Tài liệu Đề tài " Tỷ giá hối đoái và quản lý tỷ giá hối đoái ở Việt Nam hiện nay " - Pdf 98


Luận văn Đề Tài:Tỷ giá hối đoái và quản lý tỷ giá hối
đoái ở Việt Nam hiện nay Tû gi¸ hèi ®o¸i

MỤC LỤC
Lời mở đầu 1
Nội dung
Chương 1: Tổng quan lý luận về tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ
giá hối đoái 3
1.Tỷ giá hối đoái 3
1.1. Tỷ giá hối đoái là gì 3
1.2. Các loại tỷ giá trên thị trường 5
1.3 .Vai trò của tỷ giá hối đoái trong nền kinh tế mở 6

mối quan hệ kinh tế trên mọi lĩnh vực của một nước ngày càng
được mở rộng ra các nước , do đó vấn đề thanh toán ,định giá , so
sánh ,phân tích đánh giá về mặt giá trị và hiệu quả trở nên phức tạp
hơn nhiều . Đơn vị thanh toán không chỉ là tiền tệ trong nước mà
còn phải sử dụng các loại ngoại tệ khác nhau liên quan đến việc trao
đổi tiền của nước khác . Tiền của mỗi nước được quy định theo
pháp luật của nước đó và đặc điểm riêng của nó ,vì vậy phát sinh
nhu cầu tất yếu là phải so sánh giá trị ,sức mua của đồng tiền trong
nước với ngoại tệ và giữa các ngoại tệ với nhau . Hoạt động chuyển
đổi đồng tiền này thành đồng tiền khác trong quá trình quan hệ giữa
các nước nhóm nước với nhau đã làm nảy sinh phạm trù tỷ giá hối
đoái
Tỷ giá hối đoái là một phạm trù kinh tế nhạy cảm và rất phức tạp
. Kinh tế thị trường thường xuyên vận động thì tỷ giá hối đoái cũng
như những hiện tượng kinh tế khác biến động là lẽ tất nhiên ,là hợp
với quy luật vận động của sự vật ,của hiện tượng . Tuy nhiên những
diễn biến có tính bất thường , khác lạ của hiện tượng kinh tế tất phải
do những nguyên nhân ,hoặc do những trục trặc nào đó làm cho
hiện tượng kinh tế đó diễn ra “chệch hướng” theo logic bình
thường . Điều đó làm chúng ta phải thận trọng xem xét các nguyên
nhân từ mọi phía,một cách toàn diện để có nhận thức , quan điểm
đúng đắn , làm cơ sở tin cậy cho việc điều chỉnh các hoạt động thực
tiễn …
Nghiên cứu sự vận động của tỷ giá hối đoái là một vấn đề phức
tạp nhưng cũng đầy mới mẻ và hấp dẫn , nhất là trong bối cảnh nền
Tû gi¸ hèi ®o¸i kinh tế phát triển và vận động không ngừng .Do đó , để lựa chọn đề
tài nghiên cứu trong đề án môn học Lý thuyết Tài chính - Tiền tệ ,


1. Tỷ giá hối đoái.
1.1 Tỷ giá hối đoái là gì?
Khái niệm của tỷ giá hối đoái rất phức tạp có thể tiếp cân nó
từ những góc độ khác nhau.
Xét trong phạm vi thị trường của một nước ,các phương tiện
thanh toán quốc tế được mua và bán trên thị trường hối đoái bằng
tiền tệ quốc gia của một nước theo một tỷ giá nhất định .Do đó có
thể hiểu tỷ giá là giá cả của một đơn vị tiền tệ một được biểu hiện
bằng số lượng đơn vị tiền tệ của nước khác hay là bằng số lượng
ngoại tệ nhận được khi đổi một đơn vị nội tệ hoặc bằng số lượng
nội tệ nhận được khi đổi một đơn vị ngoại tệ .Các nước có giá trị
đồng nội tệ thấp hơn giá trị ngoại tệ thường sử dụng cách thứ hai
.Chẳng hạn ở Việt Nam người ta thường nói đến số lượng đồng
Việt nam nhận được khi đổi một đồng USD ,DEM hay một FFR
…Trong thực tế ,cách sử dụng tỷ giá như vậy thuận lợi hơn .Tuy
nhiên trong nghiên cứu lý thuyết thì cách định nghĩa thứ nhất thuận
lợi hơn
Tû gi¸ hèi ®o¸i Tỷ giá hối đoái còn được định nghĩa ở khía cạnh khác ,đó là
quan hệ so sánh giữa hai tiền tệ của hai nước với nhau . Một đồng
tiền hay một lượng đồng tiền nào đó đổi được bao nhiêu đồng tiền
khác được gọi là tỷ lệ giá cả trao đổi giữa các đồng tiền với nhau
hay gọi tắt là tỷ giá hối đoái hay ngắn gọn là tỷ giá .Như vậy ,trên
bình diện quốc tế ,có thể hiểu một cách tổng quát : tỷ giá hối đoái là
tỷ lệ giữa giá trị của các đồng tiền so với nhau.
Tỷ giá dùng để biểu hiện và so sánh những quan hệ về mặt
giá cả của các đồng tiền các nước khác nhau . Có hai loại giá : giá

Tỷ giá là tỷ lệ so sánh giữa các đồng tiền với nhau . Do đó
muốn so sánh giá trị giữa các đồng tiền với nhau ,cần phải có vật
ngang giá chung làm bản vị để so sánh .Tiền tệ là vật ngang giá
chung để biểu hiện giá trị của các hàng hoá ,nhưng giờ đây đến lượt
cần so sánh giá cả giữa các đồng tiền với nhau lại phải tìm một vật
ngang giá chung làm bản vị để so sánh.
1.2. Các loại tỷ giá thông dụng trên thị trường
Để nhận biết được tác động của tỷ giá hối đoái đối với các
hoạt động của nền kinh tế nói chung ,hoạt động xuất nhập khẩu nói
riêng ,người ta thường phân loại tỷ giá theo các tiêu thức sau đây :
* Dựa trên tiêu thức là đối tượng quản lý :
Tỷ giá chính thức : đây là loại tỷ giá được biết dến nhiều
nhất và là tỷ giá được nêu trên các phương tiện thông tin đại chúng
do ngân hàng công bố chính thức trên thị trường để làm cơ sở tham
chiếu cho các hoạt động giao dịch , kinh doanh ,thống kê…
Tỷ giá thị trường : tỷ giá được hình thành thông qua các
giao dịch cụ thể của các thành viên thị trường .
Tỷ giá danh nghĩa : là tỷ lệ giữa giá trị của các đồng tiền so
với nhau ,đồng này đổi được bao nhiêu đồng kia .
Tû gi¸ hèi ®o¸i Tỷ giá thực: là tỷ giá phản ánh tương quan giá cả hàng
hoá của hai nước được tính theo một trong hai loại tiền của hai
nước đó hoặc là giá trị tính bằng cùng một đồng tiền của hàng xuất
khẩu so với giá hàng nhập khẩu v.v
* Dựa trên kỹ thuật giao dịch : cơ bản có hai loại tỷ giá :
Tỷ giá mua/bán trao ngay, kéo theo việc thay đổi ngay các
khoản tiền
Tỷ giá mua/bán kỳ hạn ,kéo theo việc trao đổi các khoản

mục tiêu,chính sách kinh tế vĩ mô của mỗi quốc gia thể hiện trên
hai điểm cơ bản sau :
Thứ nhất, TGHĐ và ngoại thương:Tỷ giá giữa đồng nội tệ
và ngoại tệ là quan trọng đối với mỗi quốc gia vì trước tiên nó tác
động trực tiếp tới giá cả hàng hoá xuất nhập khẩu của chính quốc
gia đó.Khi đồng tiền của một quốc gia tăng giá(Tăng trị giá so với
đồng tiền khác)thì hàng hoá nước đó ở nước ngoài trở thành đắt hơn
và hàng hoá nước ngoài tại nước đó trở nên rẻ hơn.Ngược lại khi
đồng tiền một nước sụt giá,hàng hoá của nước đó tại nước ngoài trở
nên rẻ hởn trong khi hàng hoá nước ngoài tại nước đó trở nên đắt
hơn(các yếu tố khác không đổi).Tỷ giá tác động đến hoạt động xuất
nhập khẩu vì vậy nó tác động tới cán cân thanh toán quốc tế,gây ra
thâm hụt hoặc thặng dư cán cân.
Thứ hai,TGHĐ và sản lượng, công ăn việc làm, lạm phát.Tỷ
giá hối đoái không chỉ quan trọng là vì tác động đến ngoại thương
,mà thông qua đó tỷ giá sẽ có tác động đến các khía cạnh khác của
nền kinh tế như mặt bằng giá cả trong nước ,lạm phát khả năng sản
xuất , công ăn việc làm hay thất nghiệp…
Tû gi¸ hèi ®o¸i Với mức tỷ giá hối đoái 1USD =10500VND của năm 1994
thấp hơn mức 1USD = 13500VND của năm 1998 ,tức tiền Việt
Nam sụt giá và nếu giả định mặt bằng giá thế giới không đổi ,thì
không chỉ có xe con khi nhập khẩu tính thành tiền Việt Nam tăng
giá mà còn làm tất cả các sản phẩm nhập khẩu đều rơi vào tình
trạng tương tự và trong đó có cả nguyên vật liệu ,máy móc cho sản
xuất . Nếu các yếu tố khác trong nền kinh tế là không đổi,thì điều
này tất yếu sẽ làm mặt bằng giá cả trong nước tăng lên . Nếu tỷ giá
hối đoái tiếp tục có sự gia tăng liên tục qua các năm ( đồng nội tệ

đối,khi mức giá cả hàng nội địa tăng tương đối so với hàng ngoại
nhập thì cầu của hàng nội địa sẽ giãmuống và đồng nội địa có xu
hướng giảm giá để cho hàng nội bán được tốt hơn và ngược lại nó
sẽ làm đồng nội tệ có xu hướng tăng giá,bởi vì hàng nội đíãe vấn
bán tốt ngay cả với giá trị cao hơn của đồng nội tệ.
- Thuế quan và hạn mức nhập lhẩu là những công cụ kinh tế
mà chính phủ dùng để điều tiết và hạn chế nhập khẩu.Chính công
cụ này nhiều hay ít đã tác động và làm tăng giả cảcủa hàng ngoại
nhập,làm giảm tương đối nhu cầu với hàng nhập khẩu, góp phần
bảo hộ và khuyến khích tiêu dùng hàng sản xuất trong nước.Những
công cụ mà nhà nước dùng để hạn chế nhập khẩu sẽ ảnh hưởng và
Tû gi¸ hèi ®o¸i làm cho tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ có xu hướng giảm về lâu
dài.
- Ưa thích hàng nội so với hàng ngoại. Nếu sự ham thích của
người nước ngoài về mặt hàng trong nước tăng lên thì cầu về hàng
nội sẽ tăng lên làm đồng nội tệ tăng giá,bởi hàng nội địa vẫn bán
được nhiều ngay cả với giá cao hơn của đồng nội tệ.Cầu đối với
hàng xuất của một nước tăng lên làm cho đồng tiền nước đó giảm
giá.
1.5. Tầm quan trọng của tỷ giá.
Bất kì một quốc gia nào cũng luôn luôn tìm cách để đạt được
hai mục tiêu lớn của nền kinh tế : Đó là mục tiêu cân bằng ngoại
(cân băng ngoại thương) và mục tiêu cân bằng nội(cân bằng sản
lượng,công ăn việc làm và lạm phát)
Ta biết rằng, tỷ giá tác động đến giá cả tương đối của hàng
hoá trong nước và hàng hoá nước ngoài . Khi đồng tiền của một
nước tăng giá ( Tăng giá trị so với đồng tiền khác ) thì hàng hoá

đoái .
2.1.2. Mục tiêu của chính sách tỷ giá hối đoái
Trong nền kinh tế mở động cơ hoạch định chính sách là
những mục tiêu cân đối bên trong và bên ngoài .Trong khi đó tỷ giá
hối đoái lại là một yếu tố có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến
những cân đối này nên việc hoạch định những chính sách tỷ giá
phải trực tiếp nhắm đến hai mục tiêu này.
Trên đây là hai nhóm mục tiêu cơ bản mà chính sách tỷ
giá cuối cùng phải hướng đến .Tuy nhiên trong giai đoạn nhất định
nào đó , chính sách tỷ giá cũng có thêm những mục tiêu cụ thể như :
thường xuyên xác lập và duy trì mức tỷ giá cân bằng , duy trì và
bảo vệ giá trị đồng nội tệ, tiến tới thực hiện đầy đủ chức năng của
Tû gi¸ hèi ®o¸i đồng tiền ( bao gồm việc thực hiện khả năng chuyển đổi của đồng
tiền) ,gia tăng dự trữ ngoại tệ
Bây giờ sẽ lần lượt xem xét hai mục tiêu : cân bằng nội
và cân bằng ngoại.
* Mục tiêu cân bằng nội : Là trạng thái ở đó các nguồn
lực của một quốc gia được sử dụng đầy đủ, thể hiện ở sự toàn dụng
nhân công và mức giá cả ổn định. Mức giá biến động bất ngờ có tác
động xấu đến các khoản tín dụng và đầu tư. Chính phủ cần ngăn
chặn các đợt lên hay xuống phát triển đột ngột của tổng cầu để duy
trì một mức giá cả ổn định, có thể dự kiến trước được. Vì vậy, tỷ
giá hối đoái được xem như là một công cụ đắc lực, hỗ trợ hiệu quả
cho Chính phủ trong việc điều chỉnh giá cả, đặc biệt là trong nền
kinh tế, xu thế hội nhập quốc tế như hiện nay.
* Mục tiêu cân bằng ngoại : Khái niệm "cân bằng ngoại"
khó xác định hơn nhiều so với "cân bằng nội", nó chủ yếu là sự cân

thiệp mang tính chất chủ quan của nhà nước . Việc can thiệp này
phải là hành động có cân nhắc, tính toán những nhân tố thực tại
cũng như chiều hướng phát triển trong tương lai của kinh tế, thị
trường tiền tệ và giá cả.
- Quỹ dự trữ bình ổn hối đoái : Nguồn vốn để hình thành quỹ
dự trữ bình ổn hối đoái thường là : phát hành trái khoán kho bạc
bằng tiền quốc gia . Khi ngoại tệ vào nhiều,thì sử dụng quỹ này để
mua nhằm hạn chế mức độ mất giá của đồng ngoại tệ .Ngược lại ,
trong trường hợp vốn vay chạy ra nước ngoài quỹ bình ổn hối đoái
tung ngoại tệ ra bán và tiếp tục mua các trái khoán đã phát hành để
ngăn chặn giá ngoại tệ tăng .Theo phương pháp này , khi cán cân
thanh toán quốc tế bị thâm hụt , quỹ bình ổn hối đoái sẽ đưa vàng ra
bán thu ngoại tệ về để cân bằng cán cân thanh toán , khi ngoại tệ và
nhiều , quỹ sẽ tung vàng ra bán thu về đồng tiền quốc gia để thu
ngoại tệ nhằm duy trì sự ổn định tỷ giá hối đoái.
Tû gi¸ hèi ®o¸i 2.2. Lựa chọn chế độ TGHĐ
2.2.1. Các chế độ tỷ giá hối đoái
2.2.1.1Chế độ tỷ giá hối đoái cố định
2.2.1.1.1 Chế độ đồng giá vàng (1880 - 1932):
Sau một quá trình phát triển lâu dài, tiền thống nhất từ các dạng
sơ khai thành hai loại: vàng và bạc sau đó cố định ở vàng. Chế độ
bản vị vàng là chế độ ở đó, vàng đóng vai trò là vật ngang giá
chung, chỉ có tiền đúc bằng vàng hoặc dấu hiệu của nó mới có thể
đổi lấy nó. Theo đó, đồng tiền của các nước được đổi trực tiếp ra
vàng, tỷ giá hối đoái được hình thành trên cơ sở so sánh hàm lượng
vàng của các đồng tiền, sự so sánh đó được gọi là ngang giá vàng
(gold parity).

Do đó, thế giới được chia thành hai khối: các nước kinh tế phát
triển và các nước kinh tế kém phát triển.
- Lạm hành việc phát hành tiền vàng, các Chính phủ đã chi
tiêu quá lớn dẫn đến việc dự trữ vàng trong kho nhà nước không đủ
để đảm bảo cho việc đổi tiền phù hiệu ra tiền vàng, làm cho công
chúng có tâm lý sử dụng tiền phù hiệu và cất tiền vàng đi. Ai có
vàng không đúc tiền vàng nữa mà dùng để đổi lấy tiền phù hiệu.
Dẫn đến tiền phù hiệu được lưư thông rộng rãi trên cơ sở ngang giá
vàng. Các nước kinh tế phát triển có đồng tiền được coi là tiền chủ
chốt. Các nước kinh tế kém phát triển có đồng tiền được coi là tiền
phụ thuộc. Tiền phụ thuộc đến với tiền chủ chốt sẽ đến được với
vàng. Vì chỉ tiêu tiền phù hiệu nên các nước lớn đã phát hành một
lượng tiền phù hiệu lớn để thao túng kinh tế, chính trị, vơ vét của
cải, tài nguyên, xâm chiếm thuộc địa ở các nước kém phát triển.
Khi lượng tiền phù hiệu ở trong lưu thông quá lớn thì nó trở lại để
đổi lấy tiền vàng sẽ không có lượng vàng đủ lớn để đúc tiền vàng
nữa.
Tû gi¸ hèi ®o¸i Mạt khác, trước đại chiến thế giới I, chính phủ các nước chạy
đua vũ trang đã timg mọi cách vơ vét vàng, vì thế lượng vàng trong
lưu thông giảm mạnh, các dấu hiệu tiền tệ, tiêng giấy tăng lên, đến
khi chiến tranh thế giới năm 1914 bùng nổ, chế đọ bản vị vàng tan
vỡ. Các nước bắt đầu áp dụng các hình thức biến tướng của ngang
giá vàng là chế độ bản vị vàng thoi và chế độ bản vị vàng hối đoái.
Các chế độ này không có tính chất ổn định như chế độ bản vị tiền
vàng trước năm 1914. Đến năm 1923, Anh kêu gọi các nước thực
hiện lại chế độ bản vị vàng nhưng không nước nào tham gia. Năm
1925, Anh đơn phương thực hiện lại chế độ bản vị vàng, các nước

Ví dụ: Trên cơ sở so sánh hàm lượng vàng: 1USD = 5,55
FRF thì NHTW Pháp phải duy trì tỷ giá ở mức 1USD = 5,4945 FRF
(5,55*99%) đến 1USD = 5,6055 FRF (5,5*101%).
Trong thời kỳ đầu cứ 1USD giấy phát hành ra đã có từ 4 đến 8
USD vàng bảo đảm. Lượng vàng đảm bảo đồ sộ như vậy nên cả thế
giới tư bản chỉ lo có vàng để đổi lấy USD mà mua hàng Mỹ chứ
không quan tâm đến việc USD có đổi lấy vàng được không. Chính
vì vậy, các nước có xu hướng chuyển đổi từ dự trữ vàng sang dự trữ
USD để tiết kiệm chi phí. USD đã trở thành tài sản dự trữ quốc tế
của các nước vì Mỹ cam kết với các NHTW rằng sẽ chuyển đổi
không hạn chế USD ra vàng. Các nước ngày càng mở rộng thương
mại với Mỹ, gia tăng dự trữ USD của họ, khiến cho sức hút USD ra
ngoài ngày càng tăng. Tổng khối lượng USD trên toàn thế giới vào
cuối năm 1944là 28,5 tỷ USD, thì đến cuối năm 1968 đã lên đến
gần 100 tỷ USD. Trong 25 năm độc quyền phát hành tiền tệ, Mỹ đã
lợi dụng đồng USD để thu hút của cải các nơi trên thế giới về tay
mình. Hàng trăm tỷ USD được thả lang thang đi khắp các nước mà
không có gì bảo đảm, gây ra lạm phát USD. Chế độ Bretton Woods
ngày càng bộc lộ những hạn chế mà bản thân nó không tự khắc
phục được:
Tû gi¸ hèi ®o¸i - Dự trữ không tương xứng: Do quy mô thương mại quốc tế
ngày càng tăng gắn liền với những dòng vận động tiền tệ lớn, đòi
hỏi các NHTW phải mua và bán khối lượng lớn đồng USD để duy
trì tỷ giá hối đoái đã thoả thuận. Về dài hạn, một số ngân hàng nhận
thấy dự trữ USD và vàng của mình không đủ đáp ứng nhu cầu trên.
- Các cuộc khủng hoảng có nguyên nhân đầu cơ: Khi có sự
thay đổi về mức giá cả tương đối giữa các đổng tiền làm cho một số


2.2.1.1.3. Nhận định chung về chế độ tỷ giá cố định:
Đây là chế độ tỷ giá hối đoái mà ở đó Nhà nước, cụ thể là
NHTW tuyên bố sẽ duy trì tỷ giá giữa đồng tiền của quốc gia mình
với một hoặc một số đồng tiền nào đó ở một mức độ nhất định. ở
đây, NHTW đóng vai trò điều tiết lượng dư cầu hoặc dư cung về
ngoại tệ để giữ tỷ giá hối đoái cố định bằng cách bán ra hoặc mua
vào số dư đó.
- Ưu điểm của chế độ tỷ giá cố định:
+ Thúc đẩy thương mại và đầu tư quốc tế vì nó mang lại một
môi trường ổn định, thuận lợi, ít rủi ro cho các hoạt động kinh
doanh.
+ Buộc các chính phủ phải hoạch định và thực thi các chính
sách vĩ mô.
+ Thúc đẩy các hoạt động hợp tác quốc tế nhằm tránh những
xung đột về mục tiêu chính sách và những biến động về tỷ giá.
- Hạn chế của chế độ tỷ giá cố định:
+ Thường chịu sức ép lớn mỗi khi xảy ra các cơn sốc từ bên
ngoài hoặc từ thi trường hàng hoá trong nước, bởi khi đó mức
chênh lệch thực tế quá lớn về giá trị giữa nội tệ và ngoại tệ sẽ dẫn
đến phá vỡ mức cân bằng tỷ giá.
Tû gi¸ hèi ®o¸i + Chế độ tỷ giá cố định làm mất tính chủ động của chính
sách tiền tệ, khiến cho NHTW gặp khó khăn trong việc thay đổi
lượng tiền cung ứng.
+ Đặc biệt, nó làm cho các quốc gia dễ rơi vào tình trạng
"nhập khẩu lạm phát" không mong muốn.
2.2.1.2. Chế độ tỷ giá thả nổi (từ năm 1973 đến nay):

tạp, chịu tác động của nhiều nhân tố kinh tế, chính trị, tâm lý, xã
hội đặc biệt là nạn đầu cơ. Trên thực tế thì lại không có thị trường
thuần tuý nên không thể có một chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn. Sự
can thiệp của Chính phủ vào thị trường ngoại hối làm cho tỷ giá
hối đoái có những diễn biến thuận lợi hơn nên chế độ tỷ giá thả nổi
có quản lý ngày càng được nhiều quốc gia lựa chọn đặc biệt là các
nước đang phát triển.
Tû gi¸ hèi ®o¸i 2.2.1.3. Chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý (bán thả nổi):
Đây là chế độ tỷ giá hối đoái có sự can thiệp của hai chế độ
cố định và thả nổi. ở đó, tỷ giá được xác định và hoạt động theo quy
luật thị trường, chính phủ chỉ can thiệp khi có những biến động
mạnh vượt quá mức độ cho phép.
Có 3 kiểu can thiệp của chính phủ:
- Kiểu can thiệp vùng mục tiêu: Chính phủ quy định tỷ giá tối
đa, tối thiểu và sẽ can thiệp nếu tỷ giá vượt quá các giới hạn đó.
- Kiểu can thiệp tỷ giá chính thức kết hợp với biên độ dao
động: Tỷ giá chính thức có vai trò dẫn đường, chính phủ sẽ thay đổi
biên độ dao động cho phù hợp với từng thời kỳ.
- Kiểu tỷ giá đeo bám: Chính phủ lấy tỷ giá đóng cửa ngày
hôm trước làm tỷ giá mở cửa ngày hôm sau và cho phép tỷ giá dao
động với biên độ hẹp.
Hiện nay, chế độ tỷ giá "bán thả nổi" hay "cố định bò trườn"
có nhiều tính ưu việt hơn và được nhiều nước sử dụng, đặc biệt là
các nước đang phát triển. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là "thả nổi" hay
"bò trườn" ở mức độ bao nhiêu nên gần với thả nổi hay gần với cố
định hơn? biên độ dao động là bao nhiêu? Rất khó để đưa ra một
câu trả lời chung cho mọi quốc gia mà phải tuỳ thuộc vào điều kiện

chúng ngoài phạm vi quốc gia.Thực tế, lựa chọn này giữ cho chính
sách quốc gia không bị ràng buộc quốc tế.Nói rộng hơn,lựa chọn cơ
chế hối đoái linh hoạt sẽ tach rời nền kinh tế quốc gia khỏi môi
trường quốc tế.
Thứ hai, chúng ta cần quan tâm đến mức độ linh hoạt của
các chính sách kinh tế đối nội.Mức độ này khác nhau rõ ràng giữa
việc lựa chọn nột trong hai loại chế độ tỷ giá.Vì tỷ giá cố định thể
hiện sự cam kết áp đặt các ràng buộc đối với các chính sách kinh tế
quốc gia, có nghĩa rằng không thể theo đuổi các chính sách kinh tế
đối nội một cách độc lập.Ngược lại,tỷ giá linh hoạt là một công cụ
có thể sử dụng để giữ cho các hoạt động kinh tế của hệ thống quốc
tế không ảnh hưởng tới các chính sách quốc gia.Vì vậy có thể theo
đuổi các chính sách quốc gia mà không cần quan tâm đến thế giới
bên ngoài và như vậy đặc thù của chúng là hệ thống đóng.

Trích đoạn Định hướng về điều hành chính sách tỷ giá của Một số giải pháp:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status