Thực trạng công tác kế toán thuế GTGT tại công ty cổ phần vận tải Dương Sơn - Pdf 98

MỤC LỤC
Phần I: Tổng quan về thuế và thuế giá trị gia tăng
1.1 Tổng quan về thuế:
1.1.1Thuế và vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường.
1.1.1.1.Nguồn gốc ra đời của thuế
1.1.1.2.Khái niệm thuế
1.1.1.3.Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường
1.1.2. Các yếu tố cấu thành một sắc thuế
1.2. Tổng quan về thuế giá trị gia tăng
1.2.1. Khái niêm,vai trò của thuế giá trị gia tăng
1.2.1.1. Khái niệm
1.2.1.2. Đặc điểm
1.2.1.3. Vai trò của thuế giá trị gia tăng
2.2. Nội dung cơ bản của thuế giá trị gia tăng
2.2.1. Đối tượng chịu thuế,đối tượng không chịu thuế,đối tượng nộp thuế giá trị
gia tăng
2.2.2. Căn cứ tính thuế
2.2.3. Phương pháp tính thuế
2.2.4. Đăng ký,kê khai,nộp thuế và quyết toán thuế
2.2.5. Chế độ hoàn thuế
Phần II: Thực trạng công tác kế toán thuế giá trị gia tăng tại công ty cổ phần vận
tải Sơn Dương
2.1. Đặc điểm chung về công ty cổ phần vận tải Sơn Dương
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
2.1.2. Tổ chức bộ máy quản lý
2.1.3. Tổ chức công tác kế toán
2.2. Thực trạng công tác kế toán thuế GTGT tại công ty cổ phần vận tải Sơn
Dương
1
2.2.1. Đối tượng chịu thuế GTGT và thuế suất thuế GTGT
2.2.2. Phương pháp tính thuế GTGT

Em xin trân thành cảm ơn sự giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của cô giáo
Nguyễn Thị Anh Hoa và cán bộ công ty cổ phần vận tải Sơn Dương nói
chung,cũng như các cô trong phòng kế toán nói riêng đã giúp em hoàn thành đề
án này.
3
PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ THUẾ VÀ THUẾ GTGT
1.1.Tổng quan về thuế
1.1.1. Thuế và vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường
1.1.1.1. Nguồn gốc ra đời của thuế:
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng thuế ra đời
là một tất yếu khách quan,gắn liền với sự ra đời,tồn tại và phát triển của nhà
nước.
Thuế luôn gắn liền với sự hình thành và tồn tại của hệ thống Nhà
nước,đồng thời thuế cũng phát triển cùng với sự phát triển của hệ thống Nhà
nước.
Trong nền kinh tế thị trường,tùy theo mức độ thị trường hóa các quan hệ
kinh tế đặc thù của mỗi quốc gia,mà các chính phủ vận dụng các lý thuyết vào
hệ thống chính sách thuế của mình một cách thích hợp. Việc suy tôn học thuyết
này hay học thuyết khác chỉ mang tính lịch sử,không mang tính đối kháng và
điều quan trong nhất cho các nhà hoạch định chính sách thuế các quốc gia là tìm
ra những ứng dụng hiệu quả nhất,để thực hiện tốt các chức năng và nhiệm vụ
của thuế trong cơ chế thị trường mà không quá chú trọng quá vào trường phái lý
thuyết nhất định.
1.1.1.2. Khái niệm thuế:
Thuế là một khoản nộp bằng tiền mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa
vụ bắt buộc phải thực hiện theo luật đối với Nhà nước; không mang tính chất đối
khoản,không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế và dùng để trang trải cho các
nhu cầu chi tiêu công cộng.
1.1.1.3. Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường:
- Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước.

của sắc thuế đó. Đối tượng chịu thuế thường được tính trên một đơn vị giá trị
hoặc một đơn vị vật lý. Theo nghĩa này,các nước cho rằng đây là đối tượng tính
thuế. Đối tượng chịu thuế theo quan điểm của nhiều nước là những người phải
lấy từ thu nhập của mình ra để trả thuế cho Nhà nước thông qua hành vi tiêu
dùng hoặc hành vi tìm kiếm thu nhập.
4, Cơ sở tính thuế:
Đối tượng tính thuế: Là loại hàng hóa,dịch vụ hoặc một yếu tố khác có
thể đo lường được như độ ồn,độ ô nhiễm… Mỗi loại thuế lại có một đối tượng
tính thuế riêng.
5
Giá tính thuế: Trong nền kinh tế thị trường,hầu hết các khoản thuế đều
được thu bằng tiền. Vì vậy để xác định được số thuế phải nộp,hàng hóa,dịch vụ
chịu thuế phải được tính thành tiền. Giá tính thuế được quy định để xác định giá
trị tính thuế của hàng hóa,dịch vụ. Thông thường giá tính thuế được quy định là
giá chưa có loại thuế đó của hàng hóa,dịch vụ. Tuy nhiên tùy theo chất lượng
của từng loại thuế mà trong giá tính thuế của loại này có thuế của loại kia,hoặc
giá tính thuế là giá bán ra hay giá mua vào hoặc có kèm theo các khoản phụ thu
được hưởng hay không.
5, Mức thuế:
Thuế suất hay định suất thuế là linh hồn của một loại thuế vì nó thể hiện
nhu cầu cần tập trung nguồn tài chính cho ngân sách Nhà nước và biểu hiện
chính sách điều chỉnh kinh tế xã hội của Nhà nước,dồng thời cũng là mối quan
tâm hàng đầu của người nộp thuế. Tùy theo quy định của từng loại thuế mà
người ta áp dụng các loại thuế suất khác nhau. Trong thực tế có nhiều loại thuế
suất nhưng nhìn chung có các loại sau:
Thuế suất thống nhất: Là loại thuế suất quy định mức nộp thuế như nhau
cho tất cả các đối tượng tính thuế. Loại thuế suất này thường được gặp ở thuế
thân,nhưng hiện nay loại thuế này ít được áp dụng.
Thuế suất phân biệt: Là loại thuế suất quy định các mức khác nhau cho
từng đối tượng nộp thuế và đối tượng tính thuế tùy theo định hướng phát triển

Một số loại thuế quy định cho phép người nộp thuế không phải thực hiện
nghĩa vụ nộp toàn bộ số tiền thuế,mà không phải nộp cho Nhà nước,gọi là miễn
thuế hoặc chỉ phải nộp một phần số tiền thuế đó gọi là giảm thuế.
Thông thường,những lý do để người nộp thuế được Nhà nước cho phép
miễn thuế,giảm thuế được quy định trong các luật thuế là:
Do nguyên nhân khách quan mà người nộp thuế gặp khó khăn trong hoạt
động sản xuất kinh doanh hoặc bị giảm sút thu nhập.
Thực hiện một số chủ trương chính sách kinh tế của Nhà nước như:
khuyến khích xuất khẩu,khuyến khích đầu tư vào các ngành nghề trọng điểm,địa
bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn.
Tuy nhiên thực hiện việc miễn giảm thuế cũng có tính hai mặt,nó chứa
đựng những yếu tố tích cực,tạo điều kiện thực hiện các chính sách kinh tế xã hội
của Nhà nước nhưng cũng chứa đựng các yếu tố tiêu cực,có thể làm méo mó
những ý tưởng ban đầu khi thiết lập các loại thuế,không phù hợp với những tiêu
chuẩn của một hệ thống thuế hiện đại.
7
Trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế,việc giảm miễn thuế là phương
tiện quan trọng để ưu đãi,khuyến khích phát triển sản xuất trong nước khi các
rào cản thuế quan bị bãi bỏ. Tuy nhiên việc miễn giảm thuế nếu không đúng
thông lệ quốc tế,được các tổ chức kinh tế quốc tế chấp thuận sẽ được xem là một
khoản trợ cấp và sẽ bị áp dụng các biện pháp đối kháng hoặc trả đũa.
7, Chế độ trách nhiệm:
Chế độ kê khai thuế quy định trong luật thuế thể hiện các quyền và nghĩa
vụ của đối tượng nộp thuế trong việc chấp hành sổ sách kế toán,hóa đơn chứng
từ và cung cấp tài liệu,sổ sách kế toán,chứng từ hóa đơn liên quan đến việc tính
và thu thuế. Tùy thuộc vào yêu cầu của việc tính thuế đối với từng loại thuế mà
luật thuế và các văn bản pháp luật thuế có liên quan quy định nội dung pháp lý
về nghĩa vụ kê khai của đối tượng nộp thuế.
Chế độ nộp thuế bao gồm các quy định về quyền,nghĩa vụ của đối tượng
nộp thuế thực hiện với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Hành vi hoàn thành

bán cho người tiêu dùng cuối cùng. Thuế GTGT do người tiêu dùng cuối cùng
chịu,cơ sở sản xuất kinh doanh,nhà cung cấp hàng hóa dịch vụ là người nộp thuế
vào Ngân sách Nhà nước thay cho người tiêu dùng thông qua việc cộng thuế vào
giá bán mà người tiêu dùng phải thanh toán khi mua hàng hóa,dịch vụ.
1.2.1.2. Đặc điểm:
- Thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh trực tiếp vào đối tượng tiêu
dùng hàng hóa,dịch vụ chịu thuế GTGT,là một yếu tố cấu thành trong giá cả
hàng hóa và dịch vụ,là khoản thu được công thêm vào giá bán của người cung
cấp,hay nói cách khác giá cả hàng hóa,dịch vụ mà người tiêu dùng mua bao gồm
cả thuế GTGT.
- Thuế GTGT đánh vào GTGT của hàng hóa,dịch vụ phát sinh ở các giai
đoạn từ sản xuất,lưu thông đến tiêu dùng hàng hóa,dịch vụ đó. Tổng số thuế
GTGT thu được ở tất cả các giai đoạn sẽ bằng số thuế GTGT tính trên giá bán
cho người tiêu dùng cuối cùng.
Thuế GTGT là một loại thuế có tính trung lập cao. Tính trung lập biểu
hiện ở hai khía cạnh:
+ Thứ nhất,thuế GTGT không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh
của người nộp thuế,do người nộp thuế chỉ là người “thay mặt” người tiêu dùng
nộp hộ khoản thuế này vào ngân sách nhà nước. Do vậy thuế GTGT không phải
là yếu tố của chi phí sản xuất mà chỉ dơn thuần là một khoản thu được cộng
thêm vào giá bán của người cung cấp hàng hóa,dịch vụ.
+ Thứ hai,thuế GTGT không bị ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức và phân
chia quá trình sản xuất kinh doanh,bởi tổng số thuế ở tất cả các giai đoạn luôn
bằng số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng bất kể số giai đoạn nhiều
hay ít.
9
- Về phạm vi đánh thuế: thuế GTGT chỉ đánh vào hoạt động tiêu dùng
diễn ra trong phạm vi lãnh thổ,không đánh vào phạm vi tiêu dùng ngoài lãnh thổ.
Đặc điểm này tạo ra sự công bằng trong những giao dịch quốc tế thông qua việc
không thu thuế đối với hàng hóa,dịch vụ xuất khẩu và đánh thuế đối với hàng

GTGT là hàng hoá,dịch vụ dùng cho sản xuất,kinh doanh và tiêu dùng ở Việt
10
Nam(bao gồm cả hàng hoá,dịch vụ mua cho tổ chức,cá nhân ở nước ngoài) trừ
các đối tượng không chịu thuế theo quy định hiện hành.
b, Đối tượng không chịu thuế GTGT:
Theo nguyên tắc thuế GTGT thì mọi hàng hóa,dịch vụ tiêu dùng ở Vệt
Nam đều thuộc đối tượng chịu thuế GTGT. Tuy nhiên,trong quy định của Luật
thuế GTGT ở nước ta cũng như các nước đều có quy định các đối tượng không
chịu thuế GTGT. Đối tượng cụ thể các nước quy định có khác nhau,ở nước ta
hiện hành quy định có các nhóm hàng hóa không thuộc diện chịu thuế GTGT
như sau:
* Hàng hóa,dịch vụ mang tính chất thiết yếu phục vụ nhu cầu đời sống
cộng đồng,không mang tính chất kinh doanh:
- Dịch vụ y tế.
- Văn hóa, giáo dục, đào tạo; dạy học,dạy nghề.
- Vận chuyển hành khách công cộng bằng xe buýt, xe điện.
- Hoạt động văn hóa, triển lãm và thể dục, thể thao không nhằm mục đích
kinh doanh; biểu diễn nghệ thuật; sản suất phim; nhập khẩu, phát hành và chiếu
phim nhựa, phim video tài liệu.
- Phát sóng phát thanh, truyền hình theo chương trình bằng nguồn vốn
ngân sách Nhà nước.
- Dịch vụ công cộng về vệ sinh, thoát nước đường phố và khu dân cư,
duy trì vườn thú, vườn hoa, công viên,cây xanh thành phố, chiếu sáng công
cộng, dịch vụ tang lễ…
* Hàng hóa,dịch vụ thuộc các hoạt động được ưu đãi vì mục tiêu xã
hội,nhân đạo:
- Hàng hóa nhập khẩu trong các trường hợp sau: hàng viện trơn nhân
đạo, viện trợ không hoàn lại; quà tặng cho cơ quan Nhà nước,tổ chức chính trị,tổ
chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp,đơn vị vũ trang nhân dân…
- Hàng hóa bán cho tổ chức quốc tế,người nước ngoài để viện trợ nhân

cảnh,mượn đường qua Việt Nam;hàng tạm nhập khẩu,tái xuất khẩu; hàng xuất
khẩu,tái nhập khẩu…
* Hàng hóa mang tính chất phục vụ nhu cầu đặc biệt của Nhà nước
hoặc cần bảo mật như: vũ khí,khí tài chuyên dùng phục vụ an ninh quốc
phòng,dự trữ quốc gia…
* Hàng hóa, dịch vụ của cá nhân kinh doanh có mức thu nhập thấp,
phần lớn các nước thường áp dụng ngưỡng tính thuế.
* Hàng hóa, dịch vụ khó xác định giá trị tăng thêm,do đó khó xác định
được thuế GTGT: dịch vụ tín dụng,quỹ đầu tư,hoạt động kinh doanh chứng
khoán… Hầu hết các nước cũng không thu thuế với nhóm này.
12
* Hàng hóa, dịch vụ khác: bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm học sinh, bảo
hiểm vật nuôi,bảo hiềm cây trồng và các loại bảo hiểm không nhằm mục đích
kinh doanh…
1.2.2.2. Căn cứ tính thuế:
a, Giá tính thuế:
* Nguyên tắc cơ bản xác định giá thành thuế GTGT:
- Giá tính thuế là một căn cứ quan trọng để xác định số thuế GTGT phải
nộp. Nguyên tắc chung xác định giá tính thuế GTGT là giá bán chưa có thuế
GTGT được ghi trên hoá đơn bán hàng của người bán hàng,người cung cấp dịch
vụ hoặc giá chưa có thuế GTGT được ghi trên chứng từ của hàng hoá nhập khẩu.
+ Đối với hàng hoá,dịch vụ do cơ sở sản xuất,kinh doanh bán ra hoặc
cung ứng cho đối tượng khác: Giá tính thuế là giá bán chưa có thuế GTGT,bao
gồm cả khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá hàng hoá,dịch vụ mà cơ sở kinh
doanh được hưởng,trừ các khoản phụ thu và phí cơ sở kinh doanh phải nộp ngân
sách Nhà nước.
Trường hợp cơ sở kinh doanh áp dụng hình thức giảm giá bán thì giá tính
thuế GTGT là giá bán đã giảm ghi trên hoá đơn.
+ Đối với hàng hoá,dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt thì giá tính thuế
GTGT là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng chưa có thuế

thuế GTGT thì giá tính thuế là giá chưa có thuế GTGT.
Giá chưa có thuế GTGT được xác định theo công thức:
Giá chưa có thuế
GTGT
=
Giá thanh toán(tiền
bán vé bán tem…)
:
(1+(%) thuế suất của
hàng hoá,dịch vụ đó.
b, Thuế suất:
Thuế suất được xác định là “linh hồn” của mỗi luật thuế,thể hiên quan
điểm mức động viên của Nhà nước với đối tượng chịu thuế. Việc quy định thuế
suất hợp lý có ý nghĩa quan trọng.
Luật thuế GTGT của Việt Nam có hiệu lực thi hành từ 1/1/1999,quy định
bốn mức thuế suất (0%,5%,10% và 20%); sau một thời gian áp dụng và để hoàn
thiện,Luật đã được điều chỉnh,hiện nay chỉ còn 3 mức thuế suất là 0%,5% và
10%.
1.2.2.3. Phương pháp tính thuế:
a, Phương pháp khấu trừ thuế:
* Đối tượng áp dụng:
Các đơn vị,tổ chức kinh doanh,doanh nghiệp thành lập theo Luật doanh
nghiệp Nhà nước (nay là Luật doanh nghiệp), Luật hợp tác xã, doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài và các đơn vị,tổ chức kinh doanh khác được áp dụng
14

Trích đoạn Phần III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1 Kết luận:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status