếp
theo.
Chỉ tiêu khách du lịch cũng nói lên sự ham hiểu biết, lòng quý mến của du khách
về đất nớc và con ngời nơi đến thăm.
Lê Thị Thành 43b Trang 22
Báo cáo chuyên đề thực tập Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
II. Hệ thống chỉ tiêu thống kê nghiên cứu khách du lịch
2.1.Số khách du lịch.
Để thống kê số lợng khách du lịch trớc hết phải định nghĩa thế nào là khách du
lịch. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về khách du lịch, tuỳ theo sự phát triển của hoạt
động du lịch. Dới đây là một vài định nghĩa khác nhau:
Khách du lịch Tourist bắt nguồn từ chữ Tour nghĩa là chuyến đi theo một chu
trình khép kín: Khởi hành từ một địa điểm cụ thể nào đó rồi trở về chính nơi đó theo một
lộ trình nhất định. Khi đề cập đến khách du lịch, phần đông chúng ta thờng nghỉ đến
- Mục đích của chuyến đi là thăm quan, thăm viếng hoặc nghỉ ngơi với thời gian
không quá 3 tháng.
- Không làm bất cứ việc gì để đợc trả thù lao tại nớc đến thăm do ý muốn của
khách hoặc do yêu cầu của nớc sở tại.
- Sau khi kết thúc tham quan phải rời khỏi nớc đến thăm quan để trở về nớc thờng
trú của mình hoặc đi sang nớc khác.
Theo định nghĩa này, đặc trng về thời gian có thêm tối đa là ba tháng để tránh sự di
c trong thời gian này.
Để phục vụ mục đích thống kê, gần đây nghị quyết của Hội nghị Quốc tế về thống
kê du lịch (họp ở Ottawa, Canada từ 24 -28/6/1991), đã đợc đại hội dồng của tổ chức du
lịch thế giới (WTO) thông qua ở kỳ hợp thứ 9 (tại Buenos Aires Achentina từ 30/09 đến
04/10/1991) đã đa ra định nghĩa về khách du lịch quốc tế nh sau: Khách du lịch quốc tế
là một ngòi khách đi du lịch tới một đất nớc không phải là đất nớc mà họ c trú thờng
xuyên trong khoảng thời gian ít nhất là một ngày đêm nhng không vợt quá một năm và
mục đích chính của chuyến đi không phải để thực hiện hoạt động kiếm tiền trong pham vi
đất nớc tới thăm. Nh vậy, để tính là một khách du lịch phải có ba điều kiện: không gian,
thời gian, và mục dích chuyến đi. Theo định nghĩa này, thời gian tối đa là một năm. Định
nghĩa này đợc coi là chuẩn mực chính để các nớc thành viên của tổ chức du lịch thế giới
xây dựng định nghĩa về khách du lịch vừa phù hợp với đặc điểm của nớc mình vừa hoà
nhập với cộng đồng thế giới.
Vận dụng vào thực tiễn Việt Nam, những ngời đợc thống kê vào khách du lịch
quốc tế là : Ngời nớc ngoài, ngời Việt Nam định c ở nớc ngoài đến Việt Nam và công dân
Việt Nam ra nớc ngoài, thời gian lu trú ít nhất là một ngày đêm nhng không quá một
năm; mục dích của chuyến đi là hành hơng, thăm quan, nghỉ ngơi giải trí, thăm thân, hội
nghị, hội thảo, công tác, chữa bệnh, hoạt động văn hoá, thể thao và các hoạt động khác
ngoài hoạt động kiếm tiền, và bao gồm cả những ngời tới bằng đờng biển, nghỉ đêm tại
các cơ sở lu trú trên bờ.
Trong một thời kỳ nào đó mà chúng ta nghiên cứu, một ngời không chỉ thực hiện
một chuyến đi mà nhiều chuyến đi đến cùng một địa điểm, để thoả mãn một hoặc nhiều
Lê Thị Thành 43b Trang 24
chất, khu vui chơi của du khách. Không những thế, chỉ tiêu này còn đ ợc dùng để tính
Lê Thị Thành 43b Trang 25