Tài liệu Đề tài “ Một số giải pháp cao chất lượng cho vay dự án đầu tư tại Sở giao dịch1 ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam” - Pdf 98


Luận Văn
Đề Tài: Một số giải pháp cao chất lượng cho
vay dự án đầu tư tại Sở giao dịch1 ngân hàng
Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
NguyÔn ViÖt Hïng NH- 41D - 1 -

7.1.2 Năng lực của ngân hàng trong việc thẩm định dự án, thẩm định khách
hàng 33
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
NguyÔn ViÖt Hïng NH- 41D - 2 -
7.1.3 Năng lực giám sát và sử lý các tình huống cho vay của ngân hàng 34
7.1.4 Chính sách tín dụng ngân hàng 35
7.1.6 Công nghệ ngân hàng 36
7.2 Nhóm nhân tố thuộc khách hàng 36
7.2.1 Nhu cầu đầu tư 36
7.2.2 Khả năng của khách hàng trong việc đáp ứng yêu cầu của ngân hàng 37
7.2.3 Khả năng của khách hàng trong việc quản lý sử dụng vốn vay 39
7.3 Nhóm nhân tố thuộc môi trường 40
7.3.1 môi trương tự nhiên 40
7.3.2 Môi trường kinh tế 40
7.3.3 Môi trường chính trị xã hội 41
7.3.4 Môi trường pháp lý 41
7.3.5 Sự quản lý của nhà nước và các cơ quan chức năng 41
Chương 2. Thực trạng cho vay dự án đầu tư tại SGDI- BIDV 43
1. Khái quát chung về BIDV và SGDI 43
1.1 BIDV 43
1.2 Chức năng nhiệm vụ và mô hình tổ chức 45
1.3 Sở giao dịch 1 46
2. Một số hoạt động chủ yếu của SGDI 51
2.1 Hoạt động huy động vốn 53
2.2 Hoạt động tín dụng 55
2.3 Hoạt động dịch vụ 57
3. Thực trạng cho vay dự án tại Sở 58
3.1 Tình hình cho vay 58
3.1.1 Nền khách hàng tiền vay 59
3.1.2 Doanh số cho vay 62

Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
NguyÔn ViÖt Hïng NH- 41D - 4 -

Lời mở đầu
Thực tế chứng minh rằng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là quá
trình tất yếu nhằm đưa Việt Nam từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở thành
một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, quan hệ sản xuất
hợp lý phù hợp với lực lượng sản xuất làm cơ sở để xây dựng một đất nước
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Thực hiện nhiệm vụ đó,
những năm qua, nhất là sau hơn 10 năm “Đổi mới” chúng ta đã thu được
nhiều thành công bước đầu. Từ một nước có nền sản xuất nông nghiệp lạc
hậu, phải nhập khẩu lương thực, đã trở thành một trong ba quốc gia xuất khẩu
gạo đứng đầu thế giới. Cùng với ngành nông nghiệp các ngành, các lĩnh vực
khác như công nghiệp, ngoại thương, du lịch, ngoại giao cũng đạt được
những thành công nhất định góp phần đưa Việt Nam từ một nước có tốc độ
tăng trưởng kinh tế chậm, tỷ lệ lạm phát cao thành một nước có tốc độ tăng
trưởng kinh tế khá và ổn định, tỷ lệ lạm phát ở mức thấp, ngày càng có vị thế
trong khu vực và trên trường quốc tế. Từ đó cho thấy hướng đi và bước đi của
chúng ta là đúng đắn, tạo thế và lực mới cho một thời kỳ phát triển cao hơn.
Xu hướng quốc tế hoá cùng điều kiện cụ thể riêng đã tạo cho Việt Nam
nhiều cơ hội tiếp cận trình độ khoa học công nghệ cả về mặt kỹ thuật và quản
lý Tuy nhiên để đạt được mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đưa đất
nước tiến lên xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội thì vẫn còn rất nhiều thử
thách cần phải vượt qua. Trong giai đoạn đầu thực hiện CNH-HĐH nhiệm vụ
chủ yếu được xác định là tập trung các nguồn lực xây dựng và phát triển cơ sở
vật chất kỹ thuật, đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ, máy móc thiết bị,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp lạc hậu sang nền kinh tế hiện đại
với cơ cấu công- nông nghiệp, dịch vụ hợp lý, phát triển sản xuất trong nước
theo cả chiều rộng và chiều sâu. Để đáp ứng cho nhu cầu đầu tư đó chủ yếu
vẫn phải dựa vào nguồn vốn tín dụng trung và dài hạn từ hệ thống ngân hàng

NguyÔn ViÖt Hïng NH- 41D - 6 -
tư.
* Chương 2. Thực trạng cho vay dự án đàu tư tại SGD1 Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.
* Chương 3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động cho vay dự án đầu tư tại SGD1.
Do kiến thức và kinh nghiệm thực tế còn nhiều hạn chế nên những khía
cạnh mà đề tài đề cập tới trong chuyên đề không thể tránh khỏi những sai sót.
Với tinh thần thực sự cầu thị, em mong rằng sẽ nhận được những góp ý, chỉ
bảo của các thầy cô, anh chị đang công tác trong ngành ngân hàng để em có
thể nâng cao trình độ lý luận cũng như nhận thức của mình.
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS. Trần Thị Hà
người đã trực tiếp hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện đề tài, cùng
các anh chị cán bộ Phòng tín dụng1 sở giao dịch BIDV đã tận tình giúp đỡ
trong thời gian thực tập tại đây.
Hà Nội, ngày 21 tháng 4 năm 2003.
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
NguyÔn ViÖt Hïng NH- 41D - 7 -
chương1:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ CHO VAY DỰ ÁN
ĐẦU TƯ.
1. Sự cần thiết phải tiến hành các hoạt động đầu tư theo dự án
Hoạt động đầu tư (gọi tắt là đầu tư) là quá trỡnh sử dụng cỏc nguồn lực
về tài chớnh, lao động, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác
nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các
cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế nói chung, của địa phương, của ngành,
của các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ, các cơ quan quản lý nhà nước và
xó hội núi riờng.
Hoạt động đầu tư trực tiếp tái sản xuất cơ sở vật chất kỹ thuật nói trên
được gọi là đầu tư phát triển. Đó là một quá trỡnh cú thời gian kộo dài trong

lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và
cấu trúc hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ, bồi
dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện chi phí thường xuyên gắn liền với sự
hoạt động của các tài sản này nhằm duy trỡ tiềm lực hoạt động của các cơ sở
đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế - xó hội, tạo việc làm và nõng
cao đời sống mọi thành viên trong xó hội.
Hoạt động đầu tư phát triển có các đặc điểm khác biệt với cỏc loại hỡnh
đầu tư khác là :
- Hoạt động đầu tư phát triển đũi hỏi một số vốn lớn và để nằm khê đọng
trong suốt quá trỡnh thực hiện đầu tư, đây là cái giá phải trả khá lớn của
đầu tư phát triển.
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
NguyÔn ViÖt Hïng NH- 41D - 9 -
- Thời gian để tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khi các thành quả
của nó phát huy tác dụng thường đũi hỏi nhiều năm tháng với nhiều khả
năng xảy ra biến động.
- Thời gian cần hoạt động để có thể thu hồi vốn đó bỏ ra đối với các cơ
sử vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất kinh doanh thường đũi hỏi nhiều
năm tháng và do đó không tránh khỏi sự tác động hai mặt tích cực và
tiêu cực của các yếu tố không ổn định về tự nhiên, xó hội, chớnh trị,
kinh tế
- Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển có giá trị sử dụng lâu dài
nhiều năm, có khi hàng trăm, hàng ngàn năm và thậm chí tồn tại vĩnh
viễn như các công trỡnh kiến trỳc nổi tiếng thế giới ( Kim tự thỏp cổ Ai
Cập, Nhà thờ La Mó, Vạn Lý Trường Thành, Ăngco vát ). Điều này
nói lên giá trị lớn lao của các thành quả đầu tư phát triển.
- Các thành quả của hoạt động đầu tư là cỏc cụng trỡnh xõy dựng sẽ hoạt
động ở ngay nơi mà nó được tạo dựng nên. Do đó các điều kiện địa
hỡnh tại đó có ảnh hưởng lớn đến quá trỡnh thực hiện đầu tư và cũng
như tác dụng sau này của các kết quả đầu tư.

3.2.1. Theo cơ cấu tái sản xuất.
Dự án đầu tư được phân thành dự án đầu tư theo chiều rộng và dự án
đầu tư theo chiều sâu. Trong đó đầu tư chiều rộng có vốn lớn để khê đọng lâu,
thời gian thực hiện đầu tư và thời gian cần hoạt động để thu hồi đủ vốn lâu,
tính chất kỹ thuật phức tạp, độ mạo hiểm cao. Cũn đầu tư theo chiều sâu đũi
hỏi khối lượng vốn ít hơn, thời gian thực hiện đầu tư không lâu và độ mạo
hiểm ít hơn so với đầu tư theo chiều rộng.
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
NguyÔn ViÖt Hïng NH- 41D - 11 -
3.2.2. Theo lĩnh vực hoạt động trong xó hội của dự ỏn đầu tư
Có thể chia thành dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, dự án
đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng ( kỹ
thật và xó hội ) Hoạt động của các dự án đầu tư này có quan hệ tương hỗ lẫn
nhau. Chẳng hạn các dự án đầu tư phát triển khoa học và cơ sở hạ tầng tạo
điều kiện cho các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả
cao, đến lượt mỡnh cỏc dự ỏn đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh lại tạo
tiềm lực cho các dự án đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, cơ sở hạ tầng và
các dự án đầu tư khác.
3.2.3. Theo giai đoạn hoạt động của các dự án đầu tư trong quá
trỡnh tỏi sản xuất xó hội
Có thể phân loại các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh thành
dự án đầu tư thương mại và dự án đầu tư sản xuất :
- Dự án đầu tư thương mại là loại dự án có thời gian thực hiện đầu tư và
hoạt động của các kết quả đầu tư để thu hồi vốn đầu tư ngắn, tính chất
bất định không cao lại dễ dự đoán với độ chính xác cao.
- Dự án đầu tư sản xuất là loại dự án có thời gian hoạt động dài hạn ( 5,
10, 20 năm hoặc lâu hơn ) vốn đầu tư lớn, thu hồi chậm, độ mạo hiểm
cao, tính chất kỹ thật phức tạp, chịu tác động của nhiều yếu tố bất định
trong tương lai không thể dự đoán hết cũng như dự đoán chính xác ( về
nhu cầu, giá cả đầu vào và đầu ra, cơ chế chính sách, tốc độ phát triển

Việc phõn loại này cho thấy tỡnh hỡnh huy động vốn từ mỗi nguồn và
vai trũ của mỗi nguồn đối với sự phát triển kinh tế - xó hội của từng ngành,
từng địa phương và toàn bộ nền kinh tế.
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
NguyÔn ViÖt Hïng NH- 41D - 13 -
3.2.7. Theo vựng lónh thổ (theo tỉnh, theo vựng kinh tế)
Cỏch phõn loại này cho thấy tỡnh hỡnh đầu tư của từng vùng kinh tế,
từng tỉnh và ảnh hưởng của đầu tư đối với tỡnh hỡnh phỏt triển kinh tế xó hội
ở từng địa phương.
Ngoài ra, trong thực tế để đáp ứng yêu cầu quản lý và nghiờn cứu kinh
tế, người ta cũn phõn chia dự ỏn đầu tư theo quan hệ sở hữu, theo quy mụ và
nhiều tiờu thức khỏc.
4. Cho vay dự án đầu tư
Cho vay dự án đầu tư là một dạng cho vay trung và dài hạn chủ yếu
nhất của các ngân hàng thương mại. Đó là việc các ngân hàng thương mại hỗ
trợ các khách hàng có đủ nguồn lực tài chính thực hiện các dự định đầu tư mà
thời gian thu hôi vốn đầu tư vượt quá 12 tháng.
4.1. Dự án đầu tư xin vay
Dự án đầu tư của khách hàng là một bộ phận quan trọng trong tổng thể
các dự án đầu tư của nền kinh tế quốc dân. Quy mô của chúng có thể lớn hay
nhỏ tuỳ thuộc vào mục tiêu đầu tư của chúng. Tuy nhiên, mỗi dự án đầu tư của
khách hàng phải là một công trỡnh nghiờn cứu khoa học cú mục tiờu cụ thể và
cú tớnh khả thi cao, đưa ra được những luận chứng kinh tế - kỹ thuật xác
đáng, nêu lên một cách cụ thể lượng vốn đầu tư cần có, các nguồn tài chính bù
đắp thích hợp, đề xuất được những giải pháp thực hiện dự án tối ưu.
Dự án đầu tư xin vay của các ngân hàng thương mại ngoài những tố
chất chung trên đây cũn cần thờm đặc trưng sinh lời phù hợp với chính sách
phát triển kinh tế - xó hội và phỏp luật của Nhà nước.
4.2.Quy trình cho vay dự án đầu tư
Giống như cho vay ngắn hạn, chu kỳ cho vay dự án đầu tư đối với các

Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
NguyÔn ViÖt Hïng NH- 41D - 15 -
thẩm định dự án đầu tư xin vay, ngân hàng phải thông báo bằng văn bản trong
thời hạn quy định để khách hàng vay kịp thời đến ngân hàng lập hồ sơ nhận
nợ. Trường hợp từ chối phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do để khách
hàng biết.
Hồ sơ thụ lý cho vay dự án đầu tư của khách hàng chính là hợp đồng tín
dụng được ký kết giữa ngân hàng cho vay và khách hàng. Trong hợp đồng này
phải xác định rõ đối tượng vay, mức vay, thời hạn vay, lãi xuất, kế hoách trả
nợ, bảo đảm tiền vay, quyền và nghĩa vụ của bên cho vay
Dựa vào mức cho vay ghi trên hợp đồng tín dụng ngân hàng cho vay tổ
chức việc giải ngân, tức là phát tiền vay để khách hàng vay sử dụng tiền vay
vào việc thực thi dự án đầu tư xin vay.
Tiền cho vay được ngân hàng cho vay phát ra theo tiến độ thực hiện dự
án đầu tư xin vay, được phản ánh kịp thời và chính xác vào tài khoản cho vay,
khế ước vay nợ và các chứng từ hợp lệ khác.
Ngân hàng cho vay theo dõi chặt chẽ tiến độ thực hiện dự án đầu tư xin
vay cho đến khi dự án đầu tư kết thúc và các công trình của dự án được đưa
vào thực hiện có hiệu quả, khách hàng vay trả xong nợ cho ngân hàng cho vay
kể cả nợ gốc và lãi.
4.3.Sự cần thiết của việc cho vay các dự án đầu tư
Xét về mặt bản chất, việc cho vay dự án đầu tư đã làm nảy sinh một mối
quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng, mối quan hệ này chỉ được
hình thành trên cơ sở sự thoả thuận giữa các bên dựa trên nguyên tắc cùng có
lợi. Như vậy có thể nói việc tham gia vào quan hệ tín dụng này là hoàn toàn tự
nguyện và nó đem lại lợi ích cho cả đôi bên. Mặt khác, ngân hàng và các
doanh nghiệp (những khách hàng thường xuyên và chủ yếu) là hai chủ thể
quan trọng hàng đầu trong nền kinh tế quốc dân, việc nâng cao chất lượng,
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
NguyÔn ViÖt Hïng NH- 41D - 16 -

ngân hàng và ngân hàng đã cho họ vay vẵn là sự lựa chọn được ưu tiên nhất.
Đối với doanh nghiệp: Trong mỗi nền kinh tế nhu cầu vay vốn của các
doanh nghiệp luôn là một đòi hỏi cấp bách. Các doanh nghiệp mới được thành
lập thì cần vốn để xây dựng cơ sở vật chất; nhà xưởng; kho bãi , mua sắm tài
sản cố định và đáp ứng một phần vốn lưu động. Các doanh nghiệp đang hoạt
động thì luôn có nhu cầu đổi mới trang thiết bị; nâng cao trình độ khoa học,
công nghệ; tăng năng lực cạnh tranh; mở rộng sản xuất khi gặp cơ hội thuận
lợi. Đặc biệt khi các cơ hội đầu tư có khả năng mang lại hiệu quả kể cả trong
thời điểm trước mắt cũng như lâu dài thì một nguồn vốn lớn và ổn định sẽ trở
nên hết sức cần thiết. Tín dụng ngân hàng luôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu cấp
thiết ấy bởi nó có những uy điểm mà các nguồn vốn khác như phát hành cổ
phiếu, trái phiếu không có được.
- Trước hết việc sử dụng nguồn vốn tín dụng ngân hàng cho phếp mở
rộng quy mô sản xuất trong khi vẫn đảm bảo quyền kiểm soát đối với
doanh nghiệp của mình. Điều này sẽ không thể có được nếu nhà kinh
doanh thực hiện biện pháp phát hành cổ phiếu để huy động vốn, khi đó
quyền lực sẽ được san sẻ cho các cổ đông mới. Việc huy động bằng
phát hành trái phiếu có thể khắc phục được nhược điểm này song lại
vấp phải một vấn đề quan trọng khác đó là sự kém linh hoạt, khi cơ hội
kinh doanh xuất hiện đòi hỏi doanh nghiệp phải nhanh chóng chớp lấy
song việc phát hành trái phiếu đòi hỏi nhiều thủ tục và điều kiện khắt
khe nên mất nhiều thời gian và có thể để lỡ mất cơ hội tốt. Tất cả các
vấn đề trên có thể được khắc phục nếu doanh nghiệp sử dụng nguồn
vốn tín dụng ngân hàng.
- Một ưu điểm nữa của nguồn vốn tín dụng ngân hàng so với việc phát
hành cổ phiếu và trái phiếu là khi sử dụng nguồn vốn này doanh nghiệp
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
NguyÔn ViÖt Hïng NH- 41D - 18 -
sẽ tránh được các chi phí phát sinh như : chi phí phát hành; chi phí bảo
lãnh; đăng ký chứng khoán Hơn nữa, có những doanh nghiệp, nhất là

ứng nhu cầu đổi mới trang thiết bị, công nghệ, mở rộng hoạt động sản xuất
kinh doanh; Trong khi đó nguồn vốn cấp phát từ ngân sách lại khá hạn hẹp và
phải đầu tư dàn trải trên nhiều lĩnh vực; Các hình thức huy động vốn đầu tư
trực tiếp vào các doanh nghiệp lại vẫn còn mới lạ đối với đại bộ phận công
chúng
4.4.Thẩm định dự án đầu tư xin vay
Thẩm định dự án đầu tư là một mắt xích quan trọng trong quy trình cho
vay dự án đầu tư. Thực chất của nó là dùng một số kỹ thuật phân tích, đánh
giá toàn bộ các vấn đề, các phương tiện trình bày trong dự án theo một số tiêu
chuẩn kinh tế kỹ thuật và theo một trình tự hợp lý chặt chẽ nhằm rút ra những
kết luận chính xác về giá trị của dự án, từ đó quyết định cho vay đúng mức,
chắc chắn mang lại hiệu quả kinh tế dự định.
Đối với các ngân hàng thương mại việc thẩm định các dự án đầu tư xin
vay có thể dựa vào kết quả thẩm định của các tổ chức thẩm định chuyên
nghiệp nhà nước hay dân lập. Trong trường hợp này, trách nhiệm của ngân
hàng là phải có khả năng đánh giá chất lượng thẩm định dự án được thực hiện
bởi một tổ chức thẩm định nào đó.
Trong trường hợp dự án đầu tư xin vay cỡ vừa và nhỏ, thời hạn thu hồi
vốn không quá 5 năm, ngân hàng phải tự thực hiện thẩm định dự án đầu tư xin
vay. Dù tái thẩm định hay tự thẩm định thì ngân hàng cũng đều cần đến đội
ngũ cán bộ tín dụng đủ năng lực đánh giá dự án đầu tư xin vay và từ đó đưa ra
kết luận chấp nhận hay từ chối tài trợ đối với dự án đầu tư xin vay.
Muốn thẩm định hay tái thẩm định một dự án đầu tư xin vay có kết quả
mong muốn phải tuân thủ quy trình thẩm định, nghĩa là phải đi từ khâu thu
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
NguyÔn ViÖt Hïng NH- 41D - 20 -
thập thông tin cần thiết cho việc đánh giá dự án đầu tư, xử lý thông tin bằng
những phương pháp thẩm định nhất định và đi đến những kết quả cụ thể và
xác đáng được ghi trong tờ trình thẩm định dự án đầu tư.
Xét về nội dung thẩm định dự án, người ta thường thực hiện thẩm định

tao; các chỉ tiêu tương tự của các công trình cùng loại của nước ngoài;
các văn bản pháp lý có liên quan.
- Phương pháp phân tích độ nhậy của dự án đầu tư: Dựa vào một số tình
huống bất trắc có thể xảy ra trong tương lai và những tác động của
chúng đến các chỉ tiêu hiệu quả, như sự vượt quá chi phí đầu tư ban
đầu, sản lượng đạt thấp so với dự kiến, giá đầu vào tăng, giá tiêu thụ sản
phẩm giẩm mà xác định độ sai lệch an toàn cho phép dự án đầu tư vẫn
có hiệu quả, nếu không thì phải áp dụng những giải pháp khắc phục hay
hạn chế.
- Phương pháp hạn chế rủi ro: Lượng định một số rủi ro có thể xảy ra và
những giải pháp hạn chế thích hợp thuộc giai đoạn thi công thực hiện và
vận hành dự án đầu tư.
4.5.Hợp đồng tín dụng
Hợp đồng tín dụng hay còn gọi là hợp đồng cho vay là một văn bản
được ký kết giữa người ngân hàng cho vay và người đi vay- chủ dự án đầu tư.
Nó ghi nhận những thoả thuận giữa bên cho vay và bên vay về đối tượng cho
vay, mức cho vay và thời gian vay, bảo đảm nợ vay. Nó là một căn cứ pháp lý
quan trọng để thực hiện một dịch vụ cho vay dự án đầu tư.
Trước hết, trong hợp đồng phải thoả thuận một cách cụ thể đối tượng
cho vay. Đó là các chi cấu thành tổng mức đầu tư của dự án như giá trị vật tư,
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
NguyÔn ViÖt Hïng NH- 41D - 22 -
máy móc thiết bị, giá trị công nghệ chuyển giao, giá trị sáng chế và phát minh,
chi phí nhân công. giá thuê chuyển nhượng đất đai, giá thuê mua các tài sản
khác, chi phí mua bảo hiểm các tài sản thuộc dự án đầu tư xin vay và các chi
phí khác. Những chi phí trên đây có thể quy lại thành 3 nhóm là nhóm chi phí
xây lắp, nhốm chi phí thiết bị và nhóm những chi phí khác.
Thứ hai: Trong hợp đồng tín dụng phải ghi rõ mức cho vay dự án đầu tư
xin vay. Nó được xác định một cách tổng quát là mức cho vay một dự án đầu
tư thì bằng hiệu số giữa tổng mức đầu tư của dự án và phần vốn của bên vay

vốn mà ngân hàng có được. Nghĩa là cơ cấu cho vay phải phù hợp với cơ cấu
nguồn vốn, các khoản cho vay dự án đầu tư cần phải được hình thành nên từ
những nguồn vốn ổn định và có thời gian dài tương ứng. Theo nguyên tắc đó
thì nguồn vốn cho vay dự án đầu tư bao gồm: Vốn tự có của ngân hàng thương
mại; vốn huy động dưới hình thức tiền gửi trung dài hạn kể cả một phần vốn
huy động ngắn hạn; vốn uỷ thác của Chính phủ và các tổ chức trong và ngoài
nước; vay nước ngoài; vay từ ngân hàng trung ương Mỗi nguồn vốn trên lại
có những ưu nhược điểm và tuỳ từng điều kiện cụ thể mà các ngân hàng
thương mại sẽ quyết định sử dụng nguồn vốn nào thích hợp nhất đối với mình.
Nguồn vốn tự có của ngân hàng là nguồn ổn định nhất tuy nhiên khối
lượng của nó lại không lớn; nguồn tiền gửi trung và dài hạn cũng không đáng
kể do không nhiều khách hàng sử dụng loại hình tiền gửi này của các ngân
hàng thương mại; phát hành trái phiếu lại có chi phí cao hơn so với tiền gửi
cùng số lượng; vốn vay từ ngân hàng trung ương cũng bị hạn chế và phụ thuộc
vào chính sách tiền tệ quốc gia (thông thường NHTW chỉ cho các NHTM vay
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
NguyÔn ViÖt Hïng NH- 41D - 24 -
ngắn hạn, thậm chí trong trường hợp NHTW đang có chủ trương thắt chặt tiền
tệ thì các NHTM còn không được vay); việc sử dụng một phần vốn huy động
ngắn hạn để cho vay đối với các dự án đầu tư là một trong những phương án
khả thi song để tránh những rủi ro có thể xảy ra những người làm công tác
quản trị ngân hàng cũng cần phải tính toán tỷ lệ trích chuyển. Trong điều kiện
hiện nay, hình thức vay nợ nước ngoài để cho vay dự án được khá nhiều ngân
hàng trên thế giới dặc biệt là ở các nước đang phát triển sử dụng (ưu điểm của
nguồn vốn này là khối lượng lớn, lãi suất lại thường được ưu đãi, hơn nữa
điều kiện cho vay lại không quá khó khăn) tuy nhiên nếu việc quản lý, sử
dụng nguồn vốn này không được thực hiện tốt dẫn đén không hoàn trả được
vốn vay thì sẽ làm mất uy tín đồng thời tăng sự phụ thuộc của các ngân hàng
trong nước vào ngân hàng và các tổ chức tài chính tín dụng nước ngoài.
6. Chất lượng cho vay dự án đầu tư.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status