Tìm hiểu thực trạng công tác khuyến nông khuyến lâm tại trạm khuyến nông huyện đại từ tỉnh thái nguyên - Pdf 13

1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Việt Nam là một nước nông nghiệp có nền văn minh lúa nước phát triển
tương đối sớm. Trải qua các thời kỳ lịch sử của các triều đại, nhà nước Việt
Nam đều có những chủ trương, chính sách về phát triển nông lâm nghiệp
nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, cải thiện đời sống nhân dân. Những
chủ trương, chính sách và biện pháp đó chính là hoạt động công tác khuyến
nông -khuyến lâm.
Khuyến nông - khuyến lâm được hình thành và phát triển gắn liền với
sự phát triển của sản xuất nông nghiệp. Mục tiêu của khuyến nông - khuyến
lâm là làm thay đổi cách đánh giá, cách nhận thức của nhân dân, giúp họ có
cái nhìn thực tế và có cơ sở khoa học đối với những vấn đề để họ tự quyết
định biện pháp, vượt qua những khó khăn, nâng cao hiệu quả sản xuất,
hướng tới sự phát triển toàn diện của bản thân người nông dân và nâng cao
chất lượng cuộc sống ở nông thôn.
Cùng với sự phát triển khuyến nông - khuyến lâm trên thế giới,
khuyến nông- khuyến lâm Việt Nam hình thành phát triển tương đối sớm. Từ
thời tiền Lê đã có những chính sách nông nghiệp để động viên nông dân tích
cực tham gia sản xuất. Đến thời nhà Trần (1226) đã lập ra các quan chức để
trông coi phát triển sản xuất nông nghiệp. Sau khi đất nước hoàn toàn thống
nhất (1975) nền nông nghiệp Việt Nam chuyển sang thời kỳ mới với cách tổ
chức hợp tác xã nông nghiệp kiểu cũ. Trong thời gian dài chậm đổi mới, đời
sống nhân dân không được cải thiện. Trước thực tế đó, nhà nước đã có
những chủ trương chính sách phát triển nông nghiệp phù hợp với điều kiện
cụ thể, một số địa phương hình thành tổ chức khuyến nông - khuyến lâm
như: Tỉnh An Giang, tỉnh Bắc Kạn. Đến tháng 7/1992 bộ nông nghiệp hình
thành ban điều phối khuyến nông và đến tháng 3/1993 tổ chức khuyến nông
- khuyến lâm nhà nước Việt Nam thành lập sau khi có nghị định 13/CP.
1

2
2
3
- Đánh giá kết quả đạt và chưa đạt của công tácKN-KL của huyện Đại Từ.
- Đề xuất giải pháp nâng cao công tác KNKL huyện Đại Từ.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu
- Giúp sinh viên làm quen với công việc nghiên cứu ngoài thực tế.
- Bổ xung thêm kiến thức ngoài thực tế
- Giúp sinh viên có được kỹ năng và phương pháp tiếp cận đối tượng
nghiên cứu ngoài thực địa.
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
- Từ kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là nguồn tài liệu bổ ích để phục vụ
cho công tác học tập và nghiên cứu tiếp theo về công tác KNKL
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ tìm ra được các giải pháp phù hợp áp
dụng có hiệu quả trong công tác KNKL trên địa bàn Huyện.
3
3
4
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
2.1.1. Định nghĩa về khuyến nông - khuyến lâm
* Khuyến nông
Theo nghĩa hẹp: khuyến nông là sử dụng các cơ quan nông - lâm - ngư,
các trung tâm khoa học nông nghiệp - lâm nghiệp để phổ biến mở rộng các
kết quả nghiên cứu tới nông dân bằng các phương pháp thích hợp để cho họ
có thể áp dụng nhằm thu được nhiều nông sản hơn [137].
Theo nghĩa rộng: khuyến nông ngoài việc hướng dẫn cho nông dân kĩ
thuật tiến bộ mới còn phải giúp họ liên kết lại với nhau để chống lại thiên tai,

sản xuất.
Thứ năm, KNKL góp phần liên kết nông dân, thúc đẩy hợp tác, tương trợ
lẫn nhau, tăng cường tình làng nghĩa xóm, cộng đồng [4].
2.2. Tình hình phát triển KNKL trong và ngoài nước
2.2.1. Tình hình phát triển khuyến nông ở một số nước trên thế giới
+ Nước Mỹ
Năm 1924 tổ chức khuyến nông được thành lập chính tại nước Mỹ.
Cũng năm đó 1861 hội nông

dân

đã được thành lập từ năm 90 của thế kỷ 19.
Năm 1891 bang New York đã dành riêng 10.000$ cho khuyến nông đại học.
Bộ thương mại công ty ngũ cốc, các chủ ngân hàng, đường sắt và nhiều hàng
thương nghiệp khác đã tài trợ cho hoạt động khuyến nông như đào tạo người
làm nghề nông, thông báo cho người dân về những phương pháp cải tiến
canh tác .
Khoảng năm 1907, 42 trường đại học trong 39 bang đã hăng hái thực
hiện công tác khuyến nông, nhiều trường đã tổ chức công tác khuyến nông.
Khoảng năm 1910 thì có 35 trường đã có bộ môn khuyến nông sau đó nhiều
chương trình khuyến nông đã phát triển nhanh chóng, đa dạng và phong phú.
Hoạt động của những hội nông dân và các trường đại học nói trên đã dẫn
đến sự ra đời của đạo luật khuyến nông vào năm 1914. Với đạo luật khuyến
nông các trường đại học và trung học nông nghiệp được nhiều sự ủng hộ tích
cực để thực hiện nền giáo dục nông nghiệp về kinh tế gia đình .Tính liên ngành
trong nghiên cứu và hoạt động khuyến nông đã được thể hiện rõ trong sản xuất
nông nghiệp của Mỹ, đặc biệt là vai trò của người dân đã được chú ý trong
chuyển giao kỹ thuật nông nghiệp nhằm phát triển kinh tế hộ.

5

- Giáo dục tính: Nhân viên khuyến nông phải trách nhiệm về phần huấn
luyện giáo dục.
- Hợp tác tính: Mọi kế hoạch về giáo dục khuyến nông phải có tính hợp tác.

- Tuần tự tính: Mọi kế hoạch đều được hoạch định theo tuần tự từ dưới
lên trên căn cứ vào nhu cầu của địa phương, không cần bằng mệnh lệnh từ
trên xuống.
6
6
7
Kinh tế nông nghiệp của Đài Loan có sự hợp tác rất chặt chẽ giữa các hộ
nông dân, các hợp tác xã và các tổ chức làm dịch vụ tiêu thụ nông sản. Kinh
nghiệm của Đài Loan cũng chỉ cho thấy, hoạt động khuyến nông phải bắt đầu
từ những nhu cầu thực tiễn chứ không được mang tính áp đặt và phải mang
tính hợp tác cao giữa nhà nghiên cứu, cán bộ khuyến nông và người dân.
+ Nước Hungari
Bộ NN & PTNT đánh giá kết quả sau hơn 10 năm tổ chức và phát triển
hệ thống khuyến nông nhận định: Hệ thống khuyến nông cần được tổ chức
chặt chẽ từ Trung ương đến cơ sở. Việc tiếp cận, chuyển giao tiến bộ khoa học
kỹ thuật và thông tin thị trường cho nông dân được thực hiện tốt nhất ở mô
hình khuyến nông khuyến lâm tại địa phương. Tính bền vững của các loại
hình tổ chức khuyến nông khuyến lâm xuất phát từ cách tiếp cận theo hướng
dự án, hợp đồng dịch vụ khuyến nông (Lê Huy Ngọ, 2005)[1011], (Nguyễn
Viết Khoa, 2007)[78]. Người nông dân sử dụng dịch vụ sẽ chi trả chi phí cho
các dịch vụ đó.
+ Nước Nepal
Các chương trình khuyến nông khuyến lâm được tổ chức để cung cấp
cho người dân sự hiểu biết các chính sách mới về khuyến nông khuyến lâm,
các luật lệ, các lợi ích có liên quan đến các quản lý các nguồn tài nguyên của
họ. Nhà nước đào tạo các cán bộ khuyến nông khuyến lâm cấp huyện và cộng

+ Nước Indonesia
Tổ chức khuyến nông được thành lập vào năm 1955, có hệ thống khuyến
nông từ Trung ương đến tận làng xã theo 4 cấp: cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp
huyện, cấp xã. Nhìn chung công tác khuyến nông ở Indonesia khá phát triển,
ngay cả ở các làng xã cũng có trung tâm khuyến nông và trung tâm thông tin
phục vụ khuyến nông cơ sở và hộ nông dân trên địa bàn (Nguyễn Văn Long,
2006) [89].
Qua việc tìm hiểu một vài nét về tình hình nghiên cứu khuyến nông
khuyến lâm trên thế giới cho thấy, các hoạt động khuyến nông khuyến lâm
trên thế giới đã xuất hiện khá lâu, mọi quốc gia trên thế giới đều rất coi trọng
công tác khuyến nông khuyến lâm, điều đó cho thấy KNKL có một vị trí quan
trọng trong phát triển kinh tế nông nghiệp và có vai trò to lớn trong phát triển
nông thôn mới. Các nghiên cứu về KNKL đều đề cập đến sự tham của người
dân và tầm quan trọng và hữu ích của hệ thống KNKL nhưng việc đánh giá sự
chấp nhận của người dân trong điều kiện thực tế cần được bổ sung.
2.2.2. Tình hình phát triển KNKL ở Việt Nam
Việt Nam đã có truyền thống từ lâu đời tức là từ thời Vua Hùng nhiều
đạo dụ về khuyến nông qua nhiều thời đại đã có tác dụng lớn trong việc đắp
đê trị thuỷ, khẩn hoang, di dân, xây dựng hệ thống thuỷ nông vẫn còn có giá
8
8
9
trị đến ngày nay: “ Tục truyền xã Minh Nông Vĩnh Phúc là nơi Vua Hùng dạy
dân cấy lúa (khuyến nông) các châu thổ thấp được khai thác nhanh với cây
lúa đã mau chóng trở thành cây chủ yếu ở đây” .
* Từ nhà Lê (980 - 1005) đến nhà Nguyễn (1802 - 1884)
Vua Lê Đại Hành là ông vua đầu tiên tổ chức lễ cầy ruộng lịch điền.
Vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497) ban bố chiếu khuyến nông lập đồn điền,
là ông vua đầu tiên sử dụng chiếu “ khuyến nông “ trong bộ luật Huỳnh đức.
Vua Quang Trung (1788 - 1892) ban bố chiếu “ khuyến nông “ năm 1789

hợp tác xã.
* Bước tiến mới của hoạt đông khuyến nông từ 1989 đến nay
Nghị định 13/cp ngày 2/3/1993 của chính phủ về công tác khuyến nông
và tiếp theo là những thông tư liên bộ 02/LB hướng dẫn về việc tổ chức
khuyến nông đã đáp ứng kịp thời những nhu cầu nói trên.
Hệ thống khuyến nông đã nhanh chóng phối hợp hoạt động của mình với
các ngành có liên quan, nhất là hệ thống tổ chức của các hội quần chúng (hội
nông dân, hội phụ nữ, đoàn thanh niên, mặt trận tổ quốc ).
Có đường lối kinh tế mới nông hộ, có nội dung và chính sách đúng đắn
của nhà nước với tổ chức và hoạt động khuyến nông, được sự lãnh đạo toàn
diện sáng tạo của Đảng.
Ngày 03 tháng 01 năm 2008, Chính phủ ban hành Nghị định số
01/2008/NĐ-CP về Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ
chức của Bộ Nông nghiệp & PTNT, sau khi sát nhập Bộ NN & PTNT và Bộ
Thủy sản. Tại Nghị định này, chính phủ cho phép thành lập Trung tâm
Khuyến nông-Khuyến ngư Quốc gia. Ngày 28 tháng 01 năm 2008, Bộ trưởng
Bộ Nông nghiệp & PTNT ký quyết định số 236/QĐ-BNN-TCCB, thành lập
Trung tâm Khuyến nông-Khuyến ngư quốc gia trên cơ sở hợp nhất hai trung
tâm: Trung tâm Khuyến nông quốc gia và Trung tâm Khuyến ngư quốc gia.
Tại Điều 9 của Nghị định số 02/2010/NĐ-CP của Chính phủ về Khuyến
nông ký ngày 08 tháng 01 năm 2010 quy định tổ chức khuyến nông Trung
ương đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn với tên gọi là Trung tâm Khuyến nông quốc gia. Ngày 28/6/2010,
Bộ Nông nghiệp và PTNT đã có quyết định số 1816/QĐ-BNN-TCCB quy
định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Trung tâm Khuyến nông
quốc gia.
10
10
11
Trung tâm Khuyến nông quốc gia là đơn vị sự nghiệp, có các nhiệm vụ

11
12
chuyên môn. Một số tỉnh không thành lập trạm khuyến nông riêng mà phòng
kinh tế huyện làm nhiệm vụ khuyến nông hoặc thành lập ban khuyến nông.
Cấp cơ sở: Theo nghị định 13/CP của chính phủ và thông tư 02/LB -TT
về công tác khuyến nông thì ở cấp cơ sở hoặc cụm xã đã được xây dựng hệ
thống khuyến nông viên theo chế độ hợp đồng. Nhưng hiện nay vẫn còn các
tỉnh chưa có mạng lưới khuyến nông ở cấp cơ sở, nguyên nhân chủ yếu là
không có nguồn kinh phí để trả phụ cấp cho đội ngũ khuyến nông viên [4].
2.2.4. Một số chính sách về KNKL
Chính sách về khuyến nông, khuyến lâm của chính phủ được phản ánh
trong nghị định số13/CP ngày 2/3/1993 về quy định công tác khuyến nông và
thông tư liên bộ số 02/LB-TT ngày 2/8/1993 về hướng dẫn thi hành nghị định
số 13/CP các chính sách gồm:
* Thành lập hệ thống khuyến nông của nhà nước từ cấp trung ương tới
cấp huyện với số lượng cán bộ trong biên chế nhà nước và mạng lưới KNKL
viên cấp xã theo chế độ hợp đồng. Khuyến khích thành lập những tổ chức
khuyến nông tự nguyện của cơ quan nghiên cứu, đào tạo các đoàn thể và các
tổ chức kinh tế xã hội, các cá nhân trong và ngoài nước.
- Nguồn vốn tổ chức của hệ thông khuyến nông Nhà nước được hình thành.
+ Ngân sách nhà nước cấp hàng năm.
+ Tài trợ của tổ chức cá nhân trong nước và ngoài nước.
+ Thu của nông dân một phần giá trị sản phẩm tăng thêm thu nhập nhờ
áp dụng khuyến nông (nguồn vốn của các tổ chức khuyến nông do chính phủ
hoặc tổ chức tự trang trải).
- Chính sách đối với cán bộ khuyến nông
+ Cán bộ khuyến nông được nhà nước đào tạo về kỹ năng và nghiệp vụ
khuyến nông.
+ Cán bộ khuyến nông đi công tác tại cơ sở được hưởng một khoảng phụ
cấp ngoài lương.

KNKL cơ sở thiếu kiến thức và kỹ năng, phương tiện phục vụ cho công tác
KNKL thiếu và lạc hậu.
*Những hướng hoạt động cần tiến hành
- Giao đất và đảm bảo quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho người dân,
đầu tư cải tạo và nâng cao độ phì của đất.
- Đào tạo kỹ năng cải tạo đất và kiến thức thị trường cho nhân dân đặc
biệt là chủ hộ ở vùng sản xuất hàng hoá.
- Giúp đỡ nông dân nghèo về vấn đề kiến thức sản xuất.
13
13
14
- Khuyến khích các cán bộ kỹ thuật, các chuyên gia và nhà khoa học tự
nguyện tham gia công tác khuyến nông.
- Cổ vũ các hoạt động trao đổi các kinh nghiệm và kết quả cụ thể của
công việc khuyến nông giữa các vùng với nhau trong cả nước.
- Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền sâu rộng bằng nhiều hình thức
khác nhau về kỹ thuật khoa học nông lâm nghiệp đến với người dân.
2.3. Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.3.1. Điều kiện tự nhiên
Đại từ là một huyện miền núi của tỉình Thái Nguyên. Hàng năm trên địa
bàn Huyện có rất nhiều hoạt động khuyến nông khuyến lâm được triển khai
thực hiện đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế - xã hội, và ổn
định đời sống nhân dân tại địa phương. Vì vậy điều kiện cơ sở địa phương
đáp ứng được nội dung nghiên cứu của chuyên đề.
2.3.1.1.Vị trí địa lý
Đại từ là một huyện miền núi nằm ở phía Ttây Bbắc của tỉnh Thái
Nguyên, nằm trong tọa độ từ 21◦30 đến 21◦50 vĩ độ Bắc đến 105◦42 độ kinh
đông, cách thành phố Thái Nguyên 25km.
Phía Bắc giáp huyện Định Hóa
Phía Đông Nam giáp huyện Phổ Yên và thành phố Thái Nguyên

1800-2000 mm, đó là điều kiện rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông
lâm nghiệp của huyện.
2.3.1.3. Điều kiện đất đai thổ nhưỡng:
Huyện Đại từ có tổng diện tích đất tự nhiên là 57848 ha. Trong đó diện
tích đất nông nghiệp là 16370 ha. Diện tích đất lâm nghiệp là 28020 ha; diện
tích đất chuyên dùng là 6190ha; diện tích đất thổ cư là 1967ha. Tổng diện tích
đất hiện đang sử dụng vào các mục đích là 93,8%, còn lại 6,2 diện tích
đất tự nhiên chưa sử dụng.
Như vậy Đại Từ là một huyện có diện tích đất tự nhiên tương đối rộng, tiềm
năng đất đai của Đại Từ rất đa dạng và phong phú. Trong tổng diện tích
đất tự nhiên thì diện tích đất lâm nghiệp là lớn nhất và đang có xu hướng
tăng dần. Nguyên nhân là do huyện không ngừng tuyên truyền, vận động
nâng cao nhận thức của người dân về tầm quan trọng của rừng đầu
nguồn, rừng phòng hộ, từ đó khuyến khích nhân dân tích cực tham gia
15
15
16
trồng và bảo vệ rừng, thực hiện tốt việc chăm sóc, quản lí và phòng
chống cháy rừng. Hàng năm, diện tích rừng trồng mới trên địa bàn huyện
không ngừng tăng lên. Do đặc thù là huyện miền núi nên đặc điểm tự
nhiên của Đại Từ rất thích hợp cho phát triển sản xuất lâm nghiệp. Đặc
biệt trong những năm gần đây Đại Từ đẩy mạnh công tác giao đất, giao
rừng cho nhân dân trong huyện trồng và chăm sóc, quản lí rừng. Những
khu đồi trước đây bỏ trống thì giờ chuyển thành những rừng keo, rừng
quế, hay đồi cây ăn quả có giá trị kinh tế cao. Từ đó người dân ngày
càng tích cực trồng và bảo vệ rừng, giữ cho diện tích rừng được ổn định,
nạn phá rừng bừa bãi được hạn chế qua các năm.
Diện tích đất nông nghiệp cũng chiếm một tỉ lệ tương đối lớn trong tổng diện
tích đất tự nhiên, tuy nhiên diện tích này có xu hướng giảm qua các năm.
Nguyên nhân là do quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, quá trình

0
C .
+Lượng mưa trung bình trong năm khoảng 1800 đến 2000 mm. Lượng
mưa cao nhất tháng 8 và thấp nhất tháng 1 là 1312mm.
+ Số giờ nắng trong năm rao động từ 1200 đến 1500 giờ được phân bố
tường đối đồng đều cho các tháng trong năm.
+ Độ ẩm trung bình cả năm là 80%, độ ẩm cao nhất vào tháng 6,7,8; Độ
ẩm thấp nhất vào tháng 11,12 hàng năm.
+ Sương mù bình quân từ 20 đến 30 ngày trong 1 năm. Sương muối
xuất hiện ít.
Nhìn chung điều kiện khí hậu thời tiết của huyện Đại Từ tương đối thuận
lợi và phù hợp cho phát triển sản xuất nông ngiệp với cơ cấu cây trồng đa
dạng, luân canh nhiều vụ trong năm. Tuy nhiên trong mùa khô lượng mưa ít
cây trồng thường bị khô hạn, lượng mưa lớn vào mùa mưa gây ngập úng
nhiều vung vùng thấp, do vậy cần chú trọng các biện pháp tưới tiêu thích hợp
trong thâm canh cây trồng, đồng thời có hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng
và bố trí các công thức luân canh hợp lý đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Với điều kiện khí hậu thời tiết như vậy rất thuận lợi cho phát triển sản
xuất nông nghiệp của huyện (đặc biệt là cây chè).
2.3.1.5. Điều kiện tài nguyên khoáng sản
*Tài nguyên rừng
Diện tích đất lâm nghiệp của huyện là 28020 ha, trong đó diện tích rừng
tự nhiên là 16022 ha và diện tích rừng trồng từ 3 năm trở lên là 11000 ha. Chủ
yếu là rừng phòng hộ, diện tích rừng kinh doanh còn ít vì những năm trước
đây đã bị khai thác bừa bãi làm nương rẫy.
* Tài nguyên khoáng sản* Tài nguyên đất: Tổng diện tích tự nhiên
57.848 ha. Trong đó: đất nông nghiệp chiếm 28,3%, đất Lâm nghiệp chiếm
17
17
18

+ Nhóm kim loại đen: chủ yếu là titan, sắt nằm rải rác ở các điểm thuộc
các xã phía bắc của huyện như Khôi Kỳ, Phú Lạc, trữ lượng không lớn nhưng
lại phân tán.
- Nhóm khoáng sản phi kim loại: pyrit, barit, nằm rải rác ở các xã trong
huyện, trữ lượng nhỏ, phân tán.
- Khoáng sản và vật liệu xây dựng: Đại Từ là vùng có mỏ đất sét lớn ở
xã Phú Lạc, ngoài ra còn có nguồn đá cát sỏi có thể khai thác quanh nằm ở
dọc theo sông công, bãi bồi của các dòng chảy phục vụ vật liệu xâu dựng tại
chỗ của huyện [5].
2.3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
2.3.2.1. Tình hình dân số và lao động
● Nguồn nhân lực
Dân số Đại Từ hiện có 158.721 nhân khẩu (Trong đó dân số nông nghiệp
chiếm 94%; Thành thị: 6%). Dân số trong độ tuổi lao động chiếm 56,5%. Lao
động làm trong các Ngành nghề kinh tế chiếm 90,8% (Trong đó: Nông lâm
nghiệp thuỷ sản chiếm 94,1%; Công nghiệp xây dựng chiếm 4,1%; Dịch vụ
chiếm 1,2%).:
Kết quả được thể hiện qua bảng 2.1.
19
19
20
Bảng 2.1.

Tình hình dân số và lao động huyện Đại Từ qua 4 năm (2008-2011)
Chỉ tiêu
Đơn
v

Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 So sánh
Số

(%)
Số
l
ư

n
g

c

u
(%)
2008-
2
0
0
9
2010
-
2
0
0
9
2011-
2
0
1
0
Bình
q

2.BQ LĐ/hộ LĐ/hộ 1,81 2,81 2,72 2,58 155,24 96,8 94,85 115.63
(Nguồn số liệu chi cục thống kê huyện Đại Từ 2009)
20
20
Huyện Đại Từ gồm 31 đơn vị hành chính. Dân số của huyện đến năm 2011 là
164453 người. Mật độ dân số là 284 người/km², sự phân bố dân cư
không đồng đều giữa thành thị và nông thôn, dân số nông thôn là 152941
người chiếm 93% dân số toàn huyện, dân số thành thị là 11512 người
chiếm 7% dân số toàn huyện. Đây là đặc thù của vùng miền núi như Đại
Từ do đặc điểm tự nhiên tạo nên.
Qua bảng 2.1 cho ta thấy dân số của huyện có xu hướng tăng lên. Nhưng tỷ lệ
tăng dân số tự nhiên của huyện qua 4 năm có xu hướng giảm, năm 2010
tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,82 %, năm 2011 là 1,76 % giảm 0,06 % so
với năm 2010. Tổng số hộ tăng lên qua 4 năm, năm 2010 tăng so với
năm 2009 là 2079 hộ, năm 2011 tăng so với năm 2009 là 2839 hộ, năm
2009 tăng so với năm 2008 là 2794 hộ , 2009 là 4,98 khẩu/hộ, năm 2010
con số này chỉ còn là 4,76 nhân khẩu/hộ giảm 4,42 % so với năm 2009,
và năm 2011 số bình quân nhân khẩu/hộ chỉ còn 4,47 khẩu/hộ giảm 6,09
% so với năm 2010. Bình quân qua 4 năm số nhân khẩu/hộ giảm .Điều
này cho thấy huyện Đại Từ đã thực hiện tốt công tác kế hoạch hóa gia
đình, tỷ lệ gia đình sinh con thứ 3 đã giảm.
Số người trong độ tuổi lao động của toàn huyện năm 2011 là 95053 người chiến
57,8 % dân số toàn huyện, trong độ tuổi lao động trong lĩnh vực nông
nghiệp là 80795 lao động (chiếm 85% tổng số lao động), lao động phi nông
nghiệp là 5713 lao động (chiếm 6,01% tổng số lao động). Bình quân 4 năm
tổng số lao động tăng 2,96 %. Nguyên nhân là trong những năm gần đây
huyện đã thực hiện nhiều giải pháp cụ thể để giải quyết việc làm như: nâng
cao nhận thức về việc làm cho người lao động; đẩy mạnh chuyển dịch cơ
cấu kinh tế để sắp xếp lại lao động nông thôn; khuyến khích và tạo điều
kiện cho các loại hình hợp tác và dịch vụ mở rộng sản xuất, kinh doanh để

Thể hiện diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng của huyện Đại Từ qua 4 năm (2008-2011)
Chỉ tiêu
Năm 2008 Năm 2009 năm 2010 Năm2011
DT(ha)
NS
(tạ/ha)
SL
(tấn)
DT
(ha)
NS
(tạ/ha)
SL
(tấn)
DT
(ha)
NS
(tạ/ha)
SL
(tấn)
DT
(ha)
NS
(tạ/ha)
SL
(tấn)
1. cây Cây lương
thực
14248,12 14166,9 58,07 82266 14303,3 57,89 82805 14288,3 57,93 83766,4
+ lúaLúa 12184,44 54,96 66959,81 12403 54,8 67968 12240 54,83 67112 12482 55 68652

Trong đó, diện tích trồng lúa năm 2009 tăng 218,56 ha so với năm 2008,
năm 2010 giảm 163 ha so với diện tích trồng lúa năm 2009, diện tích lúa năm
2011 tăng 42 ha so với 2010. Diện tích trồng ngô năm 2009 giảm 1095,68 ha
so với năm 2008, năm 2010 tăng 201,3 ha so với năm 2009, diện tích trồng
ngô năm 2011 lại giảm 198 ha so với năm 2010. Ngoài nguyên nhân do thời tiết
và quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thì diện
tích trồng cây lương thực giảm còn do quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất
nông nghiệp trên địa bàn thì diện tích trồng cây lương thực giảm còn do quá trình
chuyển đổi cơ câu cây trồng, vật nuôi, tăng diện tích các loại cây trồng có giá trị
kinh tế cao. Chính vì vậy mà diện tích các loại cây trồng khác như chè, mía…đều
tăng. Năm 2008 với diện tích trồng mía của toàn huyện là 31,2 ha thì năm 2009
diện tích trồng mía của toàn huyện tăng lên đến là 39,7 ha và diện tích này đã tăng
lên là 50 ha vào năm 2010. Diện tích trồng chè năm 2009 tăng 139 ha so với năm
2008, năm 2010 tăng thêm 347 ha so với năm 2009, và diện tích trồng chè năm
2011 tăng thêm 205 ha so với năm 2010.

24
24
24
Do những diễn biến phức tạp của thời tiết như: vụ xuân hạn hán xảy ra
cục bộ ở một số địa phương, vụ mùa chịu ảnh hưởng của mưa bão, đồng thời
mưa nắng xen kẽ kéo dài tạo điều kiện cho sâu, bệnh phát sinh thành dịch…
gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp. Nhưng do sự quan tâm, chỉ đạo của
các cấp lãnh đạo, sự nỗ lực của người dân trong sản xuất và việc ứng dụng
các tiến bộ KHKT mới, sử dụng các giống cây trồng mới…mà năng suất và
sản lượng cây trồng lương thực ổn định và tăng qua các năm.
Diện tích, năng suất, sản lượng cây rau các loại của huyện cũng tăng
mạnh qua các năm, do những năm gần đây, huyện thực hiện tốt công tác
chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, các dự án trồng rau an toàn được triển
khai, ngoài ra CBKN huyện Đại Từ đã tích cực tiếng hành tìm thị trường đầu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status