LỜI NÓI ĐẦU
Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành TW Đảng Khoá
VII về chính sách Dân số - Kế hoạch hoá Gia đình đã khẳng định "Công tác
Dân số - Kế hoạch hoá Gia đình là một bộ phận quan trọng của chiến lược
phát triển Kinh tế - Xã Hội của đất nước. Là yếu tố cơ bản để nâng cao chất
lượng cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình và toàn xã hội". Giải pháp cơ
bản để thực hiện tốt công tác Dân Số - Kế hoạch hoá Gia đình đó là "Vận
động, tuyên truyền và giáo dục thuyết phục". Bởi vì xét về lâu dài, biện pháp
tuyên truyền, vận động sẽ làm thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi về dân số
của mọi người dân.
Dân số huyện Hải Hà tuy không tăng nhanh, nhưng tỷ lệ sinh con thứ 3
hàng năm vẫn còn cao, tỷ lệ nghèo chiếm 24,13%, do vậy vấn đề Dân số đang là
mối quan tâm của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Hải Hà, đang là vấn
đề buộc các cấp uỷ Đảng và chính quyền nhân dân hành động nhằm hạn chế đến
mức thấp nhất sự gia tăng dân số, tiến tới ổn định dân số trên toàn huyện, sự gia
tăng dân số sẽ ảnh hưởng rất lớn đến mật độ dân số, sự phát triển Kinh tế - Xã
Hội.
Dân số tăng còn ảnh hưởng rất lớn đến việc huỷ hoại môi trường sinh
thái, khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, hậu quả là lũ lụt, hạn hán
ngày càng nhiều, đời sống của nhân dân trong huyện ngày càng khó khăn, hộ đói
nghèo có nguy cơ tăng nhanh nếu như mức sinh không giảm ở các gia đình hiện
nay. Tư tưởng nho giáo quan niệm về sinh nhiều con, sinh con trai không những
tồn tại ở dân tộc thiểu số dân vùng biển mà còn tồn tại đối với cả một số người
có trình độ học vấn cao, gia đình giàu có và tồn tại cả đối với cán bộ, đảng viên
từ thành thị đến các vùng xa xôi, nông thôn hẻo lánh của Huyện. Các gia đình
sinh con một bề có nhu cầu sinh thêm trong khi đó Nhà nước không có chế tài
xử phạt sinh con thứ 3 do đó chỉ có con đường là giáo dục tuyên truyền vận
động đến mọi người dân mọi tầng lớp trong huyện
1
Tỷ lệ trẻ em nam và tỷ lệ trẻ em nữ của huyện cũng chênh lệch (Năm
2008 - 501bé trai /438 bé gái, Năm 2009 – 515 bé trai/441 bé gái, Năm 2010
1. Đặc điểm tự nhiên.
Hải Hà là huyện miền núi biên giới hải đảo nằm ở phía Đông Bắc tỉnh
Quảng Ninh cách trung tâm tỉnh 150km, có diện tích tự nhiên là 54.250ha trong
đó trên 60% là rừng và đất lâm nghiệp - phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Đông
giáp thành phố Móng Cái, phía Nam giáp biển, phía Tây giáp huyện Đầm Hà,
cách cửa khẩu Móng Cái 40km theo quốc lộ 18A.
Hải Hà có 1 thị trấn và 15 xã, có 1 xã đảo Cái Chiên, có 3 xã khó khăn
thuộc diện chương trình 135. Hải Hà là huyện miền núi ven biển, địa hình tương
đối phức tạp. Vùng trung du ven biển vừa có đồi núi và vùng đồng bằng. Vùng
đồi núi có đất nâu tím, đất vàng đỏ, đất mùn vàng đỏ. Các loại đất này phù hợp
trồng xây hoa mầu, trồng cây lâu năm và phù hợp với trồng rừng phòng hộ và
khoanh nuôi bảo vệ rừng đầu nguồn.
2. Đặc điểm kinh tế xã hội.
Hải Hà là huyện có đường quốc lộc 18A chạy qua. Hệ thống giao thông
trên địa bàn mặc dù tương đối thuận lợi nhưng chưa đáp ứng so với yêu cầu.
Chất lượng đường từ huyện xuống xã rất xấu, chưa đáp ứng được yêu cầu của
nhân dân.
Đặc điểm về giáo dục: Cơ sở vật chất giáo dục ngày càng được nâng cao
đáp ứng được nhu cầu tối thiểu của nhân dân. Trường học ở các xã miền núi đã
có nhà khang trang nhờ các nguồn vốn của tỉnh, của huyện, của các tổ chức
doanh ghiệp và sự đóng góp của nhân dân. Chất lượng giáo dục học sinh mấy
năm gần đây đã và đang từng bước được nâng lên. Toàn huyện có 34 trường,
486 lớp với 12.509 học sinh.
3
Đặc điểm về y tế: Hiện nay ngoài bệnh viện đa khoa huyện, các xã đều
có trạm xá, tổng số giường bệnh có 190 giường. 16/16 trạm y tế xã được sửa
chữa và nâng cấp trang thiết bị phục vụ cho khám và phòng bệnh cho nhân dân.
Ngành y tế đã đảm bảo tốt các hoạt động chăm sóc sửa khoẻ cho nhân dân, thực
hiện về phòng bệnh, phòng chống dịch, phòng chống sốt rét bảo đảm kế hoạch.
Công tác khám và chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân từng bước được
. Trình độ dân cư còn thấp đặc biệt là vùng dân tộc thiểu số.
Dân số trong độ tuổi lao động giữa thành thị và nông thông không đồng
đều khu vực nông thôn chiếm nhiều hơn 22.021 người (thành thị 3.780
người). chính vì thế xuất hiện dòng di cư lớn từ huyện đến các địa phương
khác để định cư và tìm kiếm việc làm có thể lâu dài hoặc theo thời vụ. Điều
này cũng ảnh hưởng đến người lao động cũng như tình hình phát triển kinh tế
xã hội của huyện.
5
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN LỒNG GHÉP
DÂN SỐ - KẾ HOẠCH HOÁ GIA ĐÌNH Ở
HUYỆN HẢI HÀ NĂM 2008
Công tác giáo dục - truyền thông Dân số - KHHGĐ có vị trí rất quan
trọng, vì giáo dục truyền thông là đột phá tư tưởng, nhận thức và tư duy của
từng người, từng gia đình và cộng đồng để từ đó làm thay đổi nhận thức để con
người tự nguyện, tự giác lựa chọn cho mình biện pháp tránh thai phù hợp, thực
hiện tốt kế hoạch hoá gia đình. Để làm tốt công tác truyền thông giáo dục sao
cho kịp thời, chính xác, phù hợp với từng vùng, từng dân tộc trong toàn huyện.
Muốn có hiệu quả chúng ta phải xác định công tác giáo dục - truyền thông về
DS - KHHGĐ là nhiệm vụ tổng hợp của nhiều ngành, nhiều cấp và đặc biệt phải
được sự ủng hộ của những người lãnh đạo, già làng, trưởng bản, cán bộ hưu trí,
trưởng dòng họ những người có uy tín trong cộng đồng dân cư và quần chúng
nhân dân.
Để thực hiện và triển khai công tác truyền thông. Dưới sự lãnh đạo của
huyện uỷ HĐND - UBND huyện và hướng dẫn chuyên môn của Chi cục dân số
- KHHGĐ các xã, thị trấn phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng cá nhân trong cơ
quan, đồng thời phối hợp với các ban ngành, đoàn thể như: Đài TT-TH, phòng
văn hoá, thông tin, Hội phụ nữ, phòng giáo dục - đào tạo, hội nông dân, cựu
chiến binh và Huyện đoàn để tổ chức tuyên truyền, vận động các hộ và nhân dân
thực hiện tốt chính sách Dân số - KHHGĐ trên địa bàn toàn huyện.
Lần 250 235 231 226
2 Mít tinh, toạ đàm Lần 13 12 12 11
3 Số lần tổ chức tuyên
truyền lưu động
Lần 355 349 352 348
4 Pano - Khẩu hiệu Chiếc 260 260 261 262
5 Số tờ bướm + tranh
ảnh
Tờ 22.120 22.115 22.250 22.260
6 Sổ sách + Tập san,
tạp chí
Cuốn 648 650 655 655
7 Số băng Audio +
Video
Băng 160 154 150 140
Nguồn: Báo cáo của Trung tâm dân số - Kế hoạch hoá gia đình huyện Hải Hà
qua các năm
Số lần nói truyện trực tiếp năm 2008 thấp hơn năm 2007, vì lí do năm
2008 tuyên truyền viên của huyện có 4 đồng chí, nên tổ chức nói chuyện trực
7
tiếp hạn chế. Đến tháng 11 năm 2008 còn có 3 tuyên truyền, 1 đồng chí đã
chuyển sang phòng y tế. Trung bình mỗi cuộc tuyên truyền có từ 50 đến hơn 80
đối tượng tiếp thu tham gia. Do có sự biến động cán bộ đã ảnh hưởng không nhỏ
đến công tác truyền thông của tuyến huyện năm 2008.
Năm 2010 được sự quan tâm của Chi cục DS-KHHGĐ tình đã bổ xung 01
biên chế cho trung tâm nhưng số lần nói chuyện trực tiếp, mít tinh, tọa đàm lại ít
hơn vì thiếu kinh phí (kinh phí của địa phương) còn các hoạt động khác vẫn thực
hiện theo đúng quy hoạch và số lượng cho Chi cục cấp xuống trung tâm cấp
phát cho các xã về tuyên truyền tại cơ sở
Mít tinh và toạ đàm nhân ngày Dân số thế giới và ngày Dân số Việt nam
STT Chỉ tiêu ĐVT Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
1 Dân số trung bình Người 51.765 52.415 53.638 54.785
2 Số phụ nữ 15 - 49 tuổi Người 14.774 14.965 15.019 15.339
3
Số PN 15 - 49 tuổi có chồng
Người 10.016 10.140 10.213 10.430
4 Số trẻ em sinh ra Trẻ 1.018 939 956 997
5
Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên
% 18 17,1 16.2 15.8
6 Tỷ suất sinh thô %o 18,2 17,4 17.8 17.0
7
Số xã không có người sinh
con thứ ba trở lên
Xã 02 02
03 04
8
Tỷ lệ phát triển dân số tự
nhiên
% 1,3 1,28
1.26 1.24
Nguồn: Báo cáo tổng kết của Uỷ ban DS - GĐ - TE. Trung tân Dân số -
KHHGĐ huyện Hải Hà qua các năm
Nhìn vào bảng ta thấy: quy mô dân số vẫn tăng qua các năm. Tăng
khoảng 1000người/năm. Với tốc độ tăng như thế này thì đến năm 2015 quy mô
dân số của huyện sẽ khoảng 6 van người, do vậy huyện phải có chính sách giảm
mức sinh xuống nữa. Các xã không có người sinh con thứ 3 tăng chứng tỏ có
nhiều xã tỷ lệ sinh con thứ 3 cao.
Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên đã giảm 0,9% nhưng vẫn còn cao tập trung
vào các xã vùng sâu, vùng xa có đồng bào dân tộc thiểu số. Tỷ lệ phát triển dân
thực hiện các biện pháp tránh thai hiện đại.
Qua bảng kết quả thực hiện các biện pháp tránh thai của huyện Hải Hà ta
thấy chứng tỏ nhận thức của người dân về kế hoạch hoá gia đình đã có chuyển
biến rất rõ rệt. Có thể khẳng định rằng: Nâng cao hiệu quả công tác thông tin,
giáo dục, truyền thông là một trong những yếu tố rất quan trọng để thực hiện các
mục tiêu Công tác Dân số - KHHGĐ. Có như vậy các chỉ tiêu, kế hoạch, chương
trình phát triển kinh tế - xã hội của huyện Hải Hà trước mắt cũng như lâu dài
mới có thể thực hiện được, chú trọng công tác thông tin, giáo dục, truyền thông.
Nhằm nâng cao hiệu quả của công tác truyền thông để giảm mức sinh, tăng dần
số người trong độ tuổi sinh đẻ áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại và giảm
mạnh tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên. Đó là làm thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi
của mọi người trong thực hiện kế hoạch hoá gia đình. Mục tiêu trước mắt cũng
10
như lâu dài là làm sao cho công tác thông tin, giáo dục, truyền thông đạt được
hiệu quả cao đáp ứng được nhu cầu thực tế của Huyện trong giai đoạn hiện nay.
2. Những vấn đề tồn tại của công tác truyền thông trong năm 2010 của
huyện Hải Hà
Trong những năm qua công tác truyền thông của huyện đã đạt được những
kết quả đáng kể song cũng không tránh khỏi những vướng mắc và tồn tại cần
sớm được khắc phục trong thời gian tới.
Công tác chỉ đạo chưa đáp ứng được yêu cầu, các cấp Ủy Đảng và chính
quyền chưa thực sự quan tâm đến công tác truyền thông dẫn đến nhiệm vụ và
nội dung hoạt động của công tác Dân số - Kế hoạch hoá gia đình ít được đề cập
trong kế hoạch tổng thể và chương trình hành động. Việc kiểm tra, giám sát ít
thường xuyên so với trước đây. Một số cấp uỷ Đảng, chính quyền cấp xã chưa
tạo điều kiện để tổ chức và triển khai thực hiện chính sách Dân số - Kế hoạch
hoá gia đình, ở một số bản ở vùng sâu, vùng cao chưa có Đảng viên và chưa
thành lập chi bộ đã ảnh hưởng đến công tác chỉ đạo truyền thông Dân số - Kế
hoạch hoá gia đình của huyện và của trung tâm DS-KHHGĐ
* Về tổ chức bộ máy và cán bộ.
* Các thông tin truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng do một số
cơ sở chưa được đầu tư nên việc tuyên truyền chưa nhiều về số lần phát thanh.
Nội dung phát thanh còn nghèo nàn, chưa đáp ứng được nhu cầu của đối tượng,
một số xã do địa bàn rộng đi lại khó khăn cho nên tiếp cận với các phương tiện
truyền thông chưa được đầy đủ.
12
CHƯƠNG 3
CÁC GIẢI PHÁP VỀ CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN - GIÁO
DỤC VÀ TRUYỀN THÔNG TRONG NĂM 2010 VÀ
NHỮNG NĂM TIẾP THEO
Với những thành tích đã đạt được và những vấn đề còn hạn chế trong
công tác truyền thông năm 2010. Để đạt được kế hoạch công tác truyền thông
Dân số - KHHGĐ năm 2010 và những năm tiếp theo, cần tiếp tục làm tốt các
giải pháp như sau:
1. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền.
Đảng bộ và chính quyền huyện, thị trấn, xã tăng cường lãnh đạo bằng
cách đưa nội dung công tác Dân số - Kế hoạch hoá gia đình vào Nghị quyết và
các chương trình hành động cụ thể. Đặc biệt quan tâm đến các đơn vị có mức
sinh cao, vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số. Coi công tác Dân số - Kế hoạch
hoá gia đình là nhiệm vụ quan trọng, là tiêu chuẩn để đánh giá mức độ hoàn
thành phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Các cấp uỷ Đảng và chính quyền cần phải nghiêm túc kiểm điểm, đánh giá
tình hình thực hiện công tác Dân số - Kế hoạch hoá gia đình hàng năm.
Lãnh đạo công tác phối hợp giữa các Ban, ngành, đoàn thể xã hội hoá công
tác dân số.
Xử lý nghiêm cán bộ, Đảng viên vi phạm chính sách dân số. Lấy việc thực
hiện chính sách dân số làm chỉ tiêu đánh giá, phân loại cơ sở Đảng, chính quyền
trong sạch, vững mạnh, lấy chỉ tiêu dân số là một trong những tiêu chí xét danh
hiệu làng văn hóa.
2. Đổi mới công tác truyền thông cả về nội dung và hình thức.
tránh thai hiện đại.
Tăng thêm nguồn lực để tuyên truyền, vận động lồng ghép dịch vụ
chăm sóc sức khoả sinh sản - kế hoạch hoá gia đình đến các xã khó khăn và
các vùng có mức sinh cao trên địa bàn huyện. Vì đây là loại hình cần thiết và
14
rất hiệu quả để chuyển biến nhận thức của các đối tượng về công tác dân số
và thực hiện kế hoạch hoá gia đình, thu hút được đông đảo các tầng lớp nhân
dân tham gia thông qua tuyên truyền cổ động, chiếu phim thảo luận nhóm,
treo băng rôn, khẩu hiệu
Tổ chức triển khai các chiến dịch truyền thông Dân số - Kế hoạch hoá gia
đình gắn với dịch vụ khám phụ khoa, tư vấn về CSSKSS, KHHGĐ
Thực hiện truyền thông đi trước, tạo ra một phong trào sâu rộng, lôi cuốn
cộng đồng tham gia thực hiện kế hoạch hoá gia đình.
Cung cấp đầy đủ thông tin chính xác về các biện pháp tránh thai cho đối
tượng, nắm được thông tin và hoàn cảnh của họ, giúp họ lựa chọn cho mình một
biện pháp tránh thai thích hợp.
Tiếp tục phối hợp với đài truyền thanh - truyền hình, Phòng tư pháp,
Phòng văn hoá - thông tin, Phòng giáo dục - đào tạo huyện để tuyên truyền Pháp
lệnh dân số, Nghị quyết của Đảng. Chính sách pháp luật của Nhà nước, Nghị
quyết của Tỉnh uỷ, Huyện uỷ về công tác Dân số - Kế hoạch gia đình đến từng
nhóm đối tượng, trường học, các công ty doanh nghiệp nơi có đối tượng đang
trong độ tuổi sinh đẻ, nhân dân các dân tộc trên địa bàn huyện.
Tăng cường các mô hình, dự án trên địa bàn huyện nhằm thực hiện tốt
công tác truyền thông Dân số - Kế hoạch hoá gia đình nâng cao chất lượng dân
số.
4. Nâng cao năng lực cho đội ngũ làm công tác truyền thông.
Đội ngũ cán bộ làm công tác truyền thông từ Huyện đến các xã, thị trấn
còn thiếu về số lượng, yếu về chuyên môn, nghiệp vụ. Đặc biệt từ khi có sự xáo
trộn về công tác tổ chức nhiều cán bộ có năng lực và kinh nghiệm đã chuyển
công tác khác có cán bộ mới lên thay.
các tập thể và cá nhân thực hiện tốt chính sách Dân số - Kế hoạch hoá gia đình.
Tăng thêm biên chế cán bộ làm công tác Dân số - Kế hoạch hoá gia đình
cấp huyện vì công việc nhiều và địa bàn hoạt động rộng.
Nhà nước cần có chính sách xử lý đối với người cố tình vi phạm chính
sách Dân số - Kế hoạch hoá gia đình như sinh con thứ 3 trở lên để làm gương
cho các đối tượng, nhất là cán bộ, Đảng viên dù họ là ai, giữ cương vị gì. Có quy
định chi tiết về đối tượng được sinh con thứ 3 trên địa bàn toàn quốc để nhân
dân được biết và thực hiện.
* Đối với Huyện, xã.
17
Tăng cường sự chỉ đạo của Đảng đối với ngành, đoàn thể, cấp uỷ, chính
quyền từ huyện đến cơ sở để phối hợp lồng ghép công tác truyền thông Dân số -
Kế hoạch hoá gia đình trên địa bàn Huyện.
UBND Huyện và UBND các xã, thị trấn cần trích nguồn ngân sách địa
phương hỗ trợ công tác truyền thông Dân số - Kế hoạch hoá gia đình tại cơ sở để
góp phần cho lĩnh vực truyền thông đạt hiệu quả cao hơn.
Ban Dân số - Kế hoạch hoá gia đình xã cần tham mưu cho UBND xã, thị
trấn xây dựng kế hoạch cho Công tác truyền thông trên các lĩnh vực, đặc biệt xã
vùng sâu, vùng xa, vùng có mức sinh con cao trên địa bàn Huyện.
Làm văn bản đề nghị Trung ương, tỉnh xem xét tăng biên chế chuyên
trách dân số và cộng tác viên dân số cho những xã khó khăn, địa bàn rộng số
dân đông thì mới đảm bảo chất lượng truyền thông.
18
KẾT LUẬN
Công tác Dân số - Kế hoạch hoá gia đình là mục tiêu quan trọng trong
chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Công tác thông tin, giáo dục,
truyền thông về Dân số - Kế hoạch hoá gia đình trong thời gian qua đã góp phần
quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi mục tiêu giảm nhanh mức sinh của chiến
lược DS - KHHGĐ, nâng cao và cả thiện đời sống nhân dân.
Đề thực hiện chương trình mục tiêu công tác Dân số - Kế hoạch hoá gia
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy, các cô!
20
MỤC LỤC
21