Tìm hiểu thực trạng công tác tự bồi dưỡngcủa giáo viên tiểu học hiện nay - Pdf 98

Tìm hiểu thực trạng công tác tự bồi dưỡng
của giáo viên tiểu học hiện nay
Vũ Thị Thu Huyền
GV trường Cán bộ quản lý giáo dục TPHCM,
số 7 Nguyễn Bỉnh Khiêm, quận 1, TPHCM
ĐT 0983855972, email:
Đội ngũ giáo viên được xem là một trong những nhân tố then chốt ảnh hưởng
đến chất lượng giáo dục trong nhà trường phổ thông. Có thể nói rằng, chất lượng của
đội ngũ nhà giáo có ý nghĩa quan trọng góp phần đảm bảo chất lượng học sinh. Bồi
dưỡng và phát triển đội ngũ nhà giáo đáp ứng yêu cầu hiện tại và chuẩn bị cho những
đòi hỏi thách thức trong tương lai là nhiệm vụ trọng tâm của quá trình quản lý nhà
trường. Trong đó hoạt động tự bồi dưỡng giữ vị trí then chốt nhằm hoàn thiện và phát
triển khả năng nghề nghiệp của giáo viên. Tự bồi dưỡng là quá trình lâu dài, phức tạp,
chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau. Để thực hiện tốt yêu cầu, đòi hỏi của nhà
trường và xã hội về việc nâng cao chất lượng dạy học, giáo dục trong các cơ sở giáo
dục hiện nay, đội ngũ giáo viên tiểu học không ngừng nỗ lực học tập, rèn luyện phẩm
chất đạo đức, bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp cần thiết. Bài viết này tìm
hiểu về thực trạng hoạt động tự bồi dưỡng của giáo viên tiểu học và một số giải pháp
nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động tự bồi dưỡng giáo viên của hiệu trưởng trường tiểu
học hiện nay.
1. Nhận thức của giáo viên tiểu học về hoạt động tự bồi dưỡng
Qua tìm hiểu thực trạng công tác tự bồi dưỡng của giáo viên (GV) tiểu học một
số tỉnh thành phía Nam, tiến hành hỏi ý kiến cán bộ quản lý (CBQL) và GV một số
trường tiểu học (Cụ thể: Trong tổng số 900 người tham gia khảo sát, có 74 người
(chiếm tỷ lệ 8.2%) là hiệu trưởng; 222 người (chiếm tỷ lệ 24.7%) là phó hiệu trưởng;
159 người (chiếm tỷ lệ 17.7%) là tổ khối trưởng, và 445 người (chiếm tỷ lệ 49.3%) là
giáo viên), người viết thu được kết quả như sau:
Đa số GV tiểu học hiện nay đều đạt trình độ đào tạo đạt chuẩn trở lên, có phẩm
chất đạo đức tốt và uy tín với đồng nghiệp. Đó là nền tảng ban đầu giúp GV thực hiện
hiệu quả nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục học sinh tiểu học. Trong số 849 phiếu khảo
sát có thông tin, có 88.2% ý kiến (749 phiếu) cho rằng, việc tự bồi dưỡng chuyên môn

- Có các văn bản chỉ đạo của các ngành, các cấp về công tác bồi dưỡng, phát
triển đội ngũ nhà giáo thông qua những chính sách ưu đãi, tạo điều kiện tốt cho nhà
giáo trong việc bồi dưỡng, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
- Sự phát triển của khoa học công nghệ và việc ứng dụng rộng rãi internet vào
các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực giáo dục đã góp phần tạo điều
kiện cho GV ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào hoạt động nghề nghiệp để mở
mang tầm nhìn, nâng cao trình độ tay nghề cho bản thân. Hiện nay, hầu hết các trường
đã trang bị máy tính, kết nối internet, các thiết bị dạy học hiện đại đồng thời tổ chức cho
GV ứng dụng trang thiết bị hiện đại vào hoạt động dạy học. Điều này cũng thể hiện sự
quan tâm của nhà trường trong việc hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho GV trong quá
trình công tác cũng như trong việc tự bồi dưỡng.
+ Khó khăn
Ngoài những thuận lợi nêu trên, qua trao đổi ý kiến một số CBQL và GV tiểu
học cho thấy vẫn còn tồn tại một số khó khăn với nguyên nhân và mức độ khác nhau,
trong đó khó khăn GV thường gặp là: nội dung bồi dưỡng không phù hợp, chưa có kế
hoạch tự bồi dưỡng, GV thiếu thông tin, tài liệu tham khảo, thời gian tự bồi dưỡng ít…;
có GV chia sẻ rằng do thiếu sự định hướng dẫn dắt của các cấp quản lý nên hiệu quả tự
2
bồi dưỡng không cao. Để làm sáng tỏ hơn những khó khăn này, người viết phân tích ý
kiến thu được từ phiếu khảo sát và đánh giá theo thang đo các mức độ từ thấp đến cao
(1- không khó khăn; 2- ít khó khăn; 3- khá khó khăn; 4- khó khăn nhiều; 5- rất khó
khăn), đã thu được số liệu cụ thể trong bảng dưới đây:
Bảng 1. Kết quả khảo sát về khó khăn của GV trong công tác tự bồi dưỡng
TT Khó khăn Mức độ khó khăn (%) Mean
1 2 3 4 5
1 Chưa có kế hoạch tự bồi dưỡng 0 32.1 33.9 21.7 12.3 3.142
2 Nội dung bồi dưỡng không phù hợp,
chồng chéo
0 24.0 32.2 24.8 19.0 3.388
3 Thiếu sự định hướng và giám sát của

nội dung bồi dưỡng phù hợp với nhu cầu của bản thân và đáp ứng đòi hỏi của công
3
việc. Một số GV do hoàn cảnh gia đình khó khăn, ngoài thời gian dạy học trên lớp,
hoàn thiện hồ sơ chuyên môn, còn phải làm thêm các công việc khác để cải thiện kinh
tế, chăm sóc gia đình nên thường không dành thời gian nghiên cứu tìm hiểu tài liệu.
Một số ít GV có tình trạng sức khỏe kém, lớn tuổi nên có tư tưởng an phận thủ thường,
ngại học, ngại tìm kiếm tài liệu hay cập nhật thông tin phục vụ cho việc nâng cao trình
độ chuyên môn nghiệp vụ của bản thân.
Về phía nhà trường: qua trao đổi với CBQL và GV về quản lý hoạt động tự bồi
dưỡng cho thấy tại một số trường tiểu học, công tác quản lý, giám sát của hiệu trưởng
đối với hoạt động tự bồi dưỡng của GV chưa được quan tâm đúng mức. Nhiều trường
do điều kiện khó khăn nên chưa đầu tư cơ sở vật chất, thư viện, trang thiết bị và tài liệu
tham khảo phục vụ cho hoạt động tự bồi dưỡng tại trường của GV. Có trường mặc dù
quan tâm tạo điều kiện nhưng vẫn chưa đáp ứng một số nhu cầu của GV trong quá trình
tự bồi dưỡng. Ví dụ như: nhà trường chưa định hướng việc lựa chọn nội dung bồi
dưỡng phù hợp, chưa tổ chức đánh giá kết quả và rút kinh nghiệm trong công tác tự bồi
dưỡng của GV, do vậy hiệu quả hoạt động tự bồi dưỡng của GV còn hạn chế.
3. Nội dung tự bồi dưỡng của GV tiểu học
Kết quả thu được qua xử lý số liệu thông kê từ các phiếu hỏi ý kiến CBQL và
GV về sự cần thiết của các nội dung tự bồi dưỡng như sau:
(Thang đo các mức độ của sự cần thiết như sau: 1- không cần thiết; 2- ít cần
thiết; 3- tương đối cần thiết; 4 - cần thiết; 5 - rất cần thiết)
Bảng 2. Kết quả khảo sát sự cần thiết của nội dung tự bồi dưỡng
TT Nội dung tự bồi dưỡng
Mức độ cần thiết (%)
Mean
Std.
Deviation
1 2 3 4 5
1 Kiến thức pháp luật 0.7 5.5 6.7 46.0 41.1 4.213 .8473

4
12 Kỹ năng sống 0.4 1.2 2.8 37.6 58.0 4.518 .6484
Kết quả bảng 2 về sự cần thiết của nội dung tự bồi dưỡng, các đối tượng được
hỏi ý kiến (GV và CBQL) đều đánh giá khá cao tính cần thiết (từ mức độ cần thiết trở
lên).
Trong số những nội dung tự bồi dưỡng nêu trên, nội dung tự bồi dưỡng về kỹ
năng tổ chức thực hiện các hoạt động dạy học trên lớp (diễn đạt, đặt câu hỏi, trình bày
bảng, lựa chọn sử dụng đồ dùng, phương tiện phương pháp dạy học) được đa số ý kiến
đánh giá rất cần thiết với tỷ lệ cao (chiếm 69.2%), tiếp theo là nội dung bồi dưỡng kiến
thức các môn học ở bậc tiểu học (68.4%). Những nội dung như: kiến thức tâm lý giáo
dục học lứa tuổi tiểu học (65.8%), kỹ năng lập kế hoạch dạy học, soạn giáo án theo
hướng đổi mới (65.1%) cũng được đa số đối tượng khảo sát xếp ở mức độ rất cần thiết.
Điều đó chứng tỏ rằng, những nội dung liên quan đến kiến thức chuyên môn, kỹ năng
dạy học và kiến thức về đối tượng học sinh là những nội dung quan trọng và cần được
trau dồi thường xuyên nhằm phục vụ cho hoạt động dạy học của GV tiểu học.
Tuy nhiên, với nội dung tự bồi dưỡng như: kiến thức về chính trị, kinh tế, văn
hóa, xã hội của đất nước, của địa phương; kiến thức, kỹ năng tin học; kiến thức, kỹ
năng ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc thiểu số (theo yêu cầu dạy học, giáo dục) thì tỷ lệ đối
tượng khảo sát (CBQL và GV) đánh giá ở mức độ rất cần thiết là khá thấp, với tỷ lệ lần
lượt là: 31,6%; 28.8%; và 14.1%. Những nội dung kiến thức trên tuy không phải là kiến
thức nền tảng phục vụ trực tiếp cho công việc dạy học và giáo dục của GV nhưng là
những nội dung kiến thức nền tảng và có ý nghĩa thiết thực đối với hoạt động nghề
nghiệp của GV. Tìm hiểu nguyên nhân của vấn đề này chúng tôi đã tiến hành phỏng
vấn một số CBQL và GV tiểu học, đa số đối tượng phỏng vấn đã nhận định rằng có
nhiều lý do khiến GV ngại bồi dưỡng kiến thức kinh tế, chính trị, ngoại ngữ…, trong đó
lý do cơ bản nhất là GV không bố trí được thời gian, nội dung kiến thức những lĩnh vựa
này khô khan, khó hiểu, hoặc GV thường tập trung vào chuyên môn mà không quan
tâm đến việc mở rộng kiến thức đa lĩnh vực.
Ở góc độ nghiên cứu, chúng tôi cho rằng, CBQL và GV tiểu học nên dành quan
tâm nhiều hơn đến những nội dung bồi dưỡng nêu trên vì ý nghĩa thiết thực của những

6 Tham gia các khóa bồi dưỡng,
tập huấn do trường, Phòng, Sở,
Bộ Giáo dục – Đào tạo tổ chức
0 4.4 20.1 44.3 31.2 4.022 .8301
7 Tự tìm kiếm và tham dự khóa
bồi dưỡng do nơi khác tổ chức
0.3 20.5 25.5 36.6 17.1 3.498 1.0099
Nhìn vào bảng trên, kết quả cho thấy, phần lớn đối tượng khảo sát đánh giá cao
tính hiệu quả của các phương pháp tự bồi dưỡng như: quan sát hoạt động giảng dạy,
giáo dục của đồng nghiệp (với giá trị trung bình là 4.088), tham gia các khóa tập huấn
(giá trị trung bình là 4.022), trao đổi, làm việc nhóm và qua nghiên cứu sách vở, tài liệu
(giá trị trung bình là 3.985 và 3.838). Trong khi đó, có đến 58.8% đối tượng khảo sát
cho rằng việc trao đổi, tìm thông tin trên các diễn đàn qua mạng internet và các phương
tiện truyền thông ở mức ít, kém và tương đối hiệu quả (với giá trị trung bình mean
=3.252). Như vậy, mặc dù phần lớn đối tượng khảo sát đang công tác tại các trường đã
được trang bị máy tính có kết nối internet (93.9%) nhưng GV chưa khai thác hiệu quả
các tài nguyên trên mạng vào việc tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ. Kết quả này đặt
ra cho các nhà trường vấn đề cần quan tâm: trong điều kiện phát triển của khoa học
công nghệ hiện nay, mỗi GV cần được hướng dẫn cụ thể hơn để biết cách khai thác và
sử dụng có hiệu quả các phương tiện, thiết bị kỹ thuật hiện đại phục vụ cho hoạt động
tự bồi dưỡng.
Ngoài ra, qua phỏng vấn một số GV về cách thức tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ, những GV được phỏng vấn đều cho rằng, có nhiều cách thức và
hình thức thực hiện để tiến hành hoạt động tự bồi dưỡng như: quan sát hoạt động thực
tiễn, chủ động tham khảo tài liệu, nghiên cứu khoa học, viết sáng kiến kinh nghiệm,
tham quan nghiên cứu thực tế, tìm hiểu sản phẩm của học sinh, trao đổi và chia sẻ kinh
6
nghiệm với đồng nghiệp, trao đổi trên các diễn đàn qua mạng internet, tổ chức hoạt
động và tham gia vào các hoạt động học tập, câu lạc bộ của học sinh. Với những biện
pháp và hình thức tự bồi dưỡng như trên, đa số đối tượng phỏng vấn cho rằng việc chia

sở để hiệu trưởng triển khai thực hiện các biện pháp quản lý hoạt động tự bồi dưỡng
một cách phù hợp, linh hoạt, sáng tạo có tính đến đặc điểm đặc thù của từng đối tượng
GV.
7
- Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng, tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và phổ
biến kế hoạch này đến từng giáo viên. Việc xây dựng và phổ biến kế hoạch bồi dưỡng,
tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ đến giáo viên là một trong những chức năng quản
lý trường học. Hiệu trưởng cần xây dựng kế hoạch bồi dưỡng, tự bồi dưỡng có tính tổng
thể. Kế hoạch này phải đảm bảo tính khoa học và khả thi. Qua đó, định hướng cho GV
trong việc xây dựng kế hoạch tự bồi dưỡng của bản thân đồng thời là cơ sở cho việc
thực hiện và theo dõi quá trình tự bồi dưỡng, rèn luyện tay nghề, nâng cao hiệu quả,
chất lượng công việc.
- Cung cấp tài liệu, sách vở, trang bị phương tiện kỹ thuật, tạo điều kiện cho GV
tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ. Việc cung cấp tài liệu, trang thiết bị và tạo điều
kiện môi trường phục vụ cho GV tự bồi dưỡng có ý nghĩa quan trọng góp phần tạo
dựng không khí lao động tích cực trong tập thể sư phạm, nhất là đối với hoạt động tự
bồi dưỡng của GV. Từ đó, nâng cao chất lượng công tác tự bồi dưỡng của GV. Việc
làm này còn có ý nghĩa thiết thực giúp hiệu trưởng chủ động trong công tác tổ chức
hoạt động tự bồi dưỡng của giáo viên.
- Tổ chức phong trào thi đua tự bồi dưỡng trong đội ngũ GV. Việc tổ chức các
phong trào thi đua nhằm hình thành ở GV ý thức chủ động, tích cực trong việc thực
hiện nhiệm vụ tự bồi dưỡng, xem hoạt động tự bồi dưỡng là nhiệm vụ thường xuyên, là
nhu cầu nội tại của bản thân.
- Tổ chức các nhóm giáo viên hỗ trợ, giúp đỡ nhau trong việc tự bồi dưỡng
chuyên môn nghiệp vụ. Giải pháp này tạo điều kiện cho GV cơ hội chia sẻ kiến thức,
kinh nghiệm tự bồi dưỡng, phát triển khả năng hợp tác làm việc cùng nhau. Căn cứ vào
tình hình, điều kiện thực tế của nhà trường, tập thể giáo viên, hiệu trưởng xây dựng các
tổ, nhóm GV hỗ trợ nhau tự bồi dưỡng.
- Xây dựng tiêu chí đánh giá kết quả tự bồi dưỡng của GV. Tùy theo điều kiện
thực tế của nhà trường và đội ngũ GV, hiệu trưởng cần tổ chức xây dựng tiêu chí đánh

nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Quyết định số 14/2007/QĐ-BGDĐT, ngày 04 tháng 5 năm
2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành kèm theo quy định Chuẩn nghề
nghiệp giáo viên tiểu học
3. Vũ Thị Thu Huyền, Biện pháp quản lý hoạt động tự bồi dưỡng giáo viên của hiệu
trưởng trường tiểu học một số tỉnh phía Nam, Đề tài NCKH cấp Trường, Trường Cán
bộ quản lý giáo dục Tp. HCM, 2010
9


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status