Thanh toán quốc tế Nhóm 1
1
Thanh toán quốc tế Nhóm 1
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN:
phát triển cao.
Thị trường hối đoái là nơi giao dịch mua bán các đồng tiền chuyển đổi. Các đồng tiền
mạnh, có tính chuyển đổi cao được giao dịch nhiều nhất là Đôla Mỹ, Yên Nhật Bản,
Mác Đức.
Thị trường hối đoái là thị trường phi tập trung. Ba thị trường hối đoái lớn nhất thế
giới là London, Tokyo, New York.Thị trường hối đoái có quy mô giao dịch trong một
ngày trên một nghìn tỷ đôla, ví dụ năm 1998 doanh số trung bình hàng ngày của thị
trường ngoại hối là 1600 tỷ USD. Vì vậy, thị trường này tác động rất lớn đến tình
hình kinh tế của các nước đang phát triển. Việc đầu cơ trên thị trường hối đoái, ví dụ
đầu cơ đồng Baht đã dẫn đến cuộc khủng hoảng thị trường tài chính Thái Lan.
Ngày nay, chưa có một cơ quan quốc tế nào đứng ra làm nhiệm vụ giám sát thị trường
này. IMF muốn đứng ra làm chức năng Ngân hàng Trung ương toàn cầu, nhưng lực
bất tòng tâm, và không được các nước công nghiệp Tư bản ủng hộ. Các nước công
nghiệp tư bản chỉ chú trọng trước hết đến những vấn đề tiền tệ, kinh tế trong nước,
nên không phối hợp đúng mức để kiểm soát thị trường.
b)Đặc điểm của Thị trường hối đoái
+ TTHĐ không tồn tại trong một không gian cụ thể nhất định mà hoạt động của nó
thông qua các phương tiện thông tin hiện đại.
+ Có tính quốc tế hoá cao.
+ Giao dịch mua bán các loại ngoại tệ tự do chuyển đổi.
+ Giao dịch với khối lượng lớn (khối lượng tối thiểu và doanh số)
c)Vai trò của TTHĐ:
+ Tạo điều kiện để kết nối các nhu cầu giao dịch ngoại tệ trong nền kinh tế
+ Làm cho các giao dịch mua bán trao đổi ngoại hối đi vào nề nếp, ổn định, góp phần
ổn định thị trường tài chính
+ Giúp NHTW nắm bắt được thông tin về thị trường để tham mưu cho chính phủ
trong việc thực hiện chính sách quản lý ngoại hối.
+ Tạo điều kiện để hội nhập với thị trường tài chính quốc tế.
2.THỊ TRƯỜNG HỐI ĐOÁI GIAO NGAY LÀ GÌ?
Hối đoái giao ngay (spot transactions) là nghiệp vụ mua hoặc bán ngoại tệ mà
và chỉ thị nhận Đồng Việt Nam.
b. Khách hàng mua ngoại tệ
- Khi có nhu cầu thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ cho nước ngoài liên hệ với Phòng
Kinh doanh tiền tệ:
- Nộp Giấy đề nghị bán ngoại tệ (theo mẫu) đã được điền đầy đủ các chi tiết,
- Xuất trình bản chính các chứng từ thanh toán có liên quan theo quy định hiện hành
về quản lý ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước
2. Ngoại tệ – ngoại tệ:
Khi có nhu cầu giao dịch mua bán ngoại tệ – ngoại tệ khách hàng liên hệ với
Phòng Dịch vụ khách hàng doanh nghiệp để thoả thuận tỷ giá, ngày thanh toán,
chỉ thị chuyển tiền, mức ký quỹ (nếu có), và ký hợp đồng giao dịch
II. Khách hàng là cá nhân:
1. Ngoại tệ – Đồng Việt Nam:
a. Khách hàng bán ngoại tệ:
- Bán ngoại tệ từ sổ tiết kiệm, trên tài khoản cá nhân: khách hàng đến Phòng Dịch
vụ khách hàng cá nhân mang theo CMND và sổ tiết kiệm (nếu có).
- Bán ngoại tệ tiền mặt: khách hàng đến Phòng Ngân Quỹ và lập bảng kê nộp tiền.
5
Thanh toán quốc tế Nhóm 1
b. Khách hàng mua ngoại tệ:
Khi có nhu cầu mua, chuyển ngoại tệ để phục vục các nhu cầu thanh toán học phí,
đi du lịch, công tác…khách hàng liên hệ Bộ phận du học Phòng Dịch vụ khách
hàng cá nhân để được hướng dẫn.
2. Ngoại tệ – ngoại tệ:
Khi có nhu cầu giao dịch mua bán ngoại tệ – ngoại tệ khách hàng liên hệ với
Phòng Dịch vụ khách hàng cá nhân để thoả thuận tỷ giá, ngày thanh toán, chỉ thị
chuyển tiền, mức ký quỹ (nếu có), và ký hợp đồng giao dịch.
***Tỷ giá giao ngay là tỷ giá do tổ chúc tín dụng yết giá tại thời điểm giao dịch hoặc
do 2 bên thỏa thuận,nhưng phải đảm bảo trong biên độ quy định hiên hành của Ngân
Hàng Nhà Nước.
đồng bảng Anh(GBP), dollar Úc(AUD), dollar Newzealand(NZD) thường được niêm
yết gián tiếp trong khi các đồng tiền khác được niêm yết trực tiếp.Riêng đồng dollar
Mỹ và EUR được niêm yết theo cả hai cách,vừa trực tiếp vừa gián tiếp.
Ở Việt Nam,các NH thương mại sử dụng phương pháp yết giá trực tiếp,tức là yết
giá ngoại tệ qua VND,trong đó VND là đồng tiền định giá.Ngoài ra, do đặc điểm VN
còn giao dịch tiền mặt nên bên cạnh yết giá ngoại tệ chuyển khoản, các NH thương
mại còn yết giá ngoại tệ tiền mặt.
Cần nắm rõ có 2 loại tỷ giá:tỷ giá tiền mặt và tỷ giá chuyển khoản.Trong đó tỷ giá
chuyển khoản người ta yết cả tỷ giá mua ngoại tệ chuyển khoản và tỷ giá bán ngoại tệ
chuyển khoản.Trong khi đó chỉ có tỷ giá tiền mặt chỉ niêm yết tỷ giá bán tiền mặt.Lý
do là theo pháp lệnh quản lý ngoại hối Ngân Hàng Thương Mại không được phép bán
ngoại tệ bằng tiền mặt.Tuy nhiên chỉ là trước đây thôi,khi VN hội nhập tái chính quốc
tế thì cách yết giá của VN cũng sẽ tương tự như nước ngoài
_Ví dụ bảng niêm yết giá của ngân hàng Sacombank
Tỷ giá hối đoái
Đơn vị tính: VNĐ
Cập nhật lúc 10:00, 03/03/2010
Loại Mua TM Mua CK Bán CK
USD 18990 19000 19100
AUD 17197 17229 17467
CAD 18320 18449 18667
CHF 17660 17777 17990
EUR 25893 26052 26312
GBP 28606 28782 29049
JPY 213,78 215,09 218,1
SGD 13573 13628 13761
THB 534 642
HKD 2409 2480
NZD 13438 13783
SEK 2696 2741
công hay không. Để giới hạn rủi ro bội ước hợp đồng, các ngân hàng thường chỉ tực
8
Thanh toán quốc tế Nhóm 1
hiện các hợp đồng mua bán ngoại tệ có số lượng lớn với các ngân hàng hoặc các công
ty lớn có tên tuổi.
V.KINH DOANH CHÊNH LỆCH TỶ GIÁ
Từ những năm 1990, hầu hết các ngân hàng đều yết giá ngoại tệ so với USD.
Tuy nhiên vào những năm gần đây hơn 40% ngân hàng không yết giá so với USD. Từ
đó làm nảy sinh ra các cơ hội kinh doanh chênh lệch giá giữa các trung tâm tiền tệ với
nhau
Kinh doanh chênh lệch giá liên quan đến việc mua ngoại tệ ở thị trường và bán
lại ở thị trường khác, việc mua bán như vậy có khuynh hướng làm bình quân tỷ giá
giữa các thi trường khác nhau
Tuy nhiên trong việc thực hiện kinh doanh chênh lệch gía lại gặp phải một số khó
khăn như chi phí giao dich và rào cản giao dịch giữa các thị trường, nó làm cho việc
kinh doanh chênh lệch giá không dễ dàng thực hiện khiến cho cơ hội kinh doanh
chênh lệch giá khó thực hiện ít khi thực hiện và nếu có chỉ tồn tại trong thời gian ngắn
.
VI.SỬ DỤNG GIAO DỊCH HỐI ĐOÁI GIAO NGAY
Giao dịch hối đoái giao ngay được ngân hàng sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu
mua hoặc bán ngoại tệ giao ngay cho khách hàng. Chẳng hạn một công ty xuất khẩu
vừa thu ngoại tệ từ một hợp đồng xuất khẩu nhưng cần VNĐ để chi trả tiền lương và
trang trải chi phí thu mua nguyên liệu trong nước sẽ có nhu cầu bán ngoại tệ lấy
VNĐ. Ngân hàng thương mại đứng ra mua số ngoại tệ này của nhà xuất khẩu, sau đó
bán lại cho nhà nhập khẩu là người có nhu cầu ngoại tệ để thanh toán hợp đồng nhập
khẩu đến hạn. Bằng cách này ngân hàng vừa đáp ứng được nhu cầu bán ngoại tệ của
nhà xuất khẩu vừa đáp ứng được nhu cầu mua ngoại tệ của nhà nhập khẩu.
Tuy nhiên, nhược điểm của ngoại hối giao ngay là không đáp ứng được nhu cầu
mua hoặc bán ngoại tệ của những khách hàng nào cần mua hoặc cần bán ngoại tệ
nhưng việc chuyển giao ngoại tệ chưa thực hiện ngay ở hiện tại mà sẽ được thực hiện