Cải cách bộ máy hành chính Nhà nước trong giai đoạn hiện nay - Pdf 97


Khoá luận tốt nghiệp
Mở đầu
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đã mở ra một thời kỳ đổi
mới ở nước ta.Đảng chủ trương nhìn thẳng vào sự thật, phát hiện ra sai lầm
của Đảng, của nhà nước, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy tư duy
độc lập sáng tạo của các tầng líp nhân dân lao động. Trên cơ sở đó để có
những nhận thức đúng đắn về chủ nghĩa xã hội và vạch ra những chủ trương
chính sách mới, xây dựng một xã hội dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng
văn minh. Để thực hiện được công cuộc đổi mới, tình hình thực tiễn đòi hỏi
phải có một bản hiến pháp mới, phù hợp hơn thay thế hiến pháp năm 1980 để
thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội.
Ngày 15/11/1992, Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam được Quốc hội khoá VIII thông qua. Đây cũng là bản hiến pháp xây
dựng Chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ đổi mới toàn diện và sâu sắc về kinh tế,
từng bước và vững chắc về chính trị. Hiến pháp năm 1992 đã đổi mới các chế
định về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quỗc phòng Trong đó có
các quy định cải cách tổ chức hoạt động bộ máy hành chính Nhà nước.
Bộ máy hành chính Nhà nước của nước ta sau nhiều năm hoạt động
trong cơ chế kế hoạch tập trung bao cấp đã bộc lé một số hạn chế chưa đáp
ứng được yêu cầu đổi mới, đó là bộ máy hành chính Nhà nước cồng kềnh,
nhiều tầng nấc trung gian, nhiều đầu mối rườm rà, vừa tập trung quan liêu vừa
phân tán tản mạn không quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ. Cơ cấu tổ
chức bộ máy hành chính chưa hợp lý, còn chồng chéo, chưa phân định rõ
chức năng và quyền hạn dẫn đến hiệu lực và hiệu quả quản lý hành chính Nhà
nước thấp. Hiến pháp năm 1992 đã có những quy định để cải cách bộ máy
hành chính nhà nước, phù hợp với sự chuyển dịch nền kinh tế sang cơ chế thị
trường và quá trình phát triển của đất nước theo hướng kiện toàn bộ máy hành
chính Nhà nước vững mạnh, trong sạch, có hiệu lực và hiệu quả. Hoàn thiện
1


Cơ quan hành chính Nhà nước là một loại cơ quan Nhà nước, một bộ
phận cấu thành bộ máy Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, do
vậy cơ quan hành chính Nhà nước mang đầy đủ các dấu hiệu chung của các
cơ quan Nhà nước . Các dấu hiệu chung đó thể hiện ở những điểm sau :
-Nhân danh Nhà nước khi tham gia vào các quan hệ pháp luật
-Được sử dụng quyền lực Nhà nước, có quyền ban hành các văn bản
pháp luật (văn bản quy phạm, văn bản áp dụng ) có hiệu lực bắt buộc thi
3

Khoá luận tốt nghiệp
hành đối với các đối tượng có liên quan. Cơ quan hành chính Nhà nước có thể
áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính khi cần thiết.
Ngoài các dấu hiệu chung của cơ quan Nhà nước, cơ quan hành chính
Nhà nước còn có những dấu hiệu như sau :
-Có chức năng quản lý hành chính Nhà nước, thực hiện hoạt động chấp
hành điều hành trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Từ lĩnh vực quản lý hành
chính chính trị đến lĩnh vực quản lý kinh tế, văn hoá, xã hội
-Mỗi cơ quan hành chính Nhà nước có một thẩm quyền nhất định.
Thẩm quyền Êy không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của cơ quan hành
chính Nhà nước và chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động chấp hành, điều
hành.
-Chỉ các cơ quan hành chính Nhà nước mới có hệ thống các đơn vị cơ
sở trực thuộc. Các cơ sở trực thuộc này được thành lập và hoạt động ở các
lĩnh vực khác nhau (quân đội, công an, nhà máy, công ty, bệnh viện, trường
học ).
Cơ quan hành chính Nhà nước thực hiện chức năng quản lý Nhà nước
theo 2 hướng cơ bản : Ban hành các văn bản pháp quy, văn bản quản lý, văn
bản cá biệt trên cơ sở hiến pháp, luật, pháp lệnh và các văn bản của cơ quan
hành chính Nhà nước cấp trên nhằm chấp hành, thực hiện các văn bản đó,
mặt khác trực tiếp chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ

ổn định, tồn tại lâu dài. Do vậy, việc thành lập hay bãi bỏ các cơ quan đó
được quy định trong Hiến pháp .
-Cơ quan hành chính Nhà nước có thẩm quyền chuyên môn kể cả ở
trung ương và địa phương như tổng cục, sở, phòng, ban có vai trò Ýt quan
5

Khoá luận tốt nghiệp
trọng trong bộ máy hành chính. Việc thành lập hay bãi bỏ các cơ quan này do
luật và văn bản dưới luật quy định.
b. Căn cứ theo phạm vi lãnh thổ hoạt động: Theo căn cứ này cơ
quan hành chính Nhà nước được phân chia thành hai loại là :
-Cơ quan hành chính Nhà nước ở Trung ương, bao gồm Chính phủ, các
Bộ, các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ . Các văn bản do
Chính phủ ban hành có hiệu lực trên phạm vi toàn quỗc. Các văn bản của Bộ,
cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có hiệu lực trong ngành hoặc
lĩnh vực quản lý của nó ở phạm vi cả nước.
-Các cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương bao gồm : Uỷ ban
nhân dân các cấp (Tỉnh, huyện, xã và tương đương), các sở, phòng, ban
Đây là những cơ quan hành chính Nhà nước được thành lập và hoạt động
trong phạm vi lãnh thổ nhất định. Các văn bản do các cơ quan này ban hành
có hiệu lực pháp lý trong phạm vi lãnh thổ hoạt động của cơ quan đó, đối với
các cơ quan, tổ chức và công dân địa phương đó.
c. Căn cứ theo phạm vi thẩm quyền: Theo căn cứ này cơ quan hành
chính Nhà nước được chia thành hai loại là:
-Các cơ quan hành chính Nhà nước có thẩm quyền chung bao gồm :
Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp. Các cơ quan này theo quy định của
hiến pháp có thẩm quyền giải quyết mọi vấn đề trong các lĩnh vực khác nhau
của đời sống xã hội.
-Cơ quan hành chính Nhà nước có thẩm quyền chuyên môn ở Trung
ương có các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; ở địa phương

chính trị của Nhà nước và quản lý nhân sự của bộ máy đó, ngoài ra nó còn có
chức năng tham gia vào quá trình lập pháp.
Chính phủ do Quốc hội bầu ra trong kỳ họp thứ nhất của mỗi khoá
Quốc hội. Trong kỳ họp này, Quốc hội bầu Thủ tướng Chính phủ theo đề nghị
7

Khoá luận tốt nghiệp
của Chủ tịch nước và giao cho Thủ tướng Chính phủ đề nghị danh sách các
Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ để Quốc hội phê chuẩn. Quy
định pháp lý này ivừa xác định vai trò và trách nhiệm tập thể của Chính phủ
trước Quốc hội ; vừa xác định vai trò cá nhân của Thủ tướng là người lãnh
đạo toàn bộ công việc của Chính phủ và chịu trách nhiệm trước Quốc hội,
đồng thời cũng chính là xác định vai trò chách nhiệm của Bộ trưởng trong tập
thể của Chính phủ và trách nhiệm của cá nhân Bộ trưởng về lĩnh vực mình
phô trách.
Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước
Quốc hội , Uỷ ban thường vụ Quốc hội , Chủ tịch nước:
-Chính phủ và các Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ chịu
sự giám sát của Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội trực tiếp hoặc gián
tiếp thông qua các Uỷ ban của Quốc hội. Chất vấn các đại biểu Quốc hội đối
với Chính phủ là một hình thức giám sát của Quốc hội đối với Chính phủ;
Chính phủ và các thành viên phải trả lời trong các kỳ họp của Quốc hội những
chất vấn của đại biểu Quốc hội.
-Là cơ quan chấp hành của Quốc hội,cơ quan hành pháp cao nhấp của
đất nước; Chính phủ trực tiếp tổ chức thực hiện mọi chức năng nhiệm vụ quản
lý của nhà nước và điều hoà công tác quản lý trong các lĩnh vực chính trị,
kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng, đối ngoại.
-Chính phủ lãnh đạo hoạt đọng của các Bộ,của chính quyền địa
phương, sự lãnh đạo đó thể hiện trên hai mặt:
Một là Chính phủ với tư cách cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực

Uỷ ban nhân dân các cấp (Điều 114 Hiến pháp năn 1992)
c. Bộ, các cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ:
Theo hiến pháp năm 1992 luật tổ chức Chính phủ
+ Bé, cơ quan ngang Bộ (gọi tắt là Bộ) là cơ quản lý có thẩm quyền
chuyên môn ở Trung ương. Bộ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối
9

Khoá luận tốt nghiệp
với ngành (kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng ) hay lĩnh vực (Tài
chính , kế hoạch, lao động, khoa học kỹ thuật ) trong phạm vi toàn quốc .
+ Các Bộ, cơ quan ngang Bộ là cơ quan chuyên môn được tổ chức theo
chế độ Thủ trưởng mét người, đứng đầu là Bộ trương hay Chủ nhiệm Uỷ ban
.
+ Các cơ quan thuộc Chính phủ: ví dụ: Tổng cục du lịch, Tổng cục
thống kê, Tổng cục hải quan,Tổng cục địa chính là những cơ quan gần
ngang Bộ. Thủ trưởng các cơ quan này không phải là thành viên của Chính
phủ. Trong các phiên họp của Chính phủ, họ có quyền tham dự nhưng
không có quyền biểu quyết, trừ truờng hợp các vấn đề liên quan trực tiếp đến
công việc thuộc thẩm quyền của các cơ quan này.
Các cơ quan như: Bộ, cơ quan ngang Bộ hoặc Uỷ ban Nhà nước
được phân chia thành hai loại:
Loại thứ nhất:Bộ quản lý ngành là cơ quan chuyên môn có trách
nhiệm, quyền quản lý những ngành kinh tế - kỹ thuật hoặc ngành sự nghiệp
có tính chất gần gũi nhau, có thể hợp với nhau thành một nhóm ngành hay
nhóm liên ngành.
Các Bộ thuộc loại này lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện các cơ quan, đơn
vị trực thuộc về mặt quản lý Nhà nước, nhưng không can thiệp mà chỉ
hướng dẫn hoạt động sản xuất - kinh doanh của các đơn vị kinh tế, cơ sở sự
nghiệp trên cơ sở pháp luật và theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Loại thứ hai :Bé, cơ quan ngang Bộ có chức năng quản lý chuyên

phương). Các cơ quan này không có quan hệ chỉ đạo trên dưới mà chỉ có
quan hệ chuyên môn, nghiệp vụ.
Hoạt động của các cơ quan chuyên môn tổng hợp nhằm mục đích tạo
mọi điều kiện thuận lợi cho các ngành kinh tế - Kỹ thuật, văn hoá xã hội
hoạt động có hiệu quả cao.
11

Khoá luận tốt nghiệp
Các cơ quan có chức năng quản lý chuyên ngành hoạt động năng
động hơn các cơ quan quản lý tổng hợp.
* Trong quan hệ giữa các Bộ với nhau. Các Bộ có các quyền sau:
- Các Bộ có trách nhiệm tôn trọng quyền quản lý của nhau;
- Phối hợp với nhau thực hiện những nhiệm vụ Nhà nước, tạo điều
kiện để hoàn thành nhiệm vụ Êy;
- Ban hành văn bản liên tịch trong khuôn khổ quy định của pháp luật;
- Có quyền đề nghị với các Bộ khác đình chỉ, sửa đổi hay bài bỏ
những quyết định trái với nội dung quản lý thống nhất các ngành hoặc lĩnh
vực do mình phụ tách.
* Nếu yêu cầu đó không được giải quyết thì đề nghị Chính phủ, Thủ
tướng Chính phủ xem xét giải quyết.
Đối với các cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương trong pham
vi quyền hạn, nhiệm vụ, chức năng được giao, Bộ có quyền chỉ đạo, hướng
dẫn, kiểm tra các cơ quan đó thực hiện nội dung quản lý theo ngành hay
lĩnh vực, có quyền yêu cầu đình chỉ, sửa đổi hay bãi bỏ những quyết định
trái với nội dung quản lý thống nhất của ngành hay lĩnh vực đó. Bộ phải
tôn trọng quyền quản lý theo lãnh thổ của chính quyền địa phương.
Các cơ quan này được chia làm 3 khối:
- Khối quản lý các ngành quốc phòng, nội vụ, an ninh, đối ngoại là
những cơ quan có tính ổn định cao;
- Khối quản lý các ngành sự nghiệp, văn hoá xã hội, tuy cũng có biến

Phòng, Ban) vừa phụ thuộc cơ quan hành chính Nhà nước có thẩm quyền
13

Khoá luận tốt nghiệp
chuyên môn cấp trên, vừa phụ thuộc cơ quan hành chính người có thẩm
quyền chung cùng cấp (Uỷ ban nhân dân).
Sự phụ thuộc của các cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương
thể hiện qua việc phải báo cáo công tác, phải chịu sự điều hành, chỉ đạo,
kiểm tra, giám sát, phải thực hiện các văn bản pháp luật của cơ quan mà nó
phụ thuộc.
- Các cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương gồm:
a. Uỷ ban nhân dân.
- Theo Điều 123 Hiến pháp 1992 quy định: “Uỷ ban nhân dân do
Hội đồng nhân dân bầu là cơ quan cháp hành của Hội đồng nhân dân, cơ
quan hành chính Nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành
Hiến pháp, Luật, các văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên và nghị
quyết của Hội đồng nhân dân”.
+ Uỷ ban nhân dân là cơ quan hành chính Nhà nước có thẩm quyền
chung, thông qua hoạt động chấp hành - điều hành của mình Uỷ ban nhân
dân thực hiện chức năng quản lý Nhà nước trên mọi lĩnh vực kinh tế, văn
hoá, xã hội và chính trị trong phạm vi lãnh thổ nhất định.
- Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu ra, có nhiệm kỳtheo
nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân là cơ quan chấp hành
của hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương. tính
chất chấp hành của Uỷ ban nhân dân thể hiện ở chỗ nó chịu trách nhiệm
chấp hành các nghị quyết của Hội đồng nhân dân và các văn bản của cơ
quan cấp trên, tổ chức và chỉ đạo thực hiện các nghị quyết và các văn bản
này. Đồng thời Uỷ ban nhân dân còn là cơ quan ở địa phương chịu trách
nhiệm tổ chức quỉan lý hành chính Nhà nước ở địa phương, đảm bảo Bộ
máy hành chính đó hoạt động thông suốt.

15

Khoá luận tốt nghiệp
Thứ tư, hoạt động quản lý của Uỷ ban nhân dân chỉ giới hảntong
phạm vi một địa phương nhất định. Nừu Chính phủ, các cơ quan
thuợcChính phủ quản lý trong phạm vi cả nước thì Uỷ ban nhân dân địa
phương nào chỉ quản lý đối với địa phương đó, không có quyền quản lý đối
với địa phương khác.
b. Các cơ quan có thẩm quyền chuyên môn ở địa phương.
Các cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương có thẩm quyền
chuyên môn là Sở, Ban, ngành thuộc tỉnh … Được tổ chức và hoạt động
theo nguyên tắc phụ thuộc hai chiều, hoạt động theo chế độ thủ trưởng một
người. Đứng đầu các cơ quan chuyên môn là Giám đốc Sở, Trưởng phòng,
Ban …
Các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân là bộ máy giúp viêc
của Uỷ ban nhân dân quản lý Nhà nước trong lãnh thổ của mình. Vì vậy,
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân có quyền quyết định bổ nhiệm hay cách chức
người đứng đầu cơ quan quản lý chuyên môn . Để thực hiện chức năng,
nhiệm vụ của mình, cơ quan chuyên môn có quyền ra quyết định quản lý
có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các đối tượng có liên quan.
Tóm lại: cơ quan hành chính Nhà nước có thẩm quyền chuyên
môn ở địa phương không phải là một cấp quản lý trung gian, không phải là
cơ quan sản xuất kinh doanh mà thực chất các cơ quan này là cơ quan giúp
việc Uỷ ban nhân dân, thực hiện quản lý hành chính, kinh tế ở địa phương.
phần II. nền hành chính Việt Nam trong những năm qua.
1. Khái niệm.
Từ sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945 đến nay, chóng ta đã xây dựng
nên Nhà nước kiểu mới và cũng đã xây dựng nên một hệ thống hành chính
Nhà nước kiểu mới. Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, có nhiều thay đổi và
16

Khoá luận tốt nghiệp
Như vậy, vấn đề cải cách Bộ máy hành chính Nhà nước đã trở thành
một vấn đề lâu dài, khó khăn và phức tạp, nhiều công việc phải làm và phải
tiến hành từng bước, không thể làm ngay trong thời gian ngắn hay trong
một thời kỳ nhất định. Tất nhiên công cuộc này không là trách nhiệm riêng
của các tổ chức Đảng hay của riêng Bộ máy hành chính Nhà nước các cấp
mà là sự nghiệp chung của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Với ý
nghĩa đó, để đóng góp phần nào vào công cuộc chung của đất nước do
Đảng và Nhà nước ta đặt ra, tôi không có tham vọng nhiều mà chỉ muốn
trình bày một số vấn đề về cải cách Bộ máy hành chính Nhà nước trong
giai đoạn hiện nay và giới hạn trong một số lĩnh vực nhất định.
2. Nền hành chính nước ta hiện nay:
Nhìn chung, trong thời gian qua, tổ chức hành chính Việt Nam đã
góp một phần lớn công sức trong việc tạo nên những bước phát triển cho
xã hội. Với một đất nước hơn 20 năm bị chia cắt, phải dồn hết sức người,
sức của để giành thắng lợi, sau ngày thống nhất, tổ chức hành chính Việt
Nam vẫn cố gắng đảm đương nhiệm vụ quản lý hành chính trên phạm vi cả
nước. Trong hoàn cảnh đó, Bộ máy hành chính vẫn giữ đúng quan điểm,
đường lối của Đảng, mang tính giai cấp của dân, do dân và vì dân. Mặt
khác trong bối cảnh kinh tế ngày càng phát triển, giao lưu ngày càng nhiều
với nước ngoài, đòi hỏi Bộ máy hành chính phải đảm nhận nhiều vai trò
phức tạp, cố gắng trong việc cải tiến lề lối, thủ tục và đã đạt được một số
kết quả nhất định trong việc quản lý Nhà nước.
Thực hiện đường lối đổi mới mà nghị quyết Đại hội Đảng lần VII đề
ra, đất nước ta đã vượt qua mét giai đoạn thử thách gay go. Dưới sự lãnh
đạo của Đảng và Nhà nước, chúng ta đã đạt được những thành tựu lớn lao.
Đúng như đánh giá trong Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương
Đảng khoá VII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 8 của Đảng cộng sản
18


thống tổ chức về pháp luật hành chính chưa đảm bảo đầy đủ quyền làm chủ
của người dân, chưa bảo vệ được quyền lợi của người dân khi bị viên chức
và cơ quan Nhà nước xâm phạm.
Bộ máy hành chính quản lý Nhà nước và nền hành chính không xác
định rõ và phân biệt sự kết hợp biện chứng giữa quản lý hành chính và
quản lý kinh doanh. Có khuynh hướng muốn nhanh chóng xây dựng chủ
nghĩa xã hội nên chỉ dùa chủ yếu vào hình thức sở hữu toàn dân, thành lập
các đơn vị kinh doanh bên cạnh các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, đưa
đến việc không quản lý được các hoạt động sản xuất kinh doanh của các
đơn vị đó và khi có va vấp thì khó xử lý.
Cơ cấu tổ chức Bộ máy hành chính bộc lé nhiều nhược điểm, xét về
mặt phân bố các chức năng giữa các cơ quan thuộc bộ máy Nhà nước và
Bộ máy hành chính ở Trung ương và các cấp địa phương.
Bộ máy hành chính dù đã được giảm bớt nhưng ở nhiều mặt vẫn còn
công kềnh, nhiều cấp trung gian nhiều đầu mối rườm rà, thủ tục áp dụng
hay thay đổi, lắm khi phủ nhận hoàn toàn những quy định trước đó, chức
năng, nhiệm vụ của mỗi bộ phận chưa được phân định hợp lý vừa tập trung
quan liêu vừa phân tán tản mạn, không thể hiện đúng nguyên tắc tập trung
dân chủ. Kỷ cương phép nước không được tôn trọng giữa các cấp hành
chính, nhiều văn bản, chỉ thị cấp trên không được cấp dưới triệt để thi hành
hoặc được áp dụng theo cách hiểu của địa phương.
Đội ngò công chức Nhà nước đông, nhưng có tới 60 - 70% chưa đạt
đủ tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ. Thiếu một quy chế công chức Nhà
nước hoàn chỉnh chưa có tính pháp lý và khoa học. Do đó việc bổ nhiệm,
phân công công tác nhiều khi không dùa vào khả năng trình độ thực sự.
Tinh thần trách nhiệm trong công việc, hiệu suất công tác nói chung
còn thấp. Tại nhiều cơ quan quản lý cấp Trung ương, cán bộ lãnh đạo
20

Khoá luận tốt nghiệp

Trong tổng số biên chế hành chính sự nghệp, Đảng, đoàn thể năm
1999 là 1,4 triệu người, thì biên chế sự nghiệp tới 80%. Theo đà phát triển
của xã hội thì khu vực sự nghiệp sẽ ngày càng mở rộng. Do đó việc thực
hiện xã hội hoá từng bức khu vực sự nghiệp cũng là vấn đề rất nhạy cảm,
có quan hệ trực tiếp đến đông đảo nhân dân và cán bộ, công chức, phải
được chuẩn bị chu đáo và có sự chỉ đạo chặt chẽ.
Quy chế hoạt động của hệ thống hành chính một mặt không được ổn
định chặt chẽ, mặt khác lại xa vào một hệ thống thủ tục rườm rà, phức tạp
và phân tán.
Các quy định để giải quyết sự việc không được cấp trên Ên định cụ
thể mà nhiều khi lại giao cho cấp trực tiếp giải quyết quy định nên đã tạo
điều kiện cho cấp trực tiếp cửa quyền sách nhiễu người dân vi phạm quyền
và quyền lợi của người dân trong mối quan hệ thường ngày. Nhiều công
việc lẽ ra cơ quan Nhà nước phải quốc gia nhưng lại đùn đẩy, buộc người
dân phải đi thay nhiệm vụ của họ. Tính quan liêu, cửa quyền dễ đưa đến
tham nhòng, hối lé, và nhiều nơi đã ở mức trầm trọng.
Nhiệm vụ và kỷ luật hành chính còn thủ công, lạc hậu hầu như hàng
chục năm chưa thay đổi, Ýt sử dụng những kỹ thuật, máy móc tiên tiến
trong nghiệp vụ hành chính, hệ thống thông tin cũ kỹ, chậm trễ.
Những mặt yếu kém nêu trên đã làm cho bộ máy Nhà nước chưa thật
sự đủ quyền lực, năng lực và quản lý hiệu quả trong giai đoạn công nghiệp
hoá, hiện đại hoá hiện nay mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra.
* Từ những phân tích tồn tại trên cho thấy những nguyên nhân chủ
yếu của sự yếu kém trên là do những nguyên nhân sau:
- Đất nước trải qua một cuộc chiến tranh kéo dài, trong đó mọi khả
năng về sức người, sức của đều phải giành cho chiến trường . Trong hoàn
22

Khoá luận tốt nghiệp
cảnh đó, không thể kiện toàn hai mặt: “Vừa dánh giặc, vừa xây dựng đất

bản chất Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa, càng không phải thoát ly
những nguyên tắc của Đảng và Nhà nước mà làm cho bộ máy Nhà nước
thể hiện bản chất là Nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả quản lý của các cơ quan hành
chính Nhà nước cần phải thực hiện những biện pháp sau đây:
+ Chấn chỉnh cơ cấu tổ chức, biện chế, quy chế hoạt động của bộ
hành chính các cấp;
+ Cải tiến, sắp xếp, bố trí lại để bộ máy quản lý gọn nhẹ, hoạt động
có hiệu quả, bảo đảm sự điều hành tập trung, thống nhất, thông suốt, có
hiệu lực từ Chính phủ đến chính quyền địa phương, cơ sở, để thực hiện có
kết quả các chủ trương, chính sách và pháp luật của Nhà nước;
+ Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của
các cấp tỉnh, huyện, xã để sắp xếp lại tổ chức của mỗi cấp. Kiện toàn bộ
máy chính quyền cấp huyện và xã, phường đủ sức quản lý, giải quyết kịp
thời, đúng thẩm quyền những vấn đề cuộc sống đặt ra và nhân dân đòi hỏi;
+ Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ một cách triệt để trong tổ
chức và hoạt động của Bộ máy hành chính, đồng thời đề cao quyền chủ
động và trách nhiệm của mỗi địa phương và bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất
của Trung ương.
Phần III. Cải cách Bộ máy hành chính Nhà nước trong giai đoạn
hiện nay.
24

Khoá luận tốt nghiệp
Nền hành chính mà chúng ta đang tiến hành xây dựng và cải cách là
nền hành chính Quốc gia có các thuộc tính cơ bản sau đây:
- Nền hành chính của một Nhà nước dân chủ xã hội chủ nghĩa, là
một Nhà nước: của dân, do dân và vì dân nằm trong một hệ thống chính trị,
dùa trên nguyên tắc cơ bản là tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân
dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status