Lời mở đầu
Du lịch ngày nay đã trở thành một hiện tợng quan trọng của đời sống
hiện đại. Đó là chiều hớng của thế giới đơng đại.
Du lịch đã và đang đợc các nớc trên thế giới coi là ngòi nổ kinh tế. Đây
là sự khẳng định du lịch trên thế giới đã trở thành một hiện tợng phổ biến,
một ngành kinh tế không thể thiếu trong đời sống xã hội, là một phơng tiện
trao đổi văn hóa, tình cảm, một biện pháp để tăng cờng tình đoàn kết quốc tế,
hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc. Nhiều ngời còn cho rằng du lịch là một
trong những tiêu chuẩn đánh giá mức sống của dân c. Đối với nhiều quốc gia,
hoạt động du lịch đợc coi là hoạt động kinh tế xã hội, hoạt động đối ngoại
tạo điều kiện thúc đẩy cho các ngành kinh tế khác phát triển và tạo việc làm
cho một lực lợng lao động nhàn rỗi trong xã hội.
Hàng năm Việt Nam đã đón nhận hàng triệu lợt khách nội địa và quốc
tế. Khách là xuất phát điểm của mọi chiến lợc kinh doanh trong các công ty
du lịch và các khách sạn. mục tiêu của khách sạn là duy trì số khách hiện có
và tiếp tục chinh phục các khách hàng mới, điều quan trọng là phải biết
khách hàng cần gì để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của họ xuất phát từ vấn đề
nêu trên, đồng thời nhận thức đợc sự cần thiết phải nghiên cứu một cách tỷ
mỷ khoa học và có hệ thống để đề ra một cách tổng quát nhất, đầy đủ nhất
các biện pháp thu hút đợc nhiều khách hàng, làm cho khách sạn kinh doanh
đạt hiệu quả kinh tế cao nhất.
Với những kiến thức đã tích lũy đợc từ trờng lớp, từ thực tế kinh doanh
tại khách sạn Hà Nội Star, cùng với sự hớng dẫn tận tình của thầy giáo Trần
Hậu Thự và tập thể cán bộ công nhân viên tại Công ty cổ phần dịch vụ du
lịch Trần Qúy Cáp, em đã tập trung nghiên cứu và chọn đề tài Mở rộng thị
trờng khách và các giải pháp thu hút khách tại Khách sạn Hà Nội Star.
Nội dung chính của chuyên đề gồm 3 chơng:
1
Chơng 1 - Một số vấn đề lý luận cơ bản về thị trờng du lịch và khách
du lịch.
Chơng 2 - Thực trạng thị trờng khách và khả năng thu hút khách của
3
ờng chứng khoán Vì vậy ngành Du lịch cũng có một trị tr ờng riêng, đó là
thị trờng du lịch.
Thị trờng không chỉ là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, trao đổi mà
còn thể hiện các quan hệ hàng hóa tiền tệ. Do đó thị trờng đợc coi là môi tr-
ờng của kinh doanh, thị trờng là tấm gơng để các cơ sở kinh doanh nhận biết
nhu cầu xã hội để đánh giá hiệu quả kinh doanh của chính bản thân mình.
Thị trờng du lịch là một bộ phận của thị trờng nói chung. Xuất phát từ
đặc điểm của sản phẩm du lịch, thị trờng du lịch đợc coi là một bộ phận cấu
thành tơng đối đặc biệt của thị trờng hàng hóa. Nó bao gồm các mối quan hệ
và cơ chế kinh tế có liên quan đến địa điểm, thời gian, điều kiện và phạm vi
thực hiện dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội về dịch vụ.
Vì thị trờng du lịch là một bộ phận cấu thành của thị trờng hàng hóa
nên thị trờng du lịch cũng chịu sự chi phối của các quy luật trên thị trờng nh
quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu
Thị trờng du lịch là nơi thực hiện các dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu xã
hội về du lịch nên có tính độc lập tơng đối so với thị trờng khác.
Toàn bộ các mối quan hệ và cơ chế kinh tế diễn ra trên thị trờng du
lịch phải gắn liền với địa điểm, thời gian, điều kiện, phạm vi của việc thực
hiện dịch vụ hàng hóa du lịch.
Nói một cách tổng thể chung ta có thể hiểu thị trờng du lịch là tập hợp
nhu cầu sản phẩm du lịch và toàn bộ cung đáp ứng cầu, đó là mối quan hệ
giữa chúng. Dới góc độ là một đơn vị kinh doanh thì thị trờng du lịch là tập
hợp nhóm khách hàng đang có mong muốn, nguyện vọng và có sức mua về
sản phẩm du lịch nhng cha đợc đáp ứng.
Mỗi một ngành kinh doanh một lĩnh vực khác nhau do đó sản phẩm đa
ra thị trờng cũng có sự khác biệt. Ngành du lịch sản xuất ra các sản phẩm để
đáp ứng nhu câu tiêu dùng của khách hàng. Sản phẩm du lịch là những hàng
hóa và dịch vụ cung cấp cho khách trong quá trình đi du lịch. Sản phẩm du
lịch bao gồm:
riêng. Trong một thời gian ngắn lợng cung trong du lịch tơng đối ổn
định, còn cầu luôn luôn biến đổi. Do đó, tạo ra sự ăn khớp giữa
5
cung và cầu trong từng thời điểm là vô cùng quan trọng và rất khó
khăn.
- Sự thay đổi về tiền tệ, tình hình chính trị và an ninh trật tự, sự khó
dễ về thủ tục xuất nhập cảnh, hải quan cùng tác động tới nhu cầu
của khách về tiêu dùng sản phẩm du lịch.
1.1.2 - Nhu cầu du lịch.
Nhu cầu là cái tất yếu tự nhiên, nó thuộc tâm lý của con ngời, hay nói
cách khác nhu cầu chính là cái gây nên nội lợc ở mỗi cá nhân, nhu cầu là
mầm mống, là nguyên nhân của mọi hành động. Một nhu cầu nếu đợc thỏa
mãn sẽ gây nên những tác động tích cực và ngợc lại. Nếu nó không đợc thỏa
mãn thì nó sẽ phản tác dụng. Vấn đề đặt ra ở đây là làm sao chúng ta phải
nắm bắt đợc nhu cầu của du khách để từ đó có biện pháp nhằm thỏa mãn tối
đa nhu cầu và tạo đợc sự hài lòng đối với khách.
Nhu cầu đi du lịch là một nhu cầu cao cấp và đadạng. Trong chuyến
hành trình của du khách nó đợc chia làm 3 loại: nhu cầu thiết yếu, nhu cầu
đặc trng và nhu cầu bổ sung.
- Nhu cầu thiết yếu : Đây là loại nhu cầu không tạo nên động cơ của
chuyến đi nhng đây là nhóm nhu cầu cơ bản của con ngời và là nhu
cầu không thể thiếu đợc trong mỗi chuyến đi. Nhu cầu thiết yếu bao
gồm nhng nhu cầu nh: nhu cầu vận chuyển, nhu cầu lu trú và nhu
cầu ăn uống.
+ Nhu cầu vận chuyển: Nhu cầu này của khách phát sinh do tính
cốđịnh của tài nhuyên du lịch và đợc hiểu là sự di chuyển của khách du lịch
từ nơi ở thờng xuyên tới một điểm du lịch nào đó. Nhu cầu vận chuyển xuất
hiện ngay sau khi nảy sinh nhu cầu du lịch. Có nhiều yếu tố ảnh hởng tới
mong muốn thỏa mãn nhu cầu đi lại của du khách nh mục đích của chuyến
đi, khả năng thanh toán, thói quen tiêu dùng, xác suất rủi ro do các phơng
khách là loại khách nào, động cơ đi du lịch của họ là gì và mong muốn của
7
họ ra sao để từ đó xây dựng các tiêu chuẩn phục vụ và tổ chức phục vụ hợp lý
để có thể khai thác tốt các nhu cầu của du khách.
Với những đặc điểm trên ta có thể nói một cách ngắn gọn nhu cầu du
lịch là một loại hình nhu cầu đặc biệt và tổng hợp của con ngời. Nhu cầu này
đợc hình thành và phát triển trên nền tảng nhu cầu sinh lý và nhu cầu tinh
thần của khách du lịch.
Cầu du lịch là nhu cầu có khả năng thanh toán cao và mang tính tổng
hợp phân tán. Trong khi đó mỗi đơn vị kinh doanh du lịch chỉ đáp ứng đợc
một phần của du lịch. Khi đi du lịch, khách du lịch có nhu cầu về mọi thứ, từ
tham quan tài nguyên du lịch tới ăn ngủ, đi lại, visa cũng nh thởng thức các
giá trị văn hóa, tinh thần.
1.1.3 - Khách du lịch.
Để ngành du lịch hoạt động và phát triển cần phải có khách, bởi vì có
khách các hoạt động mua bán trên thị trờng du lịch mới đợc diễn ra, còn nếu
không có khách thì hoạt động du lịch trở nên vô nghĩa. Đứng trên góc độ thị
trờng thì cầu du lịch chính là các khách du lịch còn cung du lịch là các nhà
kinh doanh cung cấp sản phẩm du lịch.
Du lịch từ lúc hình thành cho đến nay là một hiện tợng phức tạp. Cùng
với quá trình phát triển, nội dung của nó không ngừng đợc mở rộng và ngày
càng trở nên phong phú. Từ đó các khái niệm, các định nghĩa khác nhau về
khách du lịch cũng đợc hoàn thiện dần. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về
khách du lịch.
Theo nhà kinh tế học ngời áo Lozep Stemoler định nghĩa: Khách du
lịch là hành khách đặc biệt ở lại theo ý thích ngoài nơi c trú thờng xuyên để
thỏa mãn những nhu cầu cao cấp mà không theo đuổi những mục đích kinh
tế.
Theo nhà kinh tế học ngời Anh Odgilvi khẳng định: Để trở thành
khách du lịch phải có ít nhất 2 điều kiện.
càng tốt hơn. Khi càng nghiên cứu kỹ về khách bao nhiêu thì hoạt động thu
9
hút khách càng có hiệu quả bấy nhiêu. Khách sạn sẽ khai thác tốt nguồn
khách khi có những thông tin và hiểu biết về họ (nhu cầu, đặc điểm, thói
quen ).
Mục tiêu của việc phân loại khách du lịch là tìm ra những nhóm khách
hàng có cùng một đặc điểm chung nổi bật. Do khách đến khách sạn rất đa
dạng, cho nên chỉ phân loại khách thì khách sạn mới tìm ra đợc những nhóm
khách hàng có trọng tâm để từ đó có biện pháp khai thác hợp lý và có hiệu
quả.
Có nhiều cách phân loại khách nhng trong kinh doanh khách sạn ngời
ta phân loại theo những đặc điểm sau:
a) Phân loại theo thị trờng khu vực:
Mỗi một ngời khách đến khách sạn có mộtt quê hơng, một nền văn hóa
riêng, không dân tộc nào giống dân tộc nào. từ đó mỗi khách hàng có một
yêu cầu khác nhau về sản phẩm. Do vậy, với t cách là chủ nhà đồng thời là
ngời làm nghề dịch vụ, các nhân viên khách sạn phải biết phân loại khách để
có cách ứng xử hợp lý. Thông thờng các khách sạn thờng phân loại khách
theo khu vực nh khách Tây Âu, khách Châu á, Châu Mỹ
b) Phân loại khách theo mục đích chuyến đi:
Ngày nay, con ngời đi du lịch có thể theo nhiều mục đích, nhiều lý do
khác nhau nh: tham quan, giải trí, tìm hiểu, đi với mục đích hội nghị, hội
thảo hoặc chỉ chạy đua theo mốt hay chạy trốn sự ồn ào của cuộc sống công
nghiệp mang lại.
Khách theo mục đích chuyến đi bao gồm:
- Khách công vụ: là khách đi du lịch nhằm giải quyết công việc nh
gặp gỡ bạn hàng, dự hội nghị. Loại khách này có đặc điểm là đến
các thành phố, chuyến đi ngắn và có khả năng thanh toán cao. Do
đó họ ít chịu tác động của giá và ít chịu ảnh hởng của mùa vụ.
- Khách nghỉ ngơi giải trí: loại khách này thờng đến các nơi có tài
đợc. Vì vậy, đối với khách sạn thì việc thuyết phục khách tiêu thụ sản phẩm
của mình là một u tiên hàng đầu nhằm duy trì và nâng cao hiệu quả kinh
11
doanh. Chính vì vậy mà việc nghiên cứu thị trờng khách có hiệu quả nhất
trong điều kiện kinh doanh mang tính cạnh tranh cao nh hiện nay. Mặt khác,
thông qua nghiên cứu nguồn khách mà khách sạn có thể biết đợc:
- Khách là ai, tiêu dùng sản phẩm gì, tại sao?
- Sản phẩm của khách sạn có phù hợp với khách hay không, cần phải
sửa đổi hay bổ sung gì?
- Sự ảnh hởng của giá tới quyết định tiêu dùng của khách nh thế nào?
- Phơng tiện quảng cáo nào sử dụng có hiệu quả nhất.
- Yếu tố nào tác động đến sự lựa chọn của khách hàng.
1.1.4- Khách sạn và đặc điểm của hoạt động kinh doanh khách
sạn.
a) Khái niệm khách sạn.
Khách sạn là cơ sở kinh doanh dịch vụ lu trú, ăn uống và các dịch vụ
bổ sung khác nhằm phục vụ khách lu trú trong một thời gian ngắn, đáp ứng
nhu cầu cần thiết khác phù hợp với mục đích và động cơ của chuyến đi.
b) Đặc điểm của hoạt động kinh doanh khách sạn.
Ngày nay, hoạt động du lịch đã phát triển mạnh ở nhiều nớc trên thế
giới nên mô hình khách sạn đã đợc phát triển ở mức hoàn chỉnh. Để đáp ứng
nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch thì các khách sạn quốc tế đã dùng
biểu tợng ngôi sao để xếp hạng khách sạn, từ hạng 5 sao đến 1 sao, thấp hơn
thì không xếp hạng sao. Chính vì vậy hoạt động kinh doanh khách sạn có
những đặc điểm nh sau:
- Khách sạn thờng có vốn đầu t xây dựng cơ bản lớn. Đó là các chi phí
để trang bị và thiết lập nội thất trong khách sạn và trong từng buồng. Đó là
cha kể đến các chi phí khác nh chi phí hành chính, chi phí đào tạo và chi phí
bảo dỡng khách sạn cũng chiếm một tỷ lệ khá cao trong giá thành của các
dịch vụ hàng hóa. Do đó, trớc khi bắt tay vào đầu t xây dựng, nâng cấp tu bổ
c) Các yếu tố ảnh hởng tới hoạt động kinh doanh khách sạn.
Yếu tố tổng hợp:
13
Yếu tố tổng hợp ảnh hởng tới toàn bộ nền kinh tế quốc dân, có thể là
yếu tố khoa học kỹ thuật, công nghệ, tổ chức lao động hợp lý, tăng cờng kế
hoạch hóa, tạo ra những đòn bấy kinh tế, chính sách, chế độ u đãi nhằm nâng
cao đời sống vật chất và tinh thần cho lao động. Chính sách tập trung và
chuyên môn hóa, cải tạo và hiện đại hóa, yêu cầu về chất lợng thời gian làm
việc Sự ảnh h ởng của các yếu tố tổng hợp đối với hiệu quả kinh doanh của
khách sạn có thể biểu hiện theo ba hớng.
Các yếu tố ảnh hởng tới sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, tạo
điều kiện cho những thành tựu của ngành kinh doanh du lịch nói chung và
ngành kinh doanh khách sạn du lịch và ăn uống nói chung.
Các yếu tố tổng hợp giúp tăng cờng mạnh hơn hoặc chậm hơn trong sự
phát triển của những ngành du lịch có quan hệ gắn bó.
Trong những điều kiện cụ thể, các yếu tố tổng hợp có môi trờng để thể
hiện sự ảnh hởng tới hiệu quả kinh doanh của khách sạn. Chúng có thể thay
đổi cả hớng và mức độ tác động. Một số yếu tố môi trờng cụ thẻ nó sẽ tác
động tích cực tới hiệu quả kinh doanh nh nâng cao chất lợng sản phẩm phục
vụ, tăng cờng kế hoạch hóa, tổ chức lại sản xuất Dựa vào những đặc điểm
đặc thù riêng của ngành kinh doanh khách sạn du lịch và ăn uống ngời ta
đánh giá những tác động tích cực và khắc phục những tác động tiêu cực của
những yếu tố trên.
Yếu tố ngành:
Nh là mức độ nguyên sinh và sức hấp dãn của tài nguyên du lịch; đánh
giá, cơ cấu của doanh thu, cơ cấu khách, mùa vụ, cấp hạng cơ sở lu trú các
yếu tố này tác động trực tiếp nên hiệu quả kinh doanh của khách sạn. Chúng
là động cơ thúc đẩy khách du lịch,tạo nhu cầu sử dụng các dịch vụ khách sạn,
ăn uống, vui chơi giải trí Do đó, doanh nghiệp khách sạn phải kết hợp với
các doanh nghiệp làm du lịch để khai thác tốt yếu tố tài nguyên, tổ chức bán
nhân tố ảnh hởng đến khả năng thu hút khách của khách sạn.
a) Đặc thù của quốc gia:
15
Có thể nói đặc thù của mỗi quốc gia tạo nên một lợi thế cạnh tranh
riêng cho quốc gia đó. Nó thể hiện ở các mặt nh: kinh tế, chính trị, văn hóa -
xã hội, tiềm năng kinh tế và tài nguyên du lịch. Tính đặc thù này là vô cùng
quan trọng vì cho dù tình hình du lịch thế giới có thuận lợi tới đâu nhng trong
bối cảnh quốc gia không tốt thì chắc chắn sẽ khó có thể phát triển đợc và
những khách sạn trong quốc gia đó cũng khó có thể thu hút khách. Có thể
nói, một đất nớc hòa bình là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển du lịch của
đất nớc đó. Ngoài ra, một quốc gia có nền kinh tế phát triển cao, có bề dầy
lịch sử và văn hóa cũng là điều kiện để thu hút khách du lịch, điều đó cũng
có nghĩa nó tác động rất lớn tới nguồn khách của khách sạn.
b) Vị trí, địa điểm của khách sạn:
Đối với một khách sạn, địa điểm kinh doanhđóng vai trò quyết định tới
kinh doanh của khách sạn.
Việc bán đợc nhiều sản phẩm hay không phụ thuộc phần lớn vào địa
điểm kinh doanh. Trong kinh doanh khách sạn cũng vậy, những nơi mang lại
địa thế thuận lợi đối với khách sạn là nơi có điều kiện thu hút khách. Ngoài
ra, vị trí, địa điểm còn quan trọng ở chỗ do đặc điểm của sản phẩm du lịch là
không thể tồn kho, không thể vận chuyển đợc nên khi muốn tiêu dùng sản
phẩm du lịch, khách du lịch phải đến những nơi có sản phẩm du lịch. Do vậy,
lợi thế về địa điểm kinh doanh cũng là một điểm mạnh của khách sạn trong
việc thu hút khách.
c) Chất lợng phục vụ của khách sạn:
(Điều này phụ thuộc vào uy tín và thứ hạng của khách sạn).
Chất lợng phục vụ là nhân tố có tính quyết định đến việc thỏa mãn nhu
cầu của khách, tạo nên uy tín của khách sạn. Chính vì vậy chất lợng phục vụ
đợc coi là tiêu chuẩn đánh giá hoạt động kinh doanh và là thớc đo để phân
loại thứ hạng khách sạn. Chất lợng phục vụ đợc thể hiện ở số lợng, chủng loại
sự tác động của giá cả là rõ nét nhất. Giá cả của hàng hóa còn ảnh hởng đến
cơ cấu chi tiêu của khách du lịch. Chính vì vậy việc định giá cho sản phẩm là
rất quan trọng, nó có tác động đến khả năng thu hút khách của khách sạn. do
17
đó nhà kinh doanh phải có biện pháp thích hợp trong việc định ra các mức
giá làm sao vẫn thu hút đợc khách và vẫn đảm bảo hiệu quả hoạt động kinh
doanh của cơ sở.
e) Hoạt động quảng cáo, khuyếch trơng của khách sạn:
Công tác quảng cáo, khuyếch trơng cũng góp phần làm tăng sự hấp dẫn
của khách sạn đối với du khách. Thông qua quảng cáo, du khách có thể biết
đợc khách sạn nào phù hợp với mình để lựa chọn.
1.2.2- Một số biện pháp chủ yếu thu hút khách trong kinh doanh
khách sạn.
a) Hoàn thiện và nâng cao chất lợng phục vụ trong khách sạn:
Chất lợng phục vụ có ảnh hởng lớn đến việc thu hút khách du lịch.
Chất lợng phụ vụ đợc coi là một trong những tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá
toàn bộ hoạt động của đơn vị kinh doanh du lịch, đồng thời nó cũng là thớc
đo quan trọng để phân hạng khách sạn. Cơ sở kinh doanh du lịch có chất lợng
phục vụ ngày càng cao thì càng thu hút đợc nhiều khách. Một khách sạn
muốn thu hút khách thì vấn đề đặt ra hàng đầu và có tính quyết định là không
ngừng hoàn thiện và nâng cao chất lợng phục vụ. Chất lợng phục vụ của
khách sạn đợc đánh giá thông qua các mặt sau:
- Chất lợng cơ sở vật chất kỹ thuật.
- Chất lợng đội ngũ lao động.
- Chất lợng các dịch vụ trong khách sạn.
Vì vậy nâng cao chất lợng phục vụ chính là khách sạn không ngừng
nâng cao cơ sở vật chất kỹ thuật khách sạn, nâng cao tay nghề và chất lợng
lao động của đội ngũ nhân viên khách sạn.
Trên cơ sở nhu cầu, sở thích của khách mà khách sạn có thể đa dạng
các loại sản phẩm và dịch vụ, tăng số lợng các loại sản phẩm đặc biệt hoặc
tăng sức hấp dẫn thu hút khách là điều cần thiết nhng đòi hỏi phải bảo đảm
hiẹu quả kinh doanh cho khách sạn.
c) Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, quảng cáo:
19
Quảng cáo là một phơng tiện quan trọng để thu hút khách du lịch. Đó
là quá trình truyền tin đến khách hàng và đa ra những thông tin thuyết phục,
lôi kéo sự chú ý của khách, thúc đẩy sự quan tâm mong muốn đi đến quyết
định tiêu dùng sản phẩm của khách sạn.
Quảng cáo trong khách sạn nhằm giới thiệu cho khách vị trí quy mô,
kiểu loại thứ hàng của các hàng hóa dịch vụ mà khách sạn có khả năng đáp
ứng.
Hoạt động quảng cáo là cần thiết và nó bắt nguồn từ đặc điểm của ngời
tiêu dùng và tính cạnh tranh của thị trờng.
d) Tạo lập và xây dựng mối quan hệ với các đơn vị khác:
Đây cũng là một hình thức cũng không kém phần quan trọng trong
việc lôi kéo khách đến với khách sạn. Hỗu hết các cơ sở đều có mối quan hệ
với các tổ chức kinh tế, các đại lý, công ty lữ hành, các công ty gửi khách
Khách sạn cũng cần tạo lập mối quan hệ với các hãng hàng không, các khách
sạn khác, công đoàn các công ty các mối quan hệ đó đều đ ợc tạo lập qua
các hợp đồng gửi khách dài hạn. Các mối quan hệ này phải đợc xây dựng trên
cơ sở bình đẳng và đôi bên cùng có lợi. Thông qua mối quan hệ này, khách
sạn sẽ có nguồn khách ổn định. Song để những mối quan hệ này đợc lâu dài
và bền vững thì khách sạn phải có những chính sách khuyến khích với những
ngời gửi khách nh: tiền hoa hồng cho công ty gửi khách với tỷ lệ 5%, 10%,
15% tùy từng mối quan hệ.
Trên đây là những cơ sở lý luận về các biện pháp thu hút khách mà
nhiều khách sạn áp dụng. Mỗi khách sạn có thể dựa vào thế mạnh của mình
để đa ra những biện pháp phù hợp tránh lãng phí và mang lại hiệu quả cao
cho khách sạn trong việc thu hút khách.
20
Công ty cổ phần dịch vụ du lịch Trần Quý Cáp bắt đầu đi vào hoạt
động từ ngày 11.8.1999 theo quyết định số 3261 QD/UB của UBND thành
phố Hà Nội với ngành nghề kinh doanh chính là kinh doanh khách sạn, ăn
uống và các dịch vụ du lịch. Ngoài ra công ty còn kinh doanh bán hàng công
nghệ phẩm, hàng lu niệm. Những ngày đầu bớc vào hoạt động kinh doanh,
khách sạn gặp nhiều khó khăn nh vốn ít, trang bị còn hạn chế, vị trí khách
sạn gần khu vực ga tàu cho nên môi trờng xung quanh ít nhiều còn bị ảnh h-
ởng, đờng hẹp, không có bãi đậu xe, không thuận tiện cho giao thông qua lại.
Tuy gặp nhiều khó khăn, hạn chế, nhờ sự giúp đỡ của thành uỷ Hà Nội, cùng
với sự nỗ lực phấn đấu của đội ngũ cán bộ công nhân viên, công ty cổ phần
dịch vụ du lịch Trần Quý Cáp đã từng bớc ổn định hoạt động kinh doanh và
đạt kết quả đáng khích lệ. Doanh số các năm đợc nâng cao dần, thu nhập của
cán bộ công nhân viên đợc cải thiện, khách sạn cũng từng bớc đợc trang bị
thêm thiết bị, nâng cấp khách sạn và đáp ứng đợc nhu cầu ngày càng cao của
ngành kinh doanh khách sạn. Từ đó khách sạn dựa vào những u điểm của
mình là ở quận trung tâm thành phố, thuận tiện đi lại của khách du lịch nên
22
đã thu hút đợc nhiều đối tợng khách trong nớc cũng nh khách nớc ngoài,
khách công vụ và cả khách du lịch.
Hiện nay Công ty cổ phần dịch vụ du lịch Trần Quý Cáp bao gồm 2
khách sạn là khách sạn Hà Nội Star và khách sạn Ngô Sỹ Liên, một nhà hàng
ăn uống có thể cùng một lúc phục vụ 320 khách ăn uống và 3 gian hàng bán
hàng công nghệ phẩm. Hai khách sạn có tổng số phòng là 40 phòng chuyên
kinh doanh lu trú, phục vụ ăn uống nếu khách có nhu cầu. Sau hơn ba năm
hoạt động khách sạn Hà Nội Star đã nhận đợc nhiều hợp đồng từ phía các
công ty du lịch, đón tiếp đợc nhiều đoàn khách nội địa và khách du lịch quốc
tế, đa công ty cổ phần dịch vụ du lịch Trần Quý Cáp trở thành một doanh
nghiệp kinh doanh có hiệu quả của thành phố Hà Nội và đợc khách hàng tín
nhiệm.
Nh vậy, trong ba năm qua Công ty cổ phần dịch vụ du lịch Trần Quý
phòng
Bộ phận phục
vụ ăn uống
Bộ phận
buồng
Trưởng bộ phận
lễ tân
Kế hoạch
Trưởng bộ
phận ăn uống
Nhân viên phục
vụ ăn uống
Bộ phận tài
vụ
Phòng hành
chính tổng hợp
Phó giám đốc
Giám đốc điều
hành
Chủ tịch hội đồng
quản trị
Phòng
kế
hoạch
thị trư
ờng
Phòng kế toán
tài vụ
Bộ phận bảo vệ
Bộ phận lễ tân