LỜI NÓI ĐẦU
Những thành tựu to lớn của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã và đang đẩy nhanh
sự phát triển của lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động làm chuyển biến mạnh mẽ cơ cấu kinh
tế của các quốc gia và làm thay đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hội loài người. Bước vào thế kỷ XXI,
trong các lĩnh vực chính trị, quân sự, kỹ thuật, văn hoá, giáo dục-đào tạo, môi trường … đều có những
biến đổi sâu sắc. Cùng với sự xuất hiện các cơ hội phát triển mới, nguy cơ tụt hậu về kinh tế, khoa học và
công nghệ thông tin … sẽ là những thách thức lớn đối với nhiều quốc gia trên thế giới.
Nhờ vận dụng nhanh chóng những thành tựu mới của khoa học công
nghệ, cũng như tận dụng có hiệu quả làn sóng đối với công nghệ, nhất là công
nghệ thông tin, công nghệ vật liệu, công nghệ sinh học … Cục diện hiện nay
của nhiều khu vực và nhiều nước trên thế giới đã có sự thay đổi về căn bản
trên quy mô toàn cầu, trong những năm đầu của thế kỷ XXI, nhiều nước đang
tiến nhanh vào kỷ nguyên thông tin, trong đó cơ cấu sản xuất và nền tảng của
sự tăng trưởng kinh tế ngày càng dựa vào việc nghiên cứu và ứng dụng những
thành tựu của khoa học công nghệ.
Khoa học-công nghệ luôn đóng vai trò quan trọng trong việc nắm bắt các
cơ hội phát triển mới, rút ngắn khoảng cách giữa các quốc gia, đẩy nhanh quá
trình hội nhập kinh tế khu vực và kinh tế thế giới và làm biến đổi nền sản
xuất, điều này kéo theo sự thay đổi lớn trong các lĩnh vực kinh doanh cũng
như trong quản lý của mỗi một đơn vị doanh nghiệp. Sự phát triển của khoa
học công nghệ cũng làm cho quá trình cạnh tranh giữa các doanh nghiệp và
các quốc gia trở nên khốc liệt. Điều này đòi hỏi các nhà quản lý kinh tế phải
có những chính sách phù hợp để phát triển nền sản xuất kinh doanh và thúc
đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện đại hoá phát triển mạnh.
Là một sinh viên chuyên ngành về quản lý, em rất tâm đắc với đề tài:
“Vai trò của khoa học công nghệ trong tiến trình CNH-HĐH ở việt
nam”. Nhưng do kiến thức và kinh nghiệm còn ít, sự nghiên cứu về đề tài còn
nhiều thiếu sót, kính mong các giảng viên giúp đỡ và sửa chữa những thiếu
sót hộ em để sau này em có thể nghiên cứu được những đề tài khác tốt hơn.
I.NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG NGHỆ:
1.Công nghệ là gì ?
thực tế. Yêu cầu chất lượng, xu thế phát triển của thị trường, sản phẩm là
nhân tố hạn chế sự lựa chọn. Đồng thời lựa chọn công nghệ lại bị ràng buộc
2
2
bởi quan hệ buôn bán trong nước và quốc tế, do đó vấn đề áp dụng công nghệ
vào quá trình phát triển kinh tế giải quyết một mục tiêu cụ thề là một tập hợp
các vấn đề cần tính toán và đồng bộ.
Bất cứ một công nghệ nào, dù công nghệ đơn giản hay công nghệ phức
tạp thì cũng đều được cấu thành từ 4 yếu tố cơ bản, bốn thành phần đó tác
động qua lại lẫn nhau và hợp thành một chính thể khoa học.
+Con người- đội ngũ lao động kỹ thuật vận hành điều khiển và quản lý
có kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm (Human ware - Viết tắt là H)
+Thiết bị máy móc, dụng cụ, phụ tùng. Đây là phần vật chất, phần cứng
của công nghệ được gọi là kỹ thuật (Techro ware - viết tắt là T)
+Thông tin dữ liệu, dữ kiện, thuyết minh kỹ thuật, đặc trưng kỹ thuật, tài
liệu hướng dẫn (Inforware- viết tắt là I)
+Quản lý là chỉ các hoạt động giữ mối liên kết trong phân bổ các nguồn
lực, thiết kế và thực thi các chính sách quản lý sản xuất và kinh doanh. Có thể
gọi đây là phần tổ chức của công nghệ (Orga ware - viết tắt là O)
Vậy trong 4 bộ phận cấu thành cơ bản đó thì con người đóng vai trò chủ
đạo trong quá trình vận hành và biến đổi công nghệ. Nhờ đó sử dụng tốt hơn
các nguồn lực, thiết bị là cốt lõi. Nhưng thiết bị lại do con người lắp đặt và
vận hành: thông tin là sự tích luỹ kiến thức. Khối lượng kiến thức càng tăng
càng đỏi hỏi công tác quản lý thông tin ngày càng cao; tổ chức là quá trình
điều phối thông tin. Nhận xét tổng thể lại, con người, thiết bị cùng với vật tư
tạo thành các nguồn lực cho sản xuất và kinh doanh, hay nói một cách khác
công nghệ được phân thành :
-Phần cứng là sản phẩm tồn tại ở dạng vật chất.
-Phần mềm là sản phẩm của trí tuệ, các bí quyết thông số, phương
pháp…
và những tư liệu lao động khác như ngọn lửa, một số động vật được thuần
dưỡng … Đây có thể xem như là sự khám phá tìm tòi. Nghiên cứu cùng như
là những phát minh của con người ở thủa còn sơ khai.
+Thứ hai: thời đại đồ đá, đây là một giai đoạn phát triển khá dài và được
phân rõ thành 2 giai đoạn:
-Thời đại đồ đá cũ
4
4
-Thời đại đồ đá mới
+Thứ ba: thời đại đồ đồng
+Thứ tư: thời đại đồ sắt
+Thứ năm: thời đại cơ khí hoá. Mở đầu bằng cuộc công nghệ công
nghiệp cuối thế kỷ 18 và được phát triển mạnh hơn cao hơn với việc ứng dụng
rộng rãi của điện khí hoá từ đầu thế kỷ 19.
Cuộc CM khoa học-kỹ thuật hay còn gọi là cuộc CM khoa học - công
nghệ. Khởi đầu từ những thập niên 50 của thế kỷ 20 với tên gọi này người ta
muốn nhấn mạnh đến sự kết nối trực tiếp từ những phát minh khoa học đến
những ứng dụng vào kỹ thuật công nghệ. Nếu trước đây từ những phát minh
khoa học đến những ứng dụng vào kỹ thuật công nghệ thường phải mất một
thời gian khá dài, có khi cả trăm năm, nghìn năm, thì ngày nay khoảng cách
đó được rút ngắn đi rất nhiều. Vào thời đại của C.Mác đã sớm nhận thấy xu
hướng ấy khi đưa ra nhận định : “Khoa học ngày trở thành lực lượng sản xuất
trực tiếp”
Ở Châu Âu, sau đêm dài trung cổ, nhiều ngành khoa học đã có bước phát
triển nhảy vọt trong 2 thế kỷ 17 và 18. Khởi đầu là toán học, thiên văn học,
vật lý học, hoá học, với những nhà bác học điển hình như :
-Galia (1564- 1642) là nhà thiên văn học người Italia. Người đầu tiên
dùng kính viễn vọng quan sát mặt trời, mặt trăng và các hành tinh. Ông nổi
tiếng về công lao chứng minh thuyết vũ trụ của Copernic, phát minh ra luật
quán tính, luật rơi tự do…
-Đèn điện (1878)
-Từ đầu thế kỷ XX, điện được ứng dụng rộng rãi vào sản xuất và vào
nhiều ngành kỹ thuật cơ khí hoá được phát triển và nâng cao nhờ Điện khí
hoá.
Tất cả những thành tựu về công nghệ đã dẫn đến kết quả làm cho lực
lượng sản xuất phát triển, năng suất lao động tăng cao. Nhờ đó mà loài người
chuyển từ phương thức sản xuất này lên phương thức sản xuất khác cao hơn,
chuyển từ nền văn minh này lên nền văn minh khác tiên tiến hơn.
6
6
Cuộc cách mạng công nghệ diễn ra nửa thế kỷ nay cũng đang gây ra
những biến đổi sâu sắc trong các lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất xã
hội, sản xuất tự động hoá ngày càng phát triển, năng suất lao động ngày càng
cao, sản phẩm dồi dào. Tỷ lệ lao động trí óc trong sản xuất tăng lên trong khi
tỉ lệ lao động chân tay giảm xuống, nảy sinh nạn thất nghiệp cơ cấu. Hợp chất
mới sáng tạo ra thay thế một số vật lực có sẵn trong thiên nhiên, tiết kiệm tài
nguyên, thiên nhiên, con người qua hạn hẹp mà thiên hiên đã ban tặng cho họ.
Xuất hiện một số ngành sản xuất mới trong khi một số ngành sản xuất cũ suy
thoái. Khoảng cách giữa những nước tiên tiến vốn có ưu thế về kỹ thuật-công
nghệ và phần lớn những Nước lạc hậu ngày càng doãng ra, lợi thế của một số
nước giàu tài nguyên thiên nhiên, giàu lao động giảm xuống. Xu thế toàn cấu
hoá nền kinh tế với sự kiên doanh kiên kết, đầu tư, chuyển giao công nghệ
ngày càng phát triển mạnh.
Ngày nay vị thế của công nghệ-kỹ thuật tế đã có vị trí xứng đáng trong
quỹ đạo của nền sản xuất-xã hội và nó cũng được xem như một chiến lược
phát triển lâu dài của mỗi một quốc gia.
2.Công nghệ điển hình:
*Công nghệ vật liệu mới
Trong vòng 40 năm trở lại đây, khoa học và công nghệ đã tạo ra được
các loại vật liệu đáp ứng được tất cả các yêu cầu trong mọi lĩnh vực hoạt động
thuật số (digital) tạo bước ngoặt trong lĩnh vực truyền tin, do các ưu việt:
-Độ tin cậy cao
-Số lượng truyền lớn.
-Tốc độ trao đổi nhanh.
Kỹ thuật số kết hợp với vật liệu quang truyền dẫn thông tin bằng Laze
trong cáp quang.
Tin học cùng viễn thông tạo ra ngành công nghiệp mới, công nghệ thông
tin qua các hoạt động lưu trữ và truyền số liệu điện tử (EDI) dẫn đến các hoạt
động như vay vốn chuyển vốn ngoại tệ, mua bán cổ phần, tìm chênh lệch giá
tín dụng, chứng khoán… Tạo ra một xã hội hoàn toàn mới trong thế kỷ XXI.
*Công nghệ sinh học
Công nghệ sinh học sử dụng các tác nhân sinh vật vào quá trình sản xuất,
có đặc trưng công nghiệp, sản xuất tư liệu sản xuất cho nó và các nành khác,
có quy mô sản xuất là tế bào trong lĩnh vực này có 4 khía cạnh cụ thể:
-Công nghệ Vi sinh
-Kỹ thuật enzim
9
9
-Kỹ thuật nuôi cấy tế bào
*Công nghệ tự động hoá
Tự động hoá là một quá trình trong sự phát triển sản xuất mà các chức
năng điều khiển và kiểm tra do máy móc và thiết bị tự động điều khiển, nhờ
tự động hoá quá trình sản xuất mà chất lượng sản phẩm hoàn hảo, năng suất
lao động cao và tránh được các nguy hiểm đối với con người.
Sự ra đời của máy tính điện tử đã làm thay đổi về chất của tự động hoá
và mở rộng nó ra không chỉ trong lĩnh vực sản xuất vật chất mà cả trong
thông tin, dịch vụ và quản lý, đưa các lĩnh vực này trở thành các ngành công
nghệ mũi nhọn trên phạm vi toàn thế giới.
Trong lĩnh vực sản xuất, các thành tựu của tự động hoá bao trùm lên tất
cả các ngành sản xuất, là cơ sở của các thành tựu trong lĩnh vực kỹ thuật cao:
năm
% của tổng
số
GDP thực tế 3,2 100
Đóng góp đầu vào
-Vốn
-Lao động
-Đất đai
1,1
0,5
0,6
0
34
15
19
0
Giáo dục và tiến bộ khoa học công nghệ 2,1 66
Nguồn: P.A.Samuelson và W.P.Nordhaus. Kinh tế học tập II-Học viện Quan hệ Quốc tế- Hà Nội
1989
Điều đó chứng tỏ vai trò quan trọng của khoa học công nghệ đối với tăng
trưởng kinh tế quốc gia.
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ ngày nay đã tạo ra thời cơ rất thuận
lợi để các nước đang phát triển nhanh chóng thực hiện Công nghiệp hoá đất
nước. Nhiều nhà kinh tế cũng dự báo rằng, trong giai đoạn tới “tương lai sẽ
phụ thuộc vào các quốc gia có tiềm năng ứng dụng”. Vì vậy, để nhanh chóng
rút ngắn thời gian Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa, các nước đang phát triển
phải quan tâm và khai thác tốt những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học
công nghệ, phát huy được lợi thế là các nước đi sau. Thực tế lịch sử cho thấy,
nước Anh cần 120 năm để Công nghiệp hoá, Mỹ và Tây Âu cần 60 năm, còn
các con rồng Châu Á chỉ mất 30 năm là hoàn thành. Trong tương lai sẽ hứa
“Khoa học là lĩnh vực nghiên cứu nhằm đưa ra những tri thức mới về tự nhiên, xã hội và tư duy”, còn
“kỹ thuật có thể hiểu là tổng hợp các tư liệu vật chất như công cụ lao động, năng lượng, vật liệu và phương
pháp do con người sáng tạo ra và được sử dụng trong quá trình lao động để tạo ra của cải vật chất cho xã
hội”.
Qua đó, chúng ta có thể thấy công nghệ có cái đồng nhất với kỹ thuật, song cái khác nhau cơ bản là kỹ
thuật chỉ nặng về phần cứng, còn công nghệ thì đi sâu vào phần mềm của quy trình. Hơn nữa công nghệ còn
bao gồm cả sự năng động trong nhận thức của con người để cải tiến quy trình sản xuất, đặc biệt là khả năng
chuyển giao công nghệ(CGCN) trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong
giai đoạn cách mạng Khoa học công nghệ hiện nay. Kỷ nguyên mà công nghệ thực sự trở thành nhân tố quyết
định khả năng cạnh tranh trên thị trường và tỷ lệ”phần mềm” có vị trí ngày càng quan trọng trong các quy
trình công nghệ sản xuất.
Theo quan điểm phổ biến hiện nay thì công nghệ gồm 4 thành phần cơ bản tác động qua lại lẫn nhau.
a.Hình thái vật chất của công nghệ
b.Thông tin: là các sơ đồ, bản vẽ, thuyết minh, dự án, mô tả sáng chế, chỉ dẫn kỹ thuật.. Phần thông tin rất
quan trọng, nó quyết định phần lớn sự thành công hay thất bại của hoạt động chuyển giao công nghệ. Nó
thường được tìm kiếm trong khoảng thời gian dài và được hoàn thiện trước khi kí hợp đồng chuyển giao
công nghệ.
c. Thiết chế: là cơ cấu tổ chức, quản lý, gồm sự liên hệ, bố trí sắp xếp, đào tạo đội ngũ.. cho các hoạt động
như phân chia nguồn lực, tạo mạng lưới, lập kế hoạch, kiểm tra, tiến hành.
12
12