MỞ ĐẦU
Sự phát triển không ngừng của ngành du lịch Việt Nam trong những năm
qua đã tạo ra một môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của các công
ty hoạt động trong lĩnh vực này. Quy mô của các công ty du lịch ngày càng mở
rộng, số vốn giành cho đầu tư phát triển ngày càng nhiều. Tuy nhiên, việc sử
dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp này vẫn còn tồn tại
nhiều hạn chế, gây ra sự kém hiệu quả của hoạt động đầu tư, quá trình đầu tư
không đạt được những kết quả như mong muốn. Nếu không giải quyết một cách
triệt để những hạn chế này sẽ gây ra sự lãng phí nguồn vốn đầu tư của bản thân
doanh nghiệp cũng như của nền kinh tế.
Nhận thấy sự cần thiết của vấn đề trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Đầu tư với
việc phát triển hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch của công ty Hanoi
Toserco giai đoạn 2000-2005” để nghiên cứu và thực hiện chuyên đề tốt
nghiệp.
Kết cấu của chuyên đề gồm 2 chương:
Chương I: Đầu tư và hoạt động kinh doanh du lịch đối với sự phát triển
kinh tế xã hội của Việt Nam giai đoạn 2000-2010.
Chương II: Một số giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn, hạn chế,
nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư tại Hanoi Toserco đến năm 2010.
Do vốn kiến thức còn hạn chế, ít kinh nghiệm thực tế nên trong quá trình
thực hiện đề tài không tránh khỏi thiếu sót, tôi rất mong được sự đóng góp ý
kiến của thầy cô và các bạn để đề tài trên được hoàn thiện hơn nữa.
1
Chương I
ĐẦU TƯ VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DU LỊCH ĐỐI VỚI
SỰ NGHIỆP PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2000-2010.
A. ĐẦU TƯ VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DU LỊCH:
Do có sự bỏ ra các nguồn lực ở hiện tại và tạo được những nguồn lực lớn
hơn trong tương lai nên đầu tư tác động đến cả tổng cung và tổng cầu của một
nền kinh tế.
Đầu tư ảnh hưởng hai mặt đến sự ổn định và phát triển kinh tế. Một mặt, nó
tác động thúc đẩy quá trình phát triển đi lên của nền kinh tế do tạo thêm được
những tài sản, nguồn lực mới, nhưng mặt khác, nó lại là nguyên nhân dẫn đến
những hiện tượng gây hại đến sự phát triển kinh tế như lạm phát.
Đầu tư có ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Một cơ cấu đầu tư
hợp lí sẽ tạo ra được một cơ cấu kinh tế hợp lý, tạo ra sự cân đối trên phạm vi
toàn nền kinh tế quốc dân, giữa các ngành, các vùng, phát huy được vai trò nội
lực của nền kinh tế trong khi vẫn xem trọng yếu tố ngoại lực.
Đầu tư có tác động đến việc nâng cao trình độ khoa học công nghệ của đất
nước. Đầu tư là điều kiện tiên quyết của sự phát triển và tăng cường khả năng
công nghệ.
Đầu tư có tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế. Kết quả
nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy: muốn giữ tốc độ tăng trưởng ở mức
trung bình thì tỷ lệ đầu tư phải đạt được từ 15%-20% so với GDP tùy thuộc vào
trình độ phát triển của từng nước. Đối với các nước đang phát triển, đầu tư được
coi là “cú hích ban đầu” tạo đà cho sự cất cánh của nền kinh tế. Còn đối với các
quốc gia phát triển, đầu tư để duy trì sự phát triển ổn định và đúng hướng.
Đầu tư giúp giải quyết việc làm, tăng thêm thu nhập cho người lao động,
làm gia tăng khả năng tiêu dùng cho dân cư, thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng hàng
hóa và dịch vụ của xã hội. Khi tiến hành công cuộc đầu tư, cầu về các yếu tố đầu
vào cho dự án tăng, sản xuất của các ngành có liên quan phát triển, thu hút thêm
sức lao động, người lao động có được thêm việc làm đồng nghĩa với việc tăng
3
thu nhập và tăng tiêu dùng của người lao động, góp phần giảm tệ nạn xã hội, tạo
điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển kinh tế.
tăng trung bình của toàn nền kinh tế thế giới.
Ở các quốc gia phát triển, khi các ngành công nghiệp có xu hướng phát
triển chậm lại thì du lịch vẫn đạt được tốc độ phát triển đáng kể. Một ví dụ điển
hình là Pháp, quốc gia có ngành du lịch phát triển nhất thế giới, mặc dù chịu ảnh
hưởng của việc đồng Euro lên giá làm giá của các tour du lịch đến Pháp trở nên
đắt đỏ, ngành du lịch của quốc gia này vẫn đạt tốc độ tăng trưởng 0,5% trong
năm 2005, đón 75 triệu lượt khách quốc tế, doanh thu đạt 130 tỷ Euro tăng 3,5%
so với năm 2004 và là ngành đóng góp nhiều nhất vào thu nhập quốc dân, chiếm
6,5% GDP, đứng trên cả ngành công nghiệp ôtô.
Còn đối với các quốc gia đang phát triển, thống kê cho thấy, tại 49 nước
kém phát triển nhất trên thế giới, tập trung chủ yếu ở Châu Phi thì du lịch là
ngành mang lại nguồn thu lớn nhất, đặc biệt là nguồn thu ngoại tệ, đây là điều có
ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của các quốc gia này.
2. Du lịch-ngành kinh tế trợ giúp đắc lực cho quá trình giải quyết việc làm:
Không chỉ là ngành mang lại nguồn thu lớn cho đất nước, du lịch còn góp
phần không nhỏ trong việc giải quyết việc làm cho lao động, tăng thu nhập cho
người dân. Tính riêng năm 2005, với tốc độ tăng 5,7% ngành du lịch toàn thế
giới đã tạo thêm 2,5 triệu việc làm mới nâng tổng số nhân viên hoạt động trực
tiếp trong ngành lên đến 76,7 triệu chiếm 2,8% tổng số việc làm trên thế giới.
Nếu tính cả lao động gián tiếp thì tổng số người sống nhờ du lịch và lữ hành là
234,3 triệu người, chiếm 8,7%.
Du lịch được đánh giá là một công cụ hữu hiệu giúp xóa đói giảm nghèo do
việc phát triển du lịch không đơn thuần chỉ phụ thuộc vào điều kiện phát triển
kinh tế mà còn phụ thuộc khá lớn vào các điều kiện về tự nhiên, đặc điểm văn
hóa, xã hội của mỗi quốc gia. Du lịch tạo ra nhiều việc làm, trong đó có cả
những việc làm không đòi hỏi trình độ chuyên môn cao, điều này rất quan trọng
đối với những vùng núi cao, những vùng kém phát triển, là những nơi rất khó
kiếm việc làm. Thậm chí, các vùng kém phát triển về kinh tế và không có những
5
6
các dịch vụ vui chơi giải trí. Như Singapore, một quốc gia nhỏ bé nhưng có rất
nhiều trung tâm mua sắm sang trọng, tầm cỡ được xây dựng theo lối kiến trúc
hiện đại, cùng với các công viên và trung tâm giải trí. Khách du lịch tới đây
chiếm một tỷ lệ cao là từ các quốc gia giàu có với chi tiêu trung bình từ
1500-2000 USD/người. Hay như Paris, nơi nổi tiếng là kinh đô thời trang của
thế giới, mức chi tiêu trung bình của khách du lịch khi tới đây là 5000 USD.
Nhằm mục đích giúp cho các dịch vụ du lịch được hấp dẫn hơn, giúp cho khách
du lịch được “tiêu tiền”, nhiều quốc gia đã không tiếc tiền đầu tư vào các trung
tâm giải trí, điển hình là Hồng Kông, chính phủ của nước này đã chi tới 1,2 tỷ
USD cho việc cải tạo công viên Disneyland, 5,5 tỷ USD cho việc nâng cấp công
viên Đại Dương và 40tỷ USD giành cho việc xây dựng trung tâm văn hóa.
Bên cạnh đó, việc phát triển ngành du lịch, đón tiếp bạn bè quốc tế đến
thăm và đẩy mạnh tuyên truyền, quảng bá hình ảnh đất nước và con người đã
góp phần đưa thế giới lại gần nhau hơn, khai thác được nguồn tài nguyên thiên
nhiên quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng, đồng thời tăng cường sự giao lưu giữa
nhân dân các nước trên thế giới.
Với tốc độ phát triển nhanh chóng, du lịch dần trở thành một ngành kinh tế mũi
nhọn đối với mọi quốc gia trên thế giới.
III. ĐẦU TƯ VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH:
1. Vai trò của đầu tư với sự phát triển ngành du lịch:
Cũng giống như các ngành khác của nền kinh tế, đầu tư nắm giữ một vai
trò quan trọng trong việc thúc đẩy ngành du lịch phát triển.
Theo điều 4- Luật Du lịch Việt Nam định nghĩa: “Sản phẩm du lịch là tập
hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi
du lịch”, và “dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận
chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch
vụ khác nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch”.
này có những điểm khác biệt so với đầu tư vào các ngành khác.
Nhìn chung, không một doanh nghiệp du lịch hay bất kỳ một công ty nào,
kể cả các công ty, các tập đoàn xuyên quốc gia có thể thực hiện được tất cả các
khâu trong việc cung cấp các dịch vụ du lịch. Du lịch không đơn thuần chỉ là
8
việc tổ chức điều hành tour, sắp xếp nơi ăn chốn ở cho khách du lịch mà còn bao
gồm cả những hoạt động thăm quan tới các vùng, các hoạt động mua sắm, vui
chơi giải trí. Đây là một mảng kinh doanh rất rộng bao trùm nhiều ngành nghề
mà một doanh nghiệp đơn lẻ khó có thể bao quát được toàn bộ. Liên doanh, liên
kết giữa các doanh nghiệp, các địa phương, các ngành, các cấp trong việc tiến
hành các công cuộc đầu tư phát triển du lịch là một việc làm cần thiết, vừa tạo ra
tính thống nhất, lại vừa tạo được tính chuyên nghiệp trong quá trình cung cấp
sản phẩm. Bên cạnh việc đầu tư mở rộng kinh doanh của doanh nghiệp du lịch,
để có một ngành du lịch phát triển, Nhà Nước cũng cần phải tích cực tham gia
đầu tư vào lĩnh vực này thông qua việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, phối hợp
đầu tư cùng với doanh nghiệp để tạo nên một tổng thể du lịch phát triển toàn
diện. Ở Malaysia, năm 1965, khi nền kinh tế còn ở giai đoạn chậm phát triển,
chính phủ không đánh giá cao vai trò của ngành du lịch, một nhà thầu xây dựng
tư nhân với số vốn khổng lồ đã quyết định đầu tư phát triển một khu du lịch trên
cao nguyên Cameron. Tuy có số vốn khổng lồ nhưng việc phát triển một khu
cao nguyên còn hoang sơ, cơ sở hạ tầng khó khăn, giao thông đi lại không thuận
tiện, điện nước hoàn toàn không có, nếu chỉ để một mình nhà thầu tổ chức thực
hiện sẽ không có tính khả thi. Thấy được tiềm năng của khu vực này, chính phủ
đã bắt tay với nhà thầu tư nhân cùng nhau tiến hành xây dựng cơ sở vật chất cho
toàn bộ vùng đồi núi Genting thuộc cao nguyên Cameron, các chính sách về
thuế và tiền thuê đất ưu đãi nhất đã được áp dụng, nhà thầu tiến hành xây dựng
khu du lịch, Nhà nước hỗ trợ cải tạo cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, hỗ trợ
thêm kinh phí cho quá trình xây dựng của nhà thầu, thậm chí, chính phủ
điện không đủ để cung cấp cho nhu cầu của cư dân địa phương, hệ thống xử lí
rác thải không được cải tạo thường xuyên đã rơi vào tình trạng yếu kém, dòng
sông bị ô nhiểm bởi nguồn rác thải chưa qua xử lí. Thêm vào đó là mối lo ngại
về việc khách du lịch có thể tiêu thụ một lượng nước lớn có thể làm cạn kiệt các
mạch nước ngầm dẫn đến sụt lở đất và kéo theo việc sụp đổ của các ngôi đền
trong khu di tích Angkor Vat, đây là một vấn đề nghiêm trọng đối với đất nước
Campuchia. Phát triển du lịch đồng bộ sẽ đem lại một hiệu quả du lịch lâu dài
cho các quốc gia.
10
Du lịch là hoạt động mang đậm nét văn hóa của địa phương, do vậy, các
sản phẩm của hoạt động đầu tư trong lĩnh vực này cũng cần phải chú ý tới vấn
đề văn hóa. Đặc thù của hoạt động du lịch là mang tính chất địa phương rất rõ.
Lý do chủ yếu của khách du lịch khi đi thăm quan chính là được khám phá
những vùng đất mới, tìm hiểu những nền văn hóa mới, độc đáo và riêng biệt với
những điều kiện tự nhiên thuận lợi. Nếu như khi đầu tư vào phát triển du lịch ở
địa phương nhưng lại đem mô hình phát triển của địa phương khác, nước khác
để học tập, mô phỏng một cách rập khuôn thì sẽ không thu được hiệu quả cao,
không tận dụng được nguồn tài nguyên tại địa phương, đôi khi đầu tư nhiều lại
mang lại hiệu quả ngược lại. Những năm trước, hai quốc gia Singapore và Hồng
Kông tận dụng lợi thế phát triển về kinh tế của mình để đưa ngành du lịch đi lên
nhanh chóng, trở thành một ngành công nghiệp mũi nhọn trong nền kinh tế. Tuy
nhiên, trong những năm gần đây, tốc độ phát triển của ngành này lại có phần đi
xuống, đặc biệt là khách du lịch từ châu Âu có phần giảm hơn so với các giai
đoạn trước, nguyên nhân chủ yếu của vấn đề này là do khách du lịch đã đánh giá
hai quốc gia này ngày càng có nhiều điểm giống với du lịch ở châu Âu, đã mất
dần đi nét đẹp Á đông vốn có, giảm sức thu hút, do vậy, nhiều khách châu Âu
đã chuyển sang đi các tour du lịch đến các quốc gia khác trong khu vực như
Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan,.... nơi du lịch vẫn mang được nét bản sắc văn
Tổ chức Thương Mại Thế giới WTO, khi các hãng hàng không giá rẻ, các tập
đoàn du lịch lữ hành, các khách sạn lớn đầu tư vào Việt Nam sẽ tạo cho du lịch
Việt Nam hình ảnh mới, là một địa điểm thu hút khách du lịch ở khắp nơi trên
thế giới.
2. Tình hình phát triển ngành du lịch của nước ta:
Từ khi đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới, ngành du lịch Việt Nam bắt
đầu bước sang một giai đoạn đi lên mạnh mẽ. Năm 1986, nền kinh tế mới mở
cửa, cơ sở hạ tầng thấp kém, du lịch trong nước kém phát triển, ngay cả một
thành phố lớn như Hà Nội, toàn thành phố chỉ có duy nhất một khách sạn được
phép đón tiếp khách quốc tế. Trong cả năm 1986, cả nước chỉ đón trên 100
nghìn khách quốc tế, doanh thu từ du lịch chiếm một phần không đáng kể so với
12
thu nhập quốc dân. Đất nước tiến hành mở cửa đã mở ra những cơ hội lớn đối
với sự phát triển của ngành.
Chỉ sau gần 20 năm, ngành du lịch nước ta đã có bước tiến bộ đáng kể. Chỉ
riêng trong giai đoạn 1991-2001, số lượng khách quốc tế đến Việt Nam đã tăng
lên 8 lần, khách nội địa tăng lên 10 lần.
Tình hình phát triển ngành du lịch Việt Nam
0
5
10
15
20
25
30
35
năm
khách quốc tế (triệu lượt)
100
200
300
400
500
600
2001 2002 2003 2004 2005
năm
t
ỷ
đ
ồ
ng
(Nguồn: Tổng cục Thống kê)
Thêm vào đó, các công ty, tập đoàn khách sạn và du lịch nước ngoài cũng
đã liên tiếp đầu tư vào Việt Nam. Chỉ tính riêng trong năm 2005, cả nước có 190
dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài và các khu du lịch và khách sạn với tổng vốn
đăng ký là 4,46 tỷ đôla, góp phần không nhỏ vào việc cải thiện môi trường du
lịch Việt Nam.
Trong nhiều năm qua, ngành du lịch Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu
to lớn. Năm 1988, so với một số nước trong khu vực, ngành du lịch nước ta còn
kém phát triển, lượng khách quốc tế đến Việt Nam chỉ bằng 1/40 so với
Singapore, Thái Lan, nhưng đến năm 2003, con số này là 1/3, đây là một bước
tiến đáng kể với du lịch Việt Nam. Đi đôi với việc tăng lượng du khách trong
nước và quốc tế, cơ sở vật chất phục vụ cho ngành cũng được cải thiện đáng kể.
Cả nước hiện có gần 80 nghìn phòng khách sạn, trong đó hơn một nửa đạt tiêu
chuẩn quốc tế, phương tiện vận chuyển du lịch được hiện đại hóa, các cơ sở, khu
vui chơi giải trí được đầu tư xây dựng mới và nâng cấp, với điều kiện cơ sở vật
chất như vậy, nước ta có thể đón tiếp thêm hàng triệu khách du lịch trong năm
tới. Để hòa chung với xu hướng phát triển du lịch trên toàn thế giới, du lịch
triển một dự án hoàn thiện. Một yếu điểm nữa của du lịch Việt Nam là tuy đã có
một chỗ đứng trên thị trường thế giới, nhưng việc đầu tư quảng bá hình ảnh vẫn
bị xem nhẹ, giai đoạn 2001-2004, chính phủ đã đề ra chương trình quảng bá du
15
lịch Việt Nam với tổng kinh phí 30 tỷ đồng, tương đương với gần 2 triệu đôla,
tức là chưa đầy 0,5 triệu đô/năm, đây là một con số quá ít ỏi so với con số 55
triệu đô của Malaysia. Chính vì những nguyên nhân này đã làm cho sản phẩm
du lịch Việt Nam kém cả về bề rộng và chiều sâu. Xét trên cả tầm quốc gia và
tầm doanh nghiệp, sức cạnh tranh của du lịch Việt Nam còn yếu. Tuy có tốc độ
phát triển nhanh, nhưng khi các nước trong khu vực như Malaysia, Inđônêxia,
lượng khách quốc tế đã vượt qua ngưỡng 10 triệu lượt từ lâu, nhưng với sự nỗ
lực hết mình, đến năm 2005, du lịch Việt Nam mới vượt qua ngưỡng 3 triệu
khách. Hơn thế nữa, tuy không ngừng đầu tư cải tạo cơ sở hạ tầng, nhưng Việt
Nam thiếu đi các trung tâm mua sắm tầm cỡ, các khu vui chơi giải trí, điều này
không những làm cho du lịch Việt Nam thiếu đi tính cạnh tranh mà còn làm cho
chi tiêu của khách cũng kém hơn so với các nước khác, nếu khách du lịch thuộc
diện giàu có đến Việt Nam chỉ chi tiêu ở mức 300-700 đôla thì ở Thái Lan, mức
chi tiêu này dao động trong khoảng 1200-1500 đôla, ở Singapore là 1500-2000
đôla. Khách du lịch quay trở lại Việt Nam chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, dưới 30%,
trong khi có tới 60% khách du lịch đến Malaysia và quay trở lại đây đến lần thứ
2, thứ 3. Đây là những nhược điểm cần phải khắc phục để đưa du lịch Việt Nam
nhanh chóng bắt kịp với du lịch của các nước trong khu vực và trên thế giới.
II. THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ CỦA CÔNG TY HANOI TOSERCO:
1. Doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch:
Kinh doanh du lịch là kinh doanh dịch vụ, bao gồm các ngành nghề sau:
kinh doanh lữ hành, kinh doanh lưu trú du lịch, kinh doanh vận chuyển khách du
lịch, kinh doanh phát triển điểm du lịch và kinh doanh dịch vị du lịch khác.
Tính đến nay, cả nước đã có khoảng 6.000 cơ sở kinh doanh lưu trú; 399
đang là một vấn đề cấp thiết.
Hà Nội Toserco là một trong những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
du lịch được thành lập từ những năm đầu của thời kỳ mở cửa. Ngày 14/4/1988,
Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội đã ra quyết định số 1625/QĐUB thành lập
công ty Du lịch dịch vụ Hà Nội, tên giao dịch quốc tế là Hanoi Toserco, và xác
định: công ty du lịch dịch vụ Hà Nội là đơn vị trực thuộc UBND Thành phố Hà
17
Nội, là đơn vị hạch toán độc lập với chức năng chính là kinh doanh dịch vụ du
lịch. Lĩnh vực hoạt động của công ty là cung cấp các dịch vụ du lịch, dịch vụ lữ
hành trong nước và quốc tế. Sau 18 năm hoạt động, công ty đã trải qua một giai
đoạn phát triển dài để khẳng định vị thế của mình trên thị trường, góp phần thúc
đẩy phát triển nền công nghiệp không khói của thủ đô.
Mục tiêu hoạt động chính của công ty là kinh doanh phục vụ khách du lịch
trong và ngoài nước nhằm mục đích thu lợi nhuận, góp phần thực hiện các
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tạo việc làm và đảm bảo
quyền lợi cho người lao động trong công ty.
Công ty có nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Kinh doanh lữ hành quốc tế và nội địa.
- Kinh doanh khách sạn, nhà hàng.
- Kinh doanh vận chuyển khách du lịch và hàng hóa.
- Hướng dẫn viên du lịch, phiên dịch.
- Dịch vụ thông tin.
- Dịch vụ vui chơi, giải trí,...
- Kinh doanh cho thuê văn phòng, nhà ở cho các đối tượng trong và ngoài
nước.
- Kinh doanh hợp tác lao động với nước ngoài.
- Lập dự án, đầu tư xây dựng và quản lL ý khu du lịch, khách sạn, khu đô
thị, trung tâm thương mại dịch vụ.
tư. Du lịch Việt Nam là một bộ phận của du lịch thế giới, do vậy, xu thế phát
triển của du lịch Việt Nam cũng không thoát khỏi xu thế chung của du lịch thế
giới.
Các chính sách vĩ mô của Nhà nước, các chương trình quốc gia về du lịch,
các dự án xây dựng và bảo tồn khu thiên nhiên, di tích lịch sử, văn hóa. Nhà
nước đóng vai trò định hướng cho các hoạt động đầu tư của doanh nghiệp. Vừa
qua, trước yêu cầu của thực tế và đảm bảo cho ngành du lịch được phát triển
đúng hướng và bền vững, Nhà nước đã ban hành luật du lịch để điều chỉnh quá
trình hoạt động của ngành. Sự ra đời của đạo luật này đóng vai trò quan trọng
trong việc quản lý hoạt động kinh doanh du lịch hiện còn tồn tại nhiều bất cập.
19
Vai trò định hướng của Nhà nước còn thể hiện ở chỗ khi có các chương trình
phát triển du lịch của Nhà nước tại địa phương, các chương trình quốc gia về
xây dựng khu bảo tồn, khu di tích, hay xây dựng các khu vui chơi giải trí, điều
này đồng nghĩa với việc tiềm năng du lịch của địa phương được cải thiện đáng
kể, khi đó, địa phương sẽ thu hút được vốn đầu tư của các doanh nghiệp du lịch
đến khai thác.
Môi trường du lịch của địa phương như các điều kiện tự nhiên, địa lý, sự đa
dạng về văn hóa, dân tộc, các chính sách thu hút vốn đầu tư về du lịch của địa
phương cũng ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả và hiệu quả đầu tư của doanh
nghiệp. Sự đầu tư của doanh nghiệp chỉ đạt được hiệu quả cao nhất khi có sự
thống nhất trong quy hoạch, xây dựng của địa phương.
2.2. Các nhân tố chủ quan:
Cũng giống như các doanh nghiệp khác, kết quả hoạt động kinh doanh và
tiềm năng phát triển của công ty là nhân tố có tác động chủ yếu đến hoạt động
đầu tư. Doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, doanh thu không ngừng tăng lên,
điều này sẽ giúp cho doanh nghiệp có thêm nguồn vốn đầu tư phát triển, đồng
thời cũng chứng minh được rằng những hoạt động của doanh nghiệp đang đi
Chí Minh, công ty Hương Xuân ở Đà Lạt, hệ thống nhà nghỉ khách sạn Vĩnh
Hưng ở Hội An, công ty du lịch dịch vụ Thừa Thiên Huế. Lợi nhuận từ hoạt
động này đa phần từ xe buýt đi Huế, khách đi xe đạt 65-70% mỗi chuyến. Để
thu hút thêm khách du lịch tại nhiều địa điểm trong cả nước để cho khách hàng
có thể biết đến và tiếp cận với loại hình dịch vụ này, công ty đã mở thêm các chi
nhánh tại 18 Lương Văn Can-Hà Nội, số 1 Nguyễn Thái Học-Đà Lạt, số 9
Nguyễn Thiện Thuật-Nha Trang, 143 Trần Phú-Hội An, số 2 Hùng Vương-Huế,
thêm vào đó, công ty cũng đã tiến hành quảng cáo rộng rãi trên mạng internet,
thiết lập Website riêng của công ty để khách hàng có thể tiếp cận được với
những loại hình dịch vụ du lịch do công ty cung cấp.
Thứ hai, khách du lịch nội địa. Đây là một nguồn tiềm năng lớn vì khi đời
sống của người dân được cải thiện, nhu cầu du lịch sẽ tăng cao. Tuy nhiên, trên
thị trường này, công ty không có sự đầu tư thích đáng trong công tác quảng bá,
21
lại gặp phải sự cạnh tranh gay gắt từ phía các công ty du lịch trong nước, người
dân vẫn có thói quen tự tổ chức các tour du lịch trong nước cho mình nên không
đạt được nhiều sự thành công, theo thống kê, công ty chỉ thu hút được 9072
khách du lịch trong tổng số trên 16.1triệu lượt khách tham quan trong phạm vi
cả nước, đây là một điều đáng tiếc cho công ty.
Thứ ba, khách du lịch ra nước ngoài. Đây là một dịch vụ mang lại nguồn
doanh thu chính cho công ty. Từ chỗ chỉ thực hiện đưa khách ra nước ngoài
trong thời gian ngắn như trước đây (từ 2-7 ngày trong giai đoạn 1999-2000),
hiện nay công ty đã mở thêm các loại hình dịch vụ mới như dịch vụ phục vụ cho
đi công tác nước ngoài, có thể kết hợp thêm việc đi thăm quan du lịch, dịch vụ
tư vấn và tổ chức du học cho học sinh sinh viên Việt Nam, bước đầu đã tạo được
uy tín trên thị trường.
Thứ tư, khách du lịch trong nội đô. Từ tháng 3 năm 1998, công ty chính
thức đưa ra loại hình dịch vụ mới là chương trình du lịch tham quan các địa
15027 17215 18731 20249 24022 25472
Khách du lịch trong
nước
3012 3957 5687 6334 8752 9072
Người Việt Nam ra
nước ngoài
2954 3802 4112 6719 6833 9852
2000 2001 2002 2003 2004 2005
và khả năng chuyên môn cao, cơ sở vật chất đầy đủ. Trong những năm tới, đây
là loại hình dịch vụ sẽ được công ty đầu tư phát triển mạnh.
Kết quả kinh hoạt động kinh doanh lữ hành của công ty trong giai đoạn
2000-2005 được phản ánh qua số lượng khách như sau (đơn vị tính: khách):
Trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng của khách vào du lịch sử dụng
dịch vụ du lịch của công ty khá đều đặn, riêng tốc độ tăng trưởng của việc tổ
chức các tour du lịch cho người Việt Nam ra nước ngoài có sự tăng lên đột biến
do sở thích đi du lịch nước ngoài dần trở thành một cái mốt đối với nhiều người
Việt Nam, mang lại nhiều lợi nhuận công ty.
4. Thực trạng hoạt động đầu tư của Hà Nội Toserco trong giai đoạn
2000-2005:
4.1. Vốn và nguồn vốn đầu tư:
Trước đây, giống như các công ty Nhà nước khác, công ty du lịch dịch vụ
Hà Nội có nguồn vốn dựa chủ yếu vào nguồn vốn ngân sách, điều này không tạo
23
được động lực phát triển cho toàn công ty, tạo ra sự ỉ lại, khiến cho sự phát triển
chung của toàn công ty không đạt được tốc độ như mong muốn.
Bước sang giai đoạn phát triển mới, đặc biệt là từ khi chính thức chuyển
đổi sang hình thức công ty Trách nhiệm hữu hạn Nhà nước một thành viên,
Vốn vay ngân
hàng
65%
Vốn tự có
30%
Vốn khác
5%
Nguồn vốn tự có của doanh nghiệp chỉ chiếm khoảng 30% tổng nhu cầu
vốn đầu tư, được trích từ quỹ đầu tư phát triển và nguồn vốn từ quỹ khấu hao
của công ty. Có thể thấy, nguồn vốn giành cho đầu tư phát triển của công ty chủ
yếu dựa vào nguồn vốn vay tín dụng từ các ngân hàng thương mại, tuy nhiên, do
không được đánh giá là ngành công nghiệp ưu tiên phát triển nên nguồn vốn vay
ngân hàng của công ty không được hưởng các khoản ưu đãi về vay vốn, chính vì
thế, chi phí vay vốn cho hoạt động đầu tư là rất cao, ảnh hưởng lớn đến khả
năng đầu tư của công ty, hơn nữa quá trình thực hiện và vận hành đầu tư lại
chứa đựng rủi ro cao.
4.2. Nội dung hoạt động đầu tư của Hanoi Toserco giai đoạn 2000-2005:
a)Đầu tư vào cơ sở vật chất (không kể các dự án liên doanh):
Trong giai đoạn 2000-2005, công ty đã tiến hành đầu tư cho việc cải tạo và
nâng cấp cơ sở hạ tầng:
25