BÁO CÁO THỰC TẬP
Hoàn thiện hạch toán chi phí
sản xuất và tính giá thành
sản phẩm tại công ty xi măng
Hải Phòng
Giáo viên hướng dẫn : Nguyễn Thanh Quý
Họ tên sinh viên : Kế toán 39B: Khoa kế toán
1
LỜI MỞ ĐẦU
Trong công tác quản lý kinh tế của các doanh nghiệp thì chi phí cho sản
xuất và tính gía thành sản phẩm là những công tác quan trọng luôn được các
doanh nghiệp quan tâm vì chúng gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp đứng
trước sự cạnh tranh gay gắt với nhau, không chỉ các doanh nghiệp tăng cường
đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất lao động mà còn phải quan tâm tới
công tác quản lý chi phí sả
n xuất. Quản lý kinh tế đảm bảo thúc đẩy quá trình
sản xuất kinh doanh ngày càng phát triển và điều quan trọng là phải tự bù đắp
được toàn bộ chi phí sản xuất và sản xuất phải có lãi. Muốn vậy, doanh nghiệp
phải tìm mọi biện pháp để quản lý tốt chi phí sản xuất hạ giá thành sản phẩm.
Để làm được điều đó, các nhà quản lý phải thường xuyên nắm bắt một
lượng thông tin kinh tế
cần thiết. Các thông tin về thị trường và các thông tin
trong nội bộ doanh nghiệp. Vì vậy, một trong những công cụ quản lý kinh tế
Phần III
: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kế toán ở công ty
xi măng Hải Phòng.
Vì thời gian và nhận thức còn hạn chế nên bài viết của em còn nhiều
thiếu xót. Em rất mong được sự đóng góp phê bình của thầy cô giáo và các cô
chú trong phòng kế toán tài chính của công ty để bài viết của em được hoàn
thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn sự chỉ bảo nhiệt tình của cô giáo Nguyễn
Thanh Quý, các thầy cô trong khoa kế toán, các cô chú trong phòng kế toán tài
chính của công ty xi măng Hả
i Phòng đã giúp đỡ em hoàn thiện hơn trong bài
viết này.
Kế toán 39B: Khoa kế toán
3
PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN
XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG
CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT.
I. Ý NGHĨA, VỊ TRÍ HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ
THÀNH SẢN PHẨM.
1.Ý nghĩa của chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
1.1. Chi phí sản xuất:
Sự phát sinh và phát triển của xã hội loài người gắn liền với quá trình
sản xuất - nền sản xuất xã hội của bất kỳ phương thức sản xuất nào cũng gắn
liền với sự vận động và tiêu hao các yếu tố cơ bản tạo nên quá trình sản xuất.
Như vậy, để tiến hành s
ản xuất hàng hoá, người sản xuất phải bỏ chi phí về thù
lao lao động về tư liệu lao động và đối tượng lao động. Vì thế sự hình thành
nên các chi phí sản xuất để tạo ra giá trị sản phẩm sản xuất là tất yếu khách
quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người sản xuất.
Giá trị sản phẩm dịch vụ bao gồm 3 bộ phận là: c,v,m
ức kinh tế, chi phí sản xuất chi ra
phải được xem xét trong mối quan hệ với mặt thứ 2 cũng là mặt cơ bản của quá
trình sản xuất kinh doanh là kết quả sản xuất thu được.Quan hệ so sánh đó đã
hình thành nên chỉ tiêu giá thành sản phẩm.
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao
phí về lao động sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lượng sản
phẩ
m dịch vụ, lao vụ hoàn thành trong kỳ
Giá thành sản phẩm được xác định cho từng loại sản phẩm, lao vụ cụ thể
và chỉ tính toán xác định với số lượng sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành, kết thúc
toàn bộ quá trình sản xuất (thành phẩm) hay hình thành một giai đoạn công
nghệ sản xuất (bán thành phẩm).
Trong giá thành sản phẩm chỉ bao gồm những chi phí tham gia trực tiếp
hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất, tiêu th
ụ phải được bồi hoàn để tái sản
xuất ở doanh nghiệp mà không bao gồm những chi phí phát sinh trong kỳ kinh
doanh của doanh nghiệp. Những chi phí đưa vào giá thành sản phẩm phải phản
ánh được giá trị thực của các tư liệu sản xuất tiêu dùng cho sản xuất, tiêu thụ và
các khoản chỉ tiêu khác có liên quan tới việc bù đắp giản đơn hao phí lao động
đời sống. Mọi cách tính chủ quan không phản ánh đúng các yếu tố giá trị trong
Kế toán 39B: Khoa kế toán
5
A
giá thành đều có thể dẫn đến việc phá vỡ các quan hệ hàng hoá - tiền tệ, không
xác định được hiệu quả kinh doanh và không thực hiện được tái sản xuất giản
đơn và tái sản xuất mở rộng.
1.3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Về thực chất, chi phí sản xuất và giá thành là 2 mặt khác nhau của quá
trình sản xuất . Chi phí sản xuất phản ánh mặt hao phí sản xuất , còn giá thành
sản phẩ
m bằng tổng chi phí phát sinh trong kỳ.
2. Sự cần thiết của việc hạch toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm đối với công tác qủan lý của doanh nghiệp
Công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm chủ yếu
cung cấp thông tin phục vụ cho công tác quản lý cho nên nó đóng vai trò quan
trọng trong công tác quản trị doanh nghiệp. Ngày nay, các doanh nghiệp là chủ
thể độc lập tự hạch toán kinh doanh, được quyền chủ động lựa ch
ọn phương án
sản xuất phù hợp, chịu trách nhiệm bù đắp chi phí bỏ ra, tạo lợi nhuận cao cho
doanh nghiệp. Để làm được điều này, các doanh nghiệp phải tổ chức hạch toán
chi phí sản xuất đầy đủ hợp lý tính toán chính xác giá thành sản phẩm. Thường
xuyên kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của từng loại chi phí phát sinh sẽ góp
Kế toán 39B: Khoa kế toán
6
phần quản lý tài sản vật tư tiền vốn, lao động có hiệu quả hơn và có biện pháp
phấn đấu hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm. Đó là điều kiện quan
trọng để doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường. Đồng
thời còn là tiền đề để xác định chính xác kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
3. Nhi
ệm vụ hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm:
Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành là một khâu quan trọng trong
công tác kinh tế, đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế thị trường thì việc xác
định đúng nội dung, phạm vi chi phí cấu thành giá thành sản phẩm, giá trị các
yếu tố chi phí đã chuyển dịch vào sản phẩm (công việc, lao vụ) đã hoàn thành
có ý nghĩa quan trọng và là một yêu cầu cấp bách. Để đáp ứ
ng những yêu cầu
quản lý, chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm kế toán có nhiệmvụ sau:
+ Căn cứ vào đặc điểm qui trình công nghệ sản xuất, đặc điểm tổ chức
sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp mà xác định đối tượng và phương pháp
giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp.
Căn cứ vào các tiêu thức khác nhau, chi phí của doanh nghiệp chia làm
nhiều loạ
i khác nhau.
1.1. Phân loại theo yếu tố chi phí:
Để phục vụ cho việc tập hợp, quản lý chi phí theo nội dung kinh tế ban
đầu đồng nhất của nó mà không xét đến công dụng cụ thể, địa điểm phát sinh,
chi phí được phân theo yếu tố.Cách phân loại này giúp cho việc xác định và
phát triển định mức vốn lưu động cũng như việc lập, kiểm tra và phân tích dự
toán chi phí.Theo qui định hiện hành ở Việt Nam. Toàn bộ chi phí được chia
làm 7 yế
u tố sau:
- Yếu tố nguyên vật liệu: Bao gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu chính,
vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ Sử dụng vào sản xuất kinh
doanh (loại trừ giá trị dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi, cùng
với nhiên liệu, động lực)
- Yếu tố nhiên liệu động lực sử dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh
trong kỳ (tr
ừ số lượng dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi.)
- Yếu tố tiền lương và các khoản phụ cấp lương: Phản ánh tổng số tiền
lương và phụ cấp mang tính chất lương phải trả công nhân viên chức.
- Yếu tố BHXH, BHYT, KPCĐ trích theo tỷ lệ qui định trên tổng số tiền
lương và phụ cấp lương phải trả cho công nhân viên chức.
Kế toán 39B: Khoa kế toán
8
-Yếu tố khấu hao TSCĐ: Phản ánh tổng số khấu hao tài sản cố định phải
trích trong kỳ của tất cả TSCĐ sử dụng trong sản xuất kinh doanh trong kỳ.
- Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ
mua ngoài dùng vào sản xuất kinh doanh.
- Yếu tố chi phí khác bằng tiền : Phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền
9
lại được phân theo quan hệ với khối lượngcông việc hoàn thành. Theo cách này
chi phí được chia thành những biến phí và định phí.
Biến phí là những thay đổi về tổng số, về tỷ lệ so với khối lượng công
việc hoàn thành, chẳng hạn chi phí về nguyên liệu, nhân công trực tiếp Cần
lưu ý rằng các chi phí biến đổi nếu tính trên một đơn vị sản phẩm thì lại có tính
cố định. Định phí là nhữ
ng chi phí không đổi về tổng số so với khối lượng
công việc hoàn thành, chẳng hạn về chi phí khấu haoTSCĐ, chi phí thuê mặt
bằng, phương tiện kinh doanh Các phí này nếu tính cho một đơn vị sản phẩm
thì lại biến đổi nếu sản lượng sản phẩm thay đổi.
2. Phân loại giá thành:
Để đáp ứng các yêu cầu quản lý, hạch toán và kế hoạch hoá giá thành
cũng như yêu cầu xác định giá cả hàng hoá, giá thành được xem xét dướ
i nhiều
góc độ nhiều phạm vi tính toán khác nhau. Về lý luận cũng như trên thực tế,
ngoài các khái niệm giá thành xã hội và giá thành cá biệt, còn có các giá thành
công xưởng, giá thành toàn bộ.
2.1. Phân loại theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành.
- Giá thành kế hoạch: Được xác định khi bước vào kinh doanh trên cơ
sở giá thành thực tế kỳ trước và các định mức, các dự toán chi phí của kỳ kế
hoạch.
- Giá thành định mức: Cũng như
giá thành kế hoạch, giá thành định
mức cũng được xác định trước khi bắt đầu sản xuất sản phẩm. Tuy nhiên, khác
với giá thành kế hoạch được xây dựng trên cơ sở các định mức bình quân tiên
tiến và không biến đổi trong suốt cả kỳ kế hoạch, giá thành định mức được xác
định trên cơ sở các định mức về chi phí hiện hành tại từng thời điểm trong kỳ
kế ho
ạch (thường là ngày đầu tháng ) nên giá thành định mức luôn thay đổi phù
Cách phân loại này có tác dụng giúp cho nhà quản lý biết được kết quả
kinh doanh lãi hoặc lỗ của từ
ng mặt hàng, từng loại dịch vụ mà doanh nghiệp
kinh doanh. Tuy nhiên do những hạn chế nhất định khi lựa chọn tiêu thức phân
bổ chi phí bán hàng và chi phí quản lý cho từng mặt hàng, từng loại dịch vụ
nên cách phân loại này chỉ còn mang ý nghĩa học thuật nghiên cứu.
III. ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN
XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM:
1.Đối tượng, phương pháp hạch toán chi phí sản xuất:
1.1. Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất:
Xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là công việc đầu tiên và
quan trọng của tổ chức hạch toán quá trình sản xuất. Tổ chức hạch toán quá
trình sản xuất bao gồm 2 giai đoạn kế tiếp nhau và có quan hệ mật thiết vơí
nhau. Đó là giai đoạn hạch toán chi tiết chi phí phát sinh theo từng sản ph
ẩm
nhóm sản phẩm, đơn đặt hàng, giai đoạn công nghệ, phân xưởng và giai đoạn
tính giá thành sản phẩm, chi tiết sản phẩm theo đơn vị tính giá thành qui định.
Việc phân chia này được xuất phát từ yêu cầu quản lý, kiểm tra và phân tích
chi phí , yêu cầu hạch toán kinh doanh nội bộ và theo đặc điểm tổ chức sản
xuất, đặc điểm quy trình công nghệ của từng doanh nghiệp và yêu cầu tính giá
Kế toán 39B: Khoa kế toán
11
thành sản phẩm theo đơn vị tính giá thành qui định. Như vậy, xác định đối
tượng hạch toán chi phí sản xuất chính là việc xác định giới hạn tập hợp chi phí
mà thực chất là xác định nơi phát sinh chi phí và chịu chi phí. Kế toán căn cứ
vào đặc điểm, tình hình cụ thể của doanh nghiệp để xác định đối tượng tập hợp
chi phí dựa trên căn cứ sau:
- Đặc điểm tổ ch
ức kinh doanh của doanh nghiệp.
- Đặc điểm phát sinh, mục đích công dụng của chi phí.
thành.Muốn vậy phải căn cứ vào đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh, qui
trình sản xuất công nghệ của doanh nghiệp. Đồng thời phải xác định đơn vị
tính của sản ph
ẩm dịch vụ đã được xã hội thừa nhận, phù hợp trong kế hoạch
sản xuất kinh doanh của đơn vị. Dựa vào căn cứ trên, đối tượng tính giá thành
có thể là:
- Từng sản phẩm, công việc đã hoàn thành
- Từng bộ phận chi tiết sản phẩm
- Sản phẩm hoàn thành ở cuối qui trình công nghệ hay bán thành phẩm
- Từng công trình, hạng mục công trình.
Xác định đối tượng tính giá thành đúng, phù hợp v
ới điều kiện, đặc điểm
của doanh nghiệp giúp cho kế toán tổ chức mở sổ kế toán và kiểm tra tình hình
thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu quản lý
nội bộ doanh nghiệp.
2.2 Phương pháp tính giá thành sản phẩm:
Trên cơ sở số liệu chi phí sản xuất đã tập hợp được và kết quả đánh giá
sả
n phẩm dở dang cuối kỳ, kế toán tiến hành tính giá thành cho các đối tượng
tính giá thành, phù hợp với kỳ tình giá thành và phương pháp tính giá thành
thích hợp.
Phương pháp tính giá thành sản phẩm là một phương pháp hoặc một hệ
thống phương pháp được sử dụng để tính giá thành đơn vị sản phẩm. Nó mang
tính thuần tuý kỹ thuật tính toán chi phí cho từng đối tượng tính giá thành. Việc
lựa chon phương pháp tính giá thành chủ yếu phụ thuộc vào đặc điểm v
ề đối
tượng hạch toán chi phí sản xuất, đối tượng tính giá thành sản phẩm. Một số
phương pháp tính giá thành thường được sử dụng là:
2.2.1. Phương pháp trực tiếp:
Phương pháp này được áp dụng ở các doanh nghiệp thuộc loại hình sản
sản xuất là các bộ phận chi tiết sản phẩm hoặc giai đoạn công nghệ hay bộ
phận sản xuất. Giá thành sản xuất được xác định bằng cách cộng chi phí sản
xuất của các bộ phận, chi tiết sản phẩm hay t
ổng chi phí sản xuất của các giai
đoạn, bộ phận sản xuất tạo nên thành phẩm:
giá thành sản phẩm = Z1 + Z2 + + Zn
Phương pháp tổng cộng chi phí được áp dụng phổ biến trong các doanh nghiệp
khai thác, dệt nhuộm, cơ khí, chế tạo
2.2.3. Phương pháp hệ số:
Phương pháp này áp dụng trong các doanh nghiệp mà trong cùng một
quá trình sản xuất cùng sử dụng một thứ nguyên liệu và một lượng lao động
nhưng thu được đồng th
ời nhiều sản phẩm khác nhau và chi phí không tập hợp
riêng cho từng loại sản phẩm được mà phải tập hợp chung cho cả quá trình sản
xuất. Theo phương pháp này, trước hết, kế toán căn cứ vào hệ số qui đổi để qui
đổi các loại sản phẩm về sản phẩm gốc (căn cứ vào đặc điểm kinh tế hoặc tính
chất của sản phẩm để qui định loại s
ản phẩm có đặc trưng tiêu biểu hệ số1) rồi
từ đó dựa vào tổng chi phí liên quan đến giá thành các loại sản phẩm đã tập
hợp để tính giá thành sản phẩm gốc và giá thành từng loại sản phẩm.
Giá thành của tất cả các loại sản phẩm
Giá thành đơn vị sản phẩm gốc =
Giá thành đơn vị SP
Tổng giá thành sản phẩm hoàn thành
Số lượng sản phẩm hoàn thành
=
Kế toán 39B: Khoa kế toán
14
Tổng số sản phẩm gốc (kể cả qui đổi)
+
Tổng chi phí
sản xuất phát
sinh trong kỳ
-
Giá trị sản
phẩm dở dang
cuối kỳ
2.2.4. Phương pháp tỷ lệ:
Trong các doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm có quy cách phẩm
chất khác như may mặ
c, dệt kim, đóng giầy, cơ khí chế tạo v.v để giảm bớt
khối lượng hạch toán, kế toán tiến hành tập hợp chi phí sản xuất theo nhóm sản
phẩm cùng loại. Căn cứ vào tỷ lệ chi phí giữa chi phí thực tế với chi phí sản
xuất kế hoạch (hoặc định mức), kế toán sẽ tính ra giá thành đơn vị và tổng giá
thành từng loại
Giá thành
thực tế đơn vị
SP từng loại
=
Giá thành kế hoạch
(hoặc định mức) đơn
vị sản phẩm từng loại
x
Tỷ lệ
chi phí
+Tổng chi
phí sản xuất
phát sinh
trong kỳ
-
giá trị SP
phụ thu
hồi ước
tính
-
giá trị
SP chính
dở dang
cuối kỳ
2.2.6. Phương pháp tính liên hợp:
Áp dụng trong các doanh nghiệp có tổ chức s
ản xuất, tính chất quy trình
công nghệ và tính chất sản phẩm làm ra đòi hỏi việc tính giá thành phải kết hợp
nhiều phương pháp khác nhau như các doanh nghiệp hoá chất, dệt kim, đóng
giầy Trên thực tế kế toán có thể kết hợp tổng cộng chi phí với phương pháp tỷ
lệ, hệ số với loại trừ giá trị sản phẩm phụ
3. Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành ở m
ột số
loại hình doanh nghiệp:
3.1. Doanh nghiệp sản xuất giản đơn:
Thường là những doanh nghiệp chỉ sản xuất một hoặc một ít mặt hàng
quản lý, mặc dù cuối kỳ đơn đặt hàng chưa hình thành nhưng cần xác định khối
lượng công việc đã thực hiện trong kỳ, kế toán phải sử dụng giá thành kế hoạch
hay giá thành định mức để xác định bộ phận công việc đã hoàn thành từ đó tính
ra gía trị
của khối lượng công việc dở dang.
3.3. Doanh nghiệp áp dụng hệ thống hạch toán định mức:
Trên cơ sở hệ thống định mức tiêu hao lao động,vật tư hiện hành và chi
phí sản xuất chung, kế toán sẽ xác định giá thành định mức của từng loại sản
phẩm. Đồng thời, hạch toán riêng các thay đổi, các chênh lệch so với định mức
trong quá trình sản xuất sản phẩm và phân tích toàn bộ chi phí thự
c tế phát sinh
trong kỳ thành ba loại: Theo định mức, chênh lệch do thay đổi định mức và
chênh lệch so với định mức. Từ đó, tiến hành xác định giá thành thực tế của
sản phẩm bằng cách:
Kế toán 39B: Khoa kế toán
17
Giá thành
thực tế
sản phẩm
=
giá thành
định mức
sản phẩm
±
chênh lệch
do thay đổi
định mức
±
chênh lệch
phương án không có bán thành phẩm. Phương pháp tính giá thành thường là
phương pháp trực tiếp kết hợp với phương pháp tổng cộng hay tỷ lệ (hoặc hệ
số)
Kế toán 39B: Khoa kế toán
18
Tính giá thành phân bước theo phương án có tính giá thành bán
thành phẩm:
Phương pháp này thường áp dụng ở các doanh nghiệp có yêu cầu hạch toán
kinh tế nội bộ cao hoặc bán thành phẩm bán ra ngoài. Đặc điểm của phương
pháp hạch toán này là khi tập hợp chi phí sản xuất của các giai đoạn công nghệ,
giá trị bán thành phẩm của các bước trước chuyển sang bước sau được tính
theo giá thành thực tế và được phản ánh theo từng khoản mục chi phí. Việc
tính giá thành phải tiến hành lần lượt từ bước 1 sang bước 2 cho đến bước
cuối cùng tính ra giá thành sản phẩm nên còn gọi là kết chuyển tuần tự
Qui trình tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo phương án
này như sơ đồ sau:
SƠ ĐỒ 1
: TRÌNH TỰ HẠCH TOÁN CPSX VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM THEO PHƯƠNG
ÁN PHÂN BƯỚC CÓ TÍNH GIÁ THÀNH BÁN THÀNH PHẨM
Giá thành
bán thành
phẩm bước 1
=
Chi phí
nguyên vật
liệu chính
+
Giá trị sản
phẩm dở dang
cuối kỳ bước 2 Tổng giá
thành thành
phẩm
=
Giá thành bán
thành phẩm
bước (n-1)
+
chi phí
chế biến
bước n
-
Giá trị sản phẩm
dở dang cuối kỳ
bước n
Tính giá thành phân bước theo phương án không có bán thành phẩm:
Trong những doanh nghiệp mà yêu cầu hạch toán kinh tế nội bộ không
cao hoặc bán thành phẩm chế biến ở từng bước không bán ra ngoài thì chi phí
chế biến phát sinh trong các giai đoạn công nghệ được tính nhập vào giá thành
Kế toán 39B: Khoa kế toán
19
20
IV. HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN
PHẨM:
1. Hạch toán chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thường
xuyên:
1.1. Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
1.1.1. Khái niệm và cách thức tập hợp, phân bổ :
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm giá trị nguyên vật liệu,nhiên
liệu,vật liệu phụ xuất dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm. Đối với
những vật liệu khi xuất dùng có liên quan trực tiếp đến từng đối tượ
ng tập hợp
chi phí riêng biệt ( phân xưởng, bộ phận sản xuất hoặc sản phẩm, loại sản
phẩm, lao vụ, dịch vụ ) thì hạch toán trực tiếp cho đối tượng đó. Trường hợp
vật liệu xuất dùng có liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí, không thể
tổ chức riêng biệt thì phải áp dụng phương pháp phân bổ gián tiếp để phân bổ
chi phí cho các đối tượng có liên quan. Tiêu thứ
c phân bổ thường được sử dụng
là phân bổ theo định mức tiêu hao, theo hệ số, theo trọng lượng, số lượng sản
phẩm công thức phân bổ như sau:
Chi phí vật liệu phân bổ
cho từng đối tượng
=
Tổng chi phí vật
liệu cần phân bổ
x
tỷ lệ (hay hệ số)
phân bổ
Tổng tiêu thức phân bổ của từng đối tượng
Trong đó: Tỷ
lệ hệ số phân bổ =
Chí phí nhân công trực tiếp là khoản thù lao lao động phải trả cho công
nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm, trực tiếp thực hiện các lao vụ, dịch vụ như
tiền lương chính, lương phụ và các khoản phụ cấp có tính chất lương (phụ cấp
khu vực, đắt đỏ, độc hại, phụ cấp làm đêm thêm gi
ờ ). Ngoài ra, chi phí nhân
công trực tiếp còn bao gồm các khoản đóng góp cho các quỹ BHXH, BHYT,
KPCĐ do chủ sử dụng lao động chịu và tính vào chi phí theo một tỷ lệ nhất
định với số tiền lương phát sinh của công nhân trực tiếp.
Chi phí nhân công trực tiếp được tập hợp như chi phí nguyên vật liệu
chính. Chi phí nhân công trực tiếp thường được tính vào từng đối tượng chịu
chi phí. Trường hợp chi phí nhân công trực tiếp sản xuất có liên quan đến nhi
ều
đối tượng sản xuất mà không hạch toán trực tiếp tiền lương phụ, các khoản phụ
hoặc tiền lương chính trả theo mà người lao động thực hiện nhiều công tác
khác nhau trong ngày thì ta có thể phân bổ chi phí nhân công trực tiếp theo
Vật liệu dùng trực tiếp chế tạo sản
phẩm tiến hành lao vụ dịch vụ
Vật liệu dùng không hết
nhập kho, phế liệu thu hồi
Cuối kỳ kết chuyển chi
phí NVLTT
TK154
TK152
TK621TK 152.TK151.331
Kế toán 39B: Khoa kế toán
22
các tiêu thức phân bổ thích hợp như: theo định mức hoặc theo giờ công lao
động, khối lượng sản phẩm sản xuất tuỳ theo điều kiện cụ thể.
1.2.2. Tài khoản sử dụng
Các khoản đóng góp theo tỷ lệ với tiền
lương của CNTTSX thực tế phát sinh
TK335
Trích trước lương nghỉ phép cho
CNTTSX
Kế toán 39B: Khoa kế toán
23
1.3. Chi phí sản xuất chung:
1.3.1. Khái niệm, cách thức tập hợp và cách phân bổ chi phí sản xuất
chung:
Chi phí sản xuất chung là những chi phí cần thiết còn lại để sản xuất sản
phảm sau chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp.Đây là
những chi phí phát sinh trong phạm vi các phân xưởng, các bộ phận tổ, đội sản
xuất (như chi phí về tiền công và các chi phí khác phải trả cho công nhân quản
lý phân xưởng, chi phí khấu hao TSCĐ dùng cho phân xưởng )
Các chi phí sản xuất chung thường được hạch toán chi tiết riêng cho
từng địa điểm phát sinh chi phí, sau đó mới tiến hành phân bổ cho các đối
tượng có liên quan. Có nhiều tiêu thức để phân bổ chi phí sản xuất chung như:
phân bổ theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, theo định mức chi phí sản xuất
chung, theo chi phí tiền công trực tiếp
Tổng tiêu thức phân bổ của
từng đối tượng
Mức chi phí
sản xuất chung
phân bổ
cho
từng đối tượng
=
Tổng tiêu thức phân bổ của
tất cả các đối tượng