Tài liệu Luận văn tốt nghiệp “Tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty Cơ khí- Điện Thuỷ Lợi” - Pdf 99



BÁO CÁO THỰC TẬP

Tổ chức công tác kế toán tập hợp
chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm tại công ty Cơ khí- Điện
Thuỷ Lợi

G
G
i
i
á
á
o
ov
v
i
i
ê
ê

g
g
u
u
y
y


n
nM
M
i
i
n
n
h
hP
P
h
h
ư
ư
ơ
ơ



c
ch
h
i
i


n
n:
:N
N
g
g
u
u
y
y



h
h

Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng
Hạnh
1
LỜI NÓI ĐẦU

Hoà vào xu thế mở cửa, hội nhập của nền kinh tế quốc tế của thế giới
trong thế kỷ 21, các doanh nghiệp Việt Nam đã không ngừng cố gắng nâng
cao trình độ quản lý, hiện đại hoá dây truyền sản xuất, cải tiến mẫu mã, giảm
giá thành sản phẩm để nâng cao tính cạnh tranh và tạo cho mình một chỗ
đứng vững chắc trên thị trường.
Hạch toán kế toán là một công cụ
quan trọng trong hệ thống quản lý
kinh tế tài chính, giữ vai trò tích cực trong việc điều hành và kiểm soát các
hoạt động kinh doanh. Là một khâu của hạch toán kế toán, công tác kế toán
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp giữ vai trò
hết sức quan trọng. Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là các chỉ tiêu chất
lượng tổng hợp phản ánh trình độ quản lý, sử dụng tài sản, vật tư, lao động,
cũng như trình
độ tổ chức sản xuất, quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm
của doanh nghiệp, là thước đo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc kế
toán chi phí sản xuất kinh doanh không chỉ dừng lại ở chỗ tính đúng, tính đủ
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng
Hạnh
3 CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHI PHÍ
SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
1.1/ Lý luận chung về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
1.1.1/ Sự cần thiết của công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm trong nền kinh tế thị trường
Đất nước ta hiện nay đang trên con đường đổi mới và phát triển với nền
kinh tế thị trường có sự điều tiết củ

đường l
ối chính sách phù hợp để phát triển các doanh nghiệp thực sự làm ăn
có hiệu quả và hạn chế quy mô các doanh nghiệp sản xuất thua lỗ triền miên
không có khả năng khắc phục…nhằm đảm bảo cho sự phát triển không ngừng
của nền kinh tế đất nước. Mặt khác, công tác này còn ảnh hưởng trực tiếp đối
với các khoản thuế mà nhà nước phải chú trọng và quan tâm đến công tác
này trong các doanh nghiệp.
- Đối vớ
i các bên liên quan: Như ngân hàng, đối tác thì việc tập hợp chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp cũng rất quan
trọng. Một doanh nghiệp làm ăn có lãi chắc chắn sẽ chiếm được giao thầu.
Công tác này có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động của ngân hàng cũng như
của đối tác.
Tóm lại, trong nền kinh tế thị trường công tác tập hợp chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm trong doanh nghhiệp là vô cùng quan trọng nó
ảnh
hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, quyền lợi của
các bên có liên quan.
1.1.2/ Khái niệm, kết cấu và phân loại chi phí sản xuất
1.1.2.1/ Khái niệm chi phí sản xuất
Sự phát triển của xã hội loài người gắn liền với quá trình sản xuất, sản
xuất chính là quá trình kết hợp của ba yếu tố: Tư liệu lao động, đối tượng lao
động và sức lao độ
ng. Quá trình sản xuất cũng chính là quá trình dịch chuyển
của ba yếu tố nói trên để cấu thành nên sản phẩm hàng hoá, dịch vụ. Như vậy,
để tiến hành sản xuất hàng hoá người ta phải bỏ ra những chi phí về lao động
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng
Hạnh
5
sống và lao động vật hoá, các yếu tố cấu thành nên giá trị và giá trị sử dụng

dịch vụ.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng
Hạnh
6
+ Chi phí nhân công trực tiếp: Là các khoản trả cho người lao động trực
tiếp sản xuất như tiền công, tiền lương và các khoản phụ cấp có tính chất
lương, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, kinh phí công đoàn của công nhân trực
tiếp sản xuất.
+ Chi phí sản xuất chung: Là những chi phí chung phát sinh ở các phân

xưởng như tiền lương và các khoản phụ cấp trả cho nhân viên phân xưởng.
 Chi phí bán hàng: Gồm các khoả
n chi phí phát sinh trong quá
trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ như tiền lương, các khoản phụ cấp
có tính chất lương trả cho nhân viên bán hàng, tiếp thị đóng gói, vận chuyển,
bảo quản…, khấu hao tài sản cố định, chi phí vật liệu bao bì, dụng cụ, chi phí
bảo hành sản phẩm, chi phí quảng cáo…
 Chi phí quản lý doanh nghiệp: Gồm có các khoản chi cho bộ máy
quản lý và điều hành doanh nghiệp, các chi phí liên quan đến hoạt động chung
c
ủa doanh nghiệp như chi phí về lao động nhỏ, khấu hao tài sản cố định phục
vụ cho bộ máy quản lý- điều hành doanh nghiệp, các chi phí phát sinh ở phạm
vi toàn doanh nghiệp như chi phí vật liệu, đồ dùng văn phòng, lãi vay vốn
kinh doanh, vốn đầu tư tài sản cố định, dự phòng…
Như vậy, chi phí sản xuất kinh doanh là tổng hợp từ ba chi phí bộ phận là:
Chi phí sản xuất, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp và được khái
quát theo công thứ
c sau:
CPSXKD = CPSXSP + CPBH + CPQLDN
Trong đó: CPSXKD : Là chi phí sản xuất kinh doanh

thích hợp.
Phân loại chi phí là việc xắp xếp chi phí sản xuất vào từng loại, từng
nhóm theo những đặc trưng nhất định. Xét về mặt lý luận cũng như thực tế, có
nhiều cách phân loại chi phí khác nhau, tuy nhiên lựa chọn tiêu thức phân loại
chi phí nào là phải dựa vào yêu cầu của công tác quản lý và hạch toán. Ta có
thể tiến hành phân loại chi phí xuất kinh doanh theo một số tiêu thức phân
lo
ại chủ yếu sau:
* Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung kinh tế
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng
Hạnh
8
Theo cách phân loại này, căn cứ vào nội dung kinh tế và tính chất của
chi phí để chia ra thành các yếu tố chi phí, mỗi yếu tố chi phí có cùng nội
dung kinh tế không phân biệt chi phí đó phát sinh từ lĩnh vực nào, ở đâu, mục
đích, tác dụng của chi phí như thế nào. Cách phân loại này giúp cho việc
xây dựng và phân tích định mức vốn lưu động cũng như lập, kiểm tra và phân
tích dự toán chi phí. Theo quy định hiện hành thì toàn bộ chi phí được chia
thành các yếu tố sau:
- Chi phí nguyên li
ệu, vật liệu: Gồm toàn bộ giá trị nguyên vật
liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ…sử dụng vào sản
xuất kinh doanh (loại trừ giá trị không dùng hết nhập lại kho và phế liệu thu
hồi).
- Tiền lương và các khoản phụ cấp lương: Là toàn bộ tiền lương và
phụ cấp có tính chất lương mà doanh nghiệp phải trả cho công nhân viên chức
trong kỳ
.
- Chi phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn: Đây là
khoản chi phí được trích lập theo tỷ lệ % tính theo lương và quy định hiện

ất.
- Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm chi phí về tiền lương, phụ cấp
phải trả và các khoản trích BHXH, BHYT và KPCĐ, trích trước tiền lương
nghỉ phép trên tiền lương của công nhân trực tiếp sản xuất theo quy định.
Không tính vào khoản này khoản tiền lương phụ cấp và các khoản trích trên
tiền lương của nhân viên phân xưởng, nhân viên bán hàng, nhân viên quản lý
doanh nghiệp hay nhân viên khác.
- Chi phí sản xuất chung: Là chi phí dùng vào việc quản lý và phục vụ
sản xuấ
t chung tại bộ phận sản xuất (phân xưởng, đội trại…); bao gồm các
điều khoản sau:
+ Chi phí nhân viên phân xưởng: Gồm các chi phí về tiền lương, phụ cấp
phải trả và các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ trên tiền lương của nhân
viên quản lý, nhân viên thống kê, nhân viên bảo vệ…tại phân xưởng sản xuất
theo quy định.
+ Chi phí vật liệu: Gồm vật liệu các loại sử dụng cho nhu cầu sản xuất
chung của phân x
ưởng (đội, trại …) sản xuất, như dùng để sửa chữa tài sản cố
định, dùng cho công tác quản lý tại phân xưởng.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng
Hạnh
10
+ Chi phí dụng cụ sản xuất: Chi phí về các loại công cụ, dụng cụ dùng
cho nhu cầu sản xuất chung của phân xưởng sản xuất như khuôn mẫu, dụng
cụ, giá lắp, dụng cụ cầm tay…
+ Chi phí khấu hao tài sản cố định: Bao gồm số khấu hao của tài sản cố
định hữu hình, tài sản vô hình và tài sản cố định thuê tài chính sử dụng ở phân
xưởng sản xuất như khấu hao máy móc thi
ết bị sản xuất, khấu hao nhà
xưởng…

nhất định nào đó. Ngược lại, chi phí bất biến tính về tổng thể (trong phạm vi
giới hạn khối lượng sản phẩm sản xuất ra) là không đổi nhưng chi phí bất biến
tính cho một đơn vị sản phẩm sẽ giảm đi khi khối lượng sản phẩm sản xuất ra
tăng lên và ngược lại. Những chi phí thuộc về biến phí bao gồm : Chi phí
khấu hao tài sản cố định, chi phí bảo dưỡng máy móc thiết bị, tiền lương bộ
phận quản lý doanh nghiệp, tiền thuê nhà xưởng, đất đai máy móc, chi phí
bảo hiểm…
- Chi phí hỗn hợp: Là các khoản chi phí vừa thể hi
ện đặc tính định phí
vừa thể hiện đặc tính của biến phí. Thuộc loại chi phí này bao gồm: Chi phí
về
tiền điện, điện thoại, fax, chi phí sửa chữa thường xuyên tài sản cố định.
Việc phân loại chi phí theo phương pháp này có ý nghĩa lớn đối với công
tác quản lý doanh nghiệp. Qua việc xem xét mối quan hệ giữa khối lượng sản
xuất với chi phí bỏ ra giúp các nhà quản lý tìm ra những biện pháp quả
n lý
thích hợp với từng loại chi phí để tiến tới hạ thấp giá thành sản phẩm. Đồng
thời việc phân loại này có tác dụng xây dựng các mô hình chi phí trong mối
quan hệ với sản lượng và lợi nhuận, xác định điểm hoà vốn và phục vụ các
quyết định quan trọng khác trong quá trình sản xuất kinh doanh.
* Phân loại chi phí sản xuất theo phương pháp tập hợp chi phí
Theo tiêu thức này chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành chi phí
trực ti
ếp và chi phí gián tiếp.
- Chi phí trực tiếp: Là chi phí liên quan trực tiếp đến việc sản xuất một
loại sản phẩm, một công việc, lao vụ hoặc một hoạt động, một địa điểm nhất
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng
Hạnh
12
định và hoàn toàn có thể hạch toán , quy nạp trực tiếp cho sản phẩm, công

phẩm, lao vụ đã hoàn thành trong kỳ (tháng, quý, năm). Những khoản chi phí
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng
Hạnh
13
nào phát sinh (bao gồm cả kỳ trước chuyển sang và phát sinh trong kỳ) và chi
phí trích trước có liên quan đến khối lượng sản phẩm dịch vụ trong kỳ sẽ tạo
nên giá thành sản phẩm. Hay nói cách khác bản chất của giá thành sản phẩm
là tập hợp các chi phí sản xuất nhưng được kết tinh trong sản phẩm đã hoàn
thành. Do đó khi muốn xác định giá thành của sản phẩm thì ta phải xác định
và tập hợp chi phí được một cách chính xác các khoả
n chi phí sản xuất đã
phát sinh từ đó tiến hành quy nạp các chi phí.
* Chức năng của giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp có ý nghĩa quan
trọng đối với công tác quản lý doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói
chung.
Tính tổng hợp của chỉ tiêu này được biểu hiện ở chỗ thông qua nó người
ta có thể đánh giá được hiệu quả của quá trình sản xuất, chứng minh đượ
c khả
năng phát triển và sử dụng các yếu tố vật chất đã thực sự tiết kiệm và hợp lý
chưa.
Tính tổng hợp còn được biểu hiện ở chỗ thông qua nó người ta có thể
đánh giá được toàn bộ các biện pháp kinh tế, tổ chức kỹ thuật mà doanh
nghiệp đã đầu tư trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Do tính chất quan trọng như vậy nên chỉ tiêu giá thành luôn được xem là
một trong nh
ững chỉ tiêu cần được xác định một cách chính xác, trung thực để
giúp các doanh nghiệp có căn cứ xem xét, đánh giá, kiểm tra và đề xuất các
biện pháp thích ứng đối với hoạt động kinh doanh trong từng giai đoạn cụ thể.
Những tính chất đó của giá thành được biểu hiện thông qua các chức năng

thực hiện được yêu cầu bù đắp hao phí vật chất này, thì khi xác định giá cả
phải căn cứ vào giá thành sản phẩm.
Tuy nhiên giá thành sản phẩm không phải là căn cứ duy nhất để doanh
nghiệp xác định giá cả sản phẩm của mình mà còn phải căn cứ vào giá thành
bình quân của ngành, tính hợp lý của chi phí và quá trình sản xuất.
Giá cả là biể
u hiện mặt giá trị của sản phẩm chứa đựng trong nó nội
dung bù đắp hao phí vật chất dùng để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nên việc
lấy giá thành làm căn cứ lập giá là yêu cầu khách quan, vốn có trong nền sản
xuất hàng hoá và được biểu hiện đầy đủ trong nền kinh tế thị trường, mọi sự
thoát ly cơ sở lập giá thành sẽ làm cho giá cả không còn tính chất đòn bẩy để
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng
Hạnh
15
phát triển sản xuất kinh doanh mà sẽ kìm hãm sản xuất, gây ra những rối loạn
trong sản xuất và lưu thông hàng hóa.
- Chức năng đòn bẩy
Doanh lợi của doanh nghiệp cao hay thấp phụ thuộc trực tiếp vào giá
thành sản phẩm. Hạ thấp giá thành sản phẩm là biện pháp cơ bản để tăng
doanh lợi tạo nên tích luỹ để tái sản xuất và mở rộng sản xuất.
Cùng các phạm trù kinh tế nh
ư giá cả, lãi, chất lượng, thuế…giá thành
sản phẩm thực tế đã trở thành đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy các doanh
nghiệp tăng cường hiệu quả kinh doanh phù hợp với nguyên tắc hạch toán
kinh doanh. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường tính chất đòn bẩy kinh tế
của giá thành đặt ra yêu cầu cho từng bộ phận sản xuất và phải có biện pháp
hữu hiệu v
ừa tiết kiệm được chi phí, vừa sử dụng chi phí một cách hợp lý nhất
đối với từng loại hoạt động, từng khoản chi phí cụ thể.
1.1.3.2/ Phân loại giá thành sản phẩm

t trong kỳ. Chỉ tiêu này được xác định khi
kết thúc quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm. Giá thành thực tế sản phẩm là
chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả phấn đấu của doanh nghiệp trong
việc tổ chức và sử dụng các giải pháp kinh tế- kỹ thuật để thực hiện quá trình
sản xuất sản phẩm, là cơ sở để xác định kết quả ho
ạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, có ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của doanh
nghiệp.
* Phân loại giá thành theo phạm vi các chi phí cấu thành
Để phục vụ cho quyết định cụ thể, chỉ tiêu giá thành tính toán theo các
phạm vi chi phí khác nhau, theo tiêu thức này có các loại giá thành sau:
- Giá thành sản xuất (giá thành công xưởng): Là chỉ tiêu phản ánh
toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản
phẩm trong phạm vi phân xưởng sản xuấ
t. Các chi phí này gồm có chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất
chung tính cho những sản phẩm, công việc lao vụ đã hoàn thành. Nó là căn cứ
để tính giá vốn hàng bán và lãi gộp.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng
Hạnh
17
- Giá thành toàn bộ (hay giá thành tiêu thụ): Là chỉ tiêu phản ánh toàn
bộ các khoản chi phát sinh liên quan đến việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Giá thành tiêu thụ được xác định theo công thức sau:
Giá thành toàn bộ chỉ được xác định khi sản phẩm, công việc, lao vụ
được tiêu thụ, đây là căn cứ để tính toán xác định lãi trước thuế của doanh
nghiệp.

xuất sản phẩm
tiêu th

+
Chi phí
bán
hàng
Chi phí quản
lý doanh
nghiệp
+
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng
Hạnh
18
thể bao gồm chi phí phát sinh ở kỳ kế toán trước (trường hợp có sản phẩm dở
dang đầu kỳ), chi phí phát sinh trong kỳ và loại trừ đi chi phí tính cho sản
phẩm dở dang cuối kỳ (trường hợp có sản phẩm dở dang cuối kỳ hạch toán).
Qua sự phân tích trên ta thấy rằng chi phí sản xuất được xác định là chi phí
phát sinh kỳ này có liên quan cả tới các sản phẩm hoàn thành ở kỳ sau (nếu có
sản phẩm dở
dang) còn giá thành sản phẩm không những liên quan đến các
chi phí đã phát sinh trong kỳ mà còn liên quan đến các chi phí đã phát sinh ở
kỳ kế toán trước (trường hợp có sản phẩm dở dang đầu kỳ hạch toán). Mối
quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm được thể hiện khái quát
thông qua công thức tính giá thành sản phẩm giản đơn sau:
Z = Dđk + C - Dck
Trong đó:
Z : Tổng giá thành sản phẩm
Dđk, Dck : Trị giá sản phẩm làm dở đầu kỳ, cuối kỳ
C : Tổng chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ

học, hợp lý công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩ
m. Đây
là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt trong lý luận cũng như trong thực tiễn,
hạch toán là nội dung cơ bản nhất của tổ chức hạch toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm.
Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi, giới hạn tập hợp
chi phí sản xuất nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm soát chi phí và tính giá thành.
Tổ chức hạch toán trong quá trình sả
n xuất bao gồm hai giai đoạn kế tiếp
nhau và có quan hệ mật thiết với nhau đó là giai đoạn hạch toán chi tiết chi
phí sản xuất theo từng sản phẩm, nhóm sản phẩm, đơn đặt hàng, giai đoạn
công nghệ và giai đoạn tính sản phẩm, chi tiết sản phẩm, sản phẩm theo đơn
đặt hàng đã đặt hàng theo đơn vị tính giá thành quy định.
Việc phân chia này xuất phát từ yêu cầu quản lý, ki
ểm tra và phân tích
chi phí, yêu cầu hạch toán kinh doanh nội bộ, theo đặc điểm quy trình công
nghệ từng doanh nghịêp và yêu cầu tính giá thành theo đơn vị quy định. Có
thể nói việc phân chia quá trình hạch toán thành hai giai đoạn là do sự khác
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng
Hạnh
20
nhau cơ bản về giới hạn tập hợp chi phí sản xuất và sản phẩm hoàn thành cần
phải tính giá thành một đơn vị tức là đối tượng tính giá thành.
Để phân biệt được đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và đối tượng tính
giá thành ngay cả trong khi chúng đồng nhất là một cần phải dựa vào các cơ
sở sau:
- Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất
Theo tiêu thức này được phân thành:
+ Đố
i tượng sản xuất giản đơn: Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất có

phí. Về cơ bản, phương pháp hạch toán chi phí sản xuất bao gồm các phương
pháp hạch toán chi phí theo sản phẩ
m, theo đơn đặt hàng, theo giai đoạn công
nghệ… Nội dung chủ yếu của các phương pháp này là mở thẻ (hoặc sổ) chi
tiết hạch toán chi phí sản xuất theo từng đối tượng đã xác định, phản ánh các
chi phí phát sinh có liên quan đến đối tượng, hàng tháng tổng hợp chi phí theo
từng đối tượng. Mỗi phương pháp hạch toán chi phí chỉ thích hợp với một loại
đối tượng hạch toán chi phí nên tên gọi của các phương pháp này là biểu hiện
đối tượng mà nó cần tập hợp và phân loại chi phí.
1.2.2/ Trình tự kế toán và tổng hợp chi phí sản xuất
Tuỳ thuộc vào đặc điểm sản xuất của từng ngành nghề, từng doanh
nghiệp, vào mối quan hệ giữa các hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh
nghiệp, vào trình độ công tác quản lý và hạch toán… mà trình tự kế toán chi
phí ở các doanh nghiệp khác nhau thì không giống nhau. Tuy nhiên, có thể
khái quát chung việc tập hợp chi phí sản xuất qua các bước sau:
- B
ước 1: Tập hợp các chi cơ bản có liên quan trực tiếp cho từng đối
tượng sử dụng.
- Bước 2: Tính toán và phân bổ lao vụ của các ngành sản xuất kinh
doanh phụ có liên quan trực tiếp cho từng đối tượng sử dụng trên cơ sở khối
lượng lao vụ phục vụ và giá thành đơn vị lao vụ.
- Bước 3: Tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung cho các loại sản
phẩm có liên quan.
- Bước 4: Xác định chi phí s
ản xuất dở dang cuối kỳ.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng
Hạnh
22
Tuỳ theo phương pháp hạch toán hàng tồn kho áp dụng trong doanh
nghiệp mà nội dung cách thức hạch toán chi phí sản xuất có những điểm khác

phân bổ
=
Tổng chi phí nguyên vật liệu cần phân bổ

Tổng tiêu thức phân bổ
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng
Hạnh
23

+ Tính số chi phí phân bổ cho từng đối tượng:
Để tập hợp và phân bổ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán sử dụng
tài khoản 621- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Kết cấu TK 621
Bên nợ: Trị giá thực tế nguyên vật liệu trực tiếp sử dụng cho sản
xuất sản phẩm hoặc thực hiện công việc, dịch vụ, lao vụ trong kỳ.
Bên có: - Trị giá nguyên vật liệu trực tiếp sử dụng không hế
t nhập lại kho.
- T r ị giá phế liệu thu hồi
- Kết chuyển hoặc phân bổ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp để tính giá
thành sản phẩm.
Tài khoản 621 không có số dư.
Sơ đồ 1.1
KẾ TOÁN CHI PHÍ NGUYÊN VẬT LIỆU TRỰC TIẾP


phân
b

TK 152, 153, 142
TK 621 TK 152
TK 154
TK 111, 112, 141
Xuất NVL, CCDC

dùng vào sản xuất
NVL dùng không

hết nhập lại kho
Mua NVL dùng ngay
vào SX
TK 133
Kết chuyển

CPNVLTT
TK 411, 154
NVL liên doanh được cấp

vốn tự SX dùng ngay vào SX
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng
Hạnh
24
1.2.3.2/ Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp là những khoản tiền phải trả cho công nhân
trực tiếp sản xuất sản phẩm hoặc trực tiếp thực hiện các loại lao vụ, dịch vụ
gồm: Tiền lương chính, lương phụ, các khoản phụ cấp, tiền trích bảo hiểm xã

TK 334 TK 622 TK 154
Tiền lương phải trả

CNSX trực tiếp
TK 335
Trích trước tiền

lương nghỉ cho CNSX
trực tiếp
TK 338
Các khoản trích

theo lương
Kết chuyển

( hoặc phân bổ)
CPNCTT

Trích đoạn Kế toán chi phí trả trước Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (hoặc chi phí nguyên vật liệu chính trực tiếp). Quá trình hình thành và phát triển của công ty Cơ khí-Điện Thuỷ ới chức năng quản lý toàn bộ công tác kỹ thuật sản xuất của toàn công ty như ban hành các định mức vật tư nguyên liệu, lậ p các quy trình công
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status