Luận văn tốt nghiệp
ĐỀ TÀI:
Giải pháp tăng cường hoạt động cho
vay tại Ngân hàng Công Thương
Tỉnh Hưng Yên Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Vũ Thị Thu Hiền- TCC 41A 55
LỜI NÓI ĐẦU
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính quan trọng nhất trong nền
kinh tế. Và hoạt động cho vay là một trong những hoạt động quan trọng nhất
không những đối với Ngân hàng, mà còn là còn đối với các doanh nghiệp , tổ
chức, cá nhân, hộ gia đình.
THƯƠNG TỈNH HƯNG YÊN
CHƯƠNGIII: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY
TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG TỈNH HƯNG YÊN
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Vũ Thị Thu Hiền- TCC 41A 55
CHƯƠNG I
HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I. CÁC HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1. Khái niệm về Ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền
kinh tế. Ngân hàng bao gồm nhiều loại tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền
kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó Ngân hàng thương
mại thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng
các Ngân hàng.
Ngân hàng thương mại có một quá trình phát triển lâu dài từ thấp đến
cao, từ
đơn giản đến phức tạp. Khi mới ra đời, tổ chức và nhiệm vụ hoạt động
của nó rất đơn giản nhưng càng về sau theo đà phát triển của kinh tế hàng hoá,
tổ chức của các Ngân hàng cũng như nhiệm vụ của nó ngày càng phát triển và
hoàn thiện hơn.
Ngân hàng thương mại là một tổ chức tài chính trung gian mà hoạt động
chủ yếu của Ngân hàng thương mại là tiếp nhậ
n các khoản tiền nhàn rỗi trong
nền kinh tế với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực
ười đóng vai trò hai
mặt đối với Ngân hàng. Thứ nhất, họ là những người cung cấp các điều kiện
để Ngân hàng hoạt động. Họ là những người tạo nguồn vốn cho Ngân hàng.
Thứ hai, họ là những khách hàng sử dụng các sản phẩm của Ngân hàng, như
cho đi vay, sử dụng các dịch vụ của Ngân hàng. Phần lớn, những khách hàng
này, lại sử dụng chính những đồng tiền mà họ đ
ã gửi vào. Vì vậy, khách hàng
chính là những người cung cấp đầu vào cho Ngân hàng và họ cũng chính là
người sử dụng sản phẩm đầu ra của Ngân hàng.
Ngân hàng là một đơn vị doanh nghiệp theo cách phân nghành kinh tế.
2. Các hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thương mại
2.1. Hoạt động huy động vốn
2.1.1. Nguồn vốn của Ngân hàng thương mại gồm
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Vũ Thị Thu Hiền- TCC 41A 55
2.1.1.1. Nguồn vốn chủ sở hữu
Để bắt đầu hoạt động của Ngân hàng chủ Ngân hàng phải có một lượng
vốn nhất định.
Nguồn vốn hình thành ban đầu: tuỳ theo tính chất của mỗi Ngân
hàng mà nguồn vốn hình thành vốn ban đầu khác nhau: do ngân sách nhà
nước cấp ,do các bên liên doanh đóng góp, hoặc vốn thuộc sở hữu tư nhân
Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động: nguồn từ lợ
i nhuận,
phát hành thêm cổ phần,góp thêm cấp thêm.
Các quỹ
2.1.1.2. nguồn tiền gửi
Tiền gửi thanh toán: là tiền của các doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi
vào Ngân hàng để nhờ Ngân hàng giữ hộ, thanh toán.
Ngân hàng thương mại - đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng
hoạt động của Ngân hàng thương mại. Hoạt động huy động vốn là hoạt động
thường xuyên của Ngân hàng thương mại. Một Ngân hàng thương mại bất kì
nào cũng bắt đầu hoạt động c
ủa mình bằng việc huy động nguồn vốn. Đối
tượng huy động của Ngân hàng thương mại là nguồn tiền nhàn rỗi trong các tổ
chức kinh tế, dân cư. Nguồn vốn quan trọng nhất,và chiếm tỷ trọng cao nhất
trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng thương mại là tiền gửi của khách hàng.
Các Ngân hàng thương mại nhận tiền gửi của các cá nhân, các tổ chức
kinh tế xã hội, thậm chí cả ngu
ồn tiền của các Ngân hàng khác.
Khi những người có tiền chưa sử dụng đến họ có thể đem ra đầu tư hoặc
gửi Ngân hàng để nhận tiền lãi. Thông thường họ gửi tiền vào Ngân hàng, vì
đây là cách đơn giản, ít tốn kém chi phí để tìm kiếm cơ hội đầu tư mà vẫn có
lãi và đây là cách ít rủi ro nhất. Ngoài ra người gửi tiền vào Ngân hàng cũng
mong muốn được sử dụng các dịch vụ củ
a Ngân hàng như chuyển tiền cho
người thân ở nơi khác, thanh toán hộ các hoá đơn phát sinh, bảo quản các tài
sản có giá trị lớn Khi gửi tiền vào Ngân hàng, người gửi tiền có thể vay
Ngân hàng một khoản tiền mà không cần thế chấp vì họ đã có một số tiền gửi
nhất định ở Ngân hàng, coi như một khoản đảm bảo.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Vũ Thị Thu Hiền- TCC 41A 55
Còn Ngân hàng có thể muốn tìm kiếm thêm thu nhập từ lệ phí nhận tiền
gửi, tuy nhiên lý do chính Ngân hàng nhận tiền gửi để tạo nguồn cho vay, từ
đó Ngân hàng có thể đầu tư, kinh doanh tìm kiếm được những khoản thu nhập
lớn hơn.
Hoạt động nhận tiền gửi của Ngân hàng có ý nghĩa to lớn với người gửi
tiền, nền kinh tế, cũng như bản thân Ngân hàng. Thông qua hoạt động này mà
Ngân hàng có thể tậ
Khi đã huy động được vốn rồi, nắm trong tay một số tiền nhất định thì
các Ngân hàng thương mại phải làm như thế nào để hiệu quả hoá những
nguồn này, nghĩa là tìm cách để những khoản tiền đó được đầ
u tư đúng nơi,
đúng chỗ, có hiệu quả, an toàn, đem lại nhiều lợi nhuận cho Ngân hàng. Và
hoạt động sử dụng vốn của Ngân hàng bằng những cách sau: Ngân hàng đã tài
trợ lại cho nền kinh tế dưới dạng các thành phần kinh tế vay, hoặc Ngân hàng
đầu tư trực tiếp, Ngân hàng tham gia góp vốn cùng kinh doanh hay cho thuê
tài sản,Ngân hàng gửi tiền tại các Ngân hàng khác- tại Ngân hàng Nhà nước-
những tổ chức tín dụng khác, Ngân hàng đầu tư trên thị tr
ường chứng khoán ,
Ngân hàng nắm giữ chứng khoán vì chúng mang lại thu nhập cho Ngân hàng
và có thể bán đi để ra tăng ngân quỹ khi cần thiết Những đối tượng tài trợ
không chỉ có các tổ chức kinh tế thực hiện hoạt động trong lĩnh vực thương
mại mà còn có cả các cá nhân tiêu dùng, thậm chí Chính phủ cũng được Ngân
hàng tài trợ dưới những hình thức : Ngân hàng thương mại mua tín phiếu kho
bạc, trái phiếu của chính phủ trên thị trườ
ng tiền tệ. Sự phát triển của hoạt
động cho vay, đã giúp Ngân hàng có vị trí ngày càng quan trọng trong sự phát
triển của nền kinh tế. Hơn nữa thông qua hoạt động cho vay, Ngân hàng
thương mại có khả năng “tạo tiền” hay mở rộng lượng tiền cung ứng. Tuy
nhiên hoạt động cho vay của Ngân hàng chứa đựng nhiều yế tố rủi ro nên
Ngân hàng thường áp dụng các nguyên tắc hoạt động và quản lý tiền vay một
cách chặ
t chẽ.
Lãi thu được từ hoạt động cho vay, Ngân hàng sẽ dùng nó để trả lãi suất
cho nguồn vốn đã huy động và đi vay, thanh toán những chi phí trong hoạt
động, phần còn lại sẽ là lợi nhuận của Ngân hàng. Cho vay là hoạt động kinh
doanh chủ chốt của Ngân hàng thương mại để tạo ra lợi nhuận, chỉ có lãi suất
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.3. Ngân hàng thực hiện các dịch vụ trung gian
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Vũ Thị Thu Hiền- TCC 41A 55
Ngoài hai hoạt động cơ bản là hoạt động huy động vốn và hoạt động sử
dụng vốn thì Ngân hàng thương mại cũng thực hiện các dịch vụ trung gian cho
khách hàng của mình. Các dịch vụ này được coi là hoạt động trung gian bởi
vì khi thực hiện các hoạt động này Ngân hàng không đứng vai trò là con nợ
hay chủ nợ mà đứng ở vị trí trung gian để thoả mãn nhu cầu khách hàng về
dịch vụ mà khách hàng cần.
Ngày nay, các dịch vụ c
ủa Ngân hàng không ngừng phát triển cả về số
lượng và chất lượng, các dịch vụ ngày càng đa dạng. Hoạt động trung gian
gồm rất nhiều loại dịch vụ khác nhau: như dịch vụ thu hộ chi hộ cho khách
hàng có tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng, dịch vụ chuyển khoản từ tài khoản
này từ tài khoản này đến tài khoản khác ở cùng một Ngân hàng hay ở hai
Ngân hàng khác nhau; dịch vụ tư vấn cho khách hàng các vấn
đề tài chính,
dich vụ giữ hộ các chứng từ, vật quý giá dịch vụ chi lương cho các doanh
nghiệp có nhu cầu; dịch vụ khấu trừ tự động. Đây là những khoản chi thường
xuyên trong tháng, nếu không có dịch vụ này khách hàng sẽ tốn nhiều thời
gian và phiền toái khi thanh toán các khoản này, cung cấp các phương tiện
thanh toán không dùng tiền mặt.
Nền kinh tế càng phát triển, các dịch vụ Ngân hàng theo đó cũng phát
triển theo để đáp ứng nhu c
ầu ngày càng đa dạng của công chúng thực hiện
nghiệp vụ trung gian mang tính dịch sẽ đem lại cho Ngân hàng những khoản
thu nhập khá quan trọng. Điều cần lưu ý là dịch vụ Ngân hàng sẽ giúp Ngân
hàng phát triển toàn diện.Tại các nước phát triển, các Ngân hàng thương mại
cạnh tranh với nhau bằng con đường “phi giá”, tức là luôn có những dịch vụ
nghĩa về hoạt động cho vay, có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng nói tóm
lại, có thể định nghĩa hoạt động cho vay của Ngân hàng là hoạt động cung ứng
tiền cho tất cả các khách hàng có nhu cầu về tiền
để phục vụ cho mục đích sản
xuất kinh doanh hay tiêu dùng.
Và hoạt động cho vay với vị trí khá quan trọng của mình có vai trò như
sau:
*Hoạt động cho vay mang lại lợi nhuận lớn cho Ngân hàng và thúc
đẩy các hoạt động khác của Ngân hàng:
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Vũ Thị Thu Hiền- TCC 41A 55
Hoạt động cho vay là một trong những hoạt động lớn của Ngân hàng
doanh thu từ hoạt động này thường chiếm 70% doanh thu, ở các nước phát
triển, hay đến 90% doanh thu của Ngân hàng, ở các nước đang phát triển.
Hiện nay 80% doanh thu của các Ngân hàng thương mại là từ hoạt động
tín dụng, mà hoạt động cho vay chiếm tỷ trọng lớn.
Mặt khác, nhờ có hoạt động cho vay, mà các đơn vị kinh tế có thể vay
của Ngân hàng để đầu t
ư cho hoạt động sản xuất kinh doanh, lợi nhuận thu
được không những doanh nghiệp đủ tiền trả cho Ngân hàng mà còn có tiền gửi
vào Ngân hàng, nghĩa là làm tăng hoạt động huy động vốn của Ngân hàng.
Mặt khác khi sản xuất kinh doanh phát triển, xã hội phát triển thì các hoạt
động dịch vụ của Ngân hàng cũng phát triển.
* Hoạt động cho vay góp phần điều hoà cung- cầu dịch vụ hàng hoá:
Doanh nghiệp muốn sản xuất kinh doanh, hoặc m
ở rộng sản xuất kinh
doanh mà thiếu vốn thì doanh nghiệp phải vay vốn của Ngân hàng. Nhưng
doanh nghiệp chỉ thu được lợi nhuận cũng như có khả năng trả nợ Ngân hàng
khi doanh nghiệp tiêu thụ được hết số sản phẩm hàng hoá đã sản xuất ra, hay
nảy sinh nhu cầu ngày càng bức thiết phải giải quyết được vấn
đề điều hoà
vốn. Ngân hàng thương mại với vai trò là một trung gian tài chính đứng ra tập
trung phân phối lại tiền tệ, điều hoà cung và cầu vốn cho các doanh nghiệp, đã
góp phần điều tiết lại nguồn vốn, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp không bị gián đoạn.
* Hoạt động cho vay góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghi
ệp hoá, hiện đại hoá
Nhiều thành phần kinh tế, phần lớn nguồn vốn đi vay từ Ngân hàng để
bắt tay vào ngành thương mại dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn (Ví dụ kinh tế ngoài
quốc doanh chiếm tới trên 70%). Do vậy bằng các chính sách cho vay, định
hướng chung của nhà nước góp phần tạo cho nền kinh tế một cơ cấu kinh tế
hợp lý, cân đối.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Vũ Thị Thu Hiền- TCC 41A 55
Bằng những công cụ tín dụng Ngân hàng, Ngân hàng có thể cho vay ưu
đãi những nghành nghề cần thiết để phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế
của Đảng và nhà nước trong từng giai đoạn cụ thể.
* Hoạt động cho vay góp phần giúp các thành phần kinh tế mở rộng
ứng dụng công nghệ mới
Với những doanh nghiệp trình độ trang bị kĩ thuật còn thấp kém, công
nghệ thấp kém, chắ
p vá, thiếu đồng bộ làm giảm ưu thế của các doanh nghiệp
, làm cho các doanh nghiệp đó kém phát triển. Thông qua vốn vay của Ngân
hàng, doanh nghiệp dùng đồng vốn này để đầu tư, tìm kiếm những công nghệ
hiện đại, đổi mới dây truyền sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra
nhiều sản phẩm thoả mãn nhu cầu trong và ngoài nước. Như vậy hoạt động
phục vụ hoạt động kinh doanh của mình, nhằm mở rộng sản xuất hay đáp ứng
một nhu cầu nào đó về tiền của doanh nghiệp. Dựa vào đặc điểm của từng
ngành mà Ngân hàng sẽ thiết lập các điều kiện cho vay, phương thức cho vay,
cách thức trả nợ d
ựa trên nguồn thu tiền bán hàng của doanh nghiệp. Có thể
phân chia loại hình này theo tiêu thức cho vay doanh nghiệp sản xuất và cho
vay thương mại hay có thể cho vay theo các ngành nghề kinh tế: Cho vay
ngành công nghiệp, ngành nông nghiệp, cho vay ngành dịch vụ.
2. Dựa theo thời hạn cho vay có 2 hình thức là cho vay ngắn hạn và
cho vay trung-dài hạn.
*Cho vay ngắn hạn:
Hình thức cho vay này nhằm tài trợ cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu sử
dụng vốn ngắn hạn của nhà nước, doanh nghiệp, hộ
sản xuất. Cho vay ngắn
hạn trong những trường hợp sau:
Ngân hàng cho nhà nước vay để tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của nhà
nước. Hình thức phổ biến hiện nay là Ngân hàng mua trái phiếu do kho bạc
phát hành. Khả năng hoàn trả của nhà nước rất cao, song cũng không loại trừ
có những trường hợp Nhà nước mất khả năng chi trả khi đến hạn.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Vũ Thị Thu Hiền- TCC 41A 55
Ngân hàng cho vay đối với các tổ chức tài chính như các Ngân hàng, các
công ty tài chính, quỹ tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản. Một số
công ty chứng khoán vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng thương mại trong quá
trình bảo lãnh và phân phối chứng khoán cho công ty phát hành. Phần lớn các
khoản cho vay này đều dựa trên uy tín của người vay.
Ngân hàng cho vay đối với doanh nghiệp nhằm tài trợ nhu cầu vốn tăng
thêm cho sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp là khách hàng chiếm số lượng
đông nhất c
định khả năng hoà trả của doanh nghiệp
3. Dựa theo hình thức đảm bảo của các khoản vay có 2 hình thức cho
vay là cho vay có đảm bảo và cho vay không có đảm bảo.
*Cho vay có đảm bảo :
Đây là những khoản cho vay mà bên cạnh việc cho khách hàng vay vốn,
Ngân hàng còn nắm giữ tài sản của người vay với mục đích xử lý tài sản đó để
thu hồi vốn vay khi người đi vay vi phạm hợp đồng tín dụng. Quá trình cung
ứng vốn củ
a Ngân hàng thương mại, không kể dưới hình thức nào đều làm
tăng khối lượng tiền vào nền kinh tế, làm tăng khối lượng hàng hoá trên thị
trường. Ngoài ra khi thực hiện việc cho vay Ngân hàng không trực tiếp quản
lý nguồn vốn của mình vì thế có rất nhiều rủi ro xảy ra, nguy cơ không thu hồi
đủ vốn vay là rất cao vì thế các Ngân hàng khi cho vay thường yêu cầu người
vay phải có tài sản bảo đảm cho khoản vay.
Trong cho vay kinh doanh nguồn thu lợi thứ
nhất là doanh thu đối với
vay vốn lưu động, hoặc là khấu hao, lợi nhuận đối với những khoản vay trung
và dài hạn. Cho vay tiêu dùng nguồn thu nợ thứ nhất của Ngân hàng là thu
nhập cá nhân như tiền lương, các khoản thu nhập tài chính và các khoản thu
nhập khác. Khi đánh giá các hoạt động của khách hàng, nếu Ngân hàng nhận
thấy là nguồn thu nhập thứ nhất không có cơ sở chắc chắn thì Ngân hàng phải
yêu cầu thiết lập thêm chính sách pháp lý
để có thêm nguồn thu nợ thứ hai,
chính là tài sản đảm bảo cho khoản vay đó.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Vũ Thị Thu Hiền- TCC 41A 55
*Các khoản cho vay không có đảm bảo :
Là khoản cho vay mà Ngân hàng không nắm giữ tài sản của người đi vay
cho mỗi thành viên. Vì vậy việc phát triển kinh tế, làm giầu, xoá đói giản
nghèo luôn được các trung gian rất quan tâm.
Ngân hàng cũng có thể cho vay thông qua người bán lẻ các sản phẩm đầu
vào của quá trìmh sản xuất. Việc cho vay theo cách này sẽ hạn chế người vay
sử dụng tiền sai mục đích.
Cho vay gián tiếp thường được áp dụng đối với thị trường có nhiều món
vay nhỏ, người vay phân tán, cách xa Ngân hàng. Trong trường hợp như vậy
cho vay trung gian có thể tiế
t kiệm chi phí cho vay ( phân tích, giám sát, thu
nợ )
Cho vay trung gian đều nhằm giảm bớt rủi ro chi phí của Ngân hàng. Tuy
nhiên nó cũng bộc lộ các khiếm khuyết. Nhiều trung gian đã lợi dụng vị thế
của mình và nếu Ngân hàng không kiểm soát tốt sẽ tăng lãi suất để cho vay lại
hoặc giữ lấy số tiền của các thành viên khác cho riêng mình. Các nhà bán lẻ có
thể lợi dụng để bán hàng kém chất lượng hoặc với giá cho người vay vốn.
IV. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1. Các nhân tố ảnh hưởng thuộc về bản thân Ngân hàng.
Hoạt động cho vay Ngân hàng ngày càng tăng cường phụ thuộc phần lớn
vào các nhân tố tạo nên sức mạnh của Ngân hàng.
* Nguồn vốn của Ngân hàng:
Một Ngân hàng cũng như một doanh nghiệp, muốn tiến hành hoạt động
sản xuất kinh doanh thì phải có vốn. Hai nguồn vốn chủ yếu của Ngân hàng là
vốn tự có và vốn huy động.
Ngân hàng thương mại n
ằm trong hệ thống Ngân hàng chịu sự tác động
của chính sách tiền tệ, chịu sự quản lý của Ngân hàng trung ương và tuân thủ
các qui định của luật Ngân hàng. Một Ngân hàng chỉ được huy động một số
vốn gấp 20 lần số vốn tự có. Điều đó có nghĩa là nếu vốn tự có càng lớn, khả
xử lý các khoản vay có vấn đề tất cả
các yếu tố đó có tác dụng trực tiếp và
mạnh mẽ đến việc mở rộng cho vay của Ngân hàng. Nếu như tất cả những
yếu tố thuộc chính sách tín dụng đúng đắn, hợp lý, linh hoạt, đáp ứng được
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Vũ Thị Thu Hiền- TCC 41A 55
các nhu cầu đa dạng của khách hàng về vốn thì Ngân hàng đó sẽ thành công
trong việc tăng cường hoạt động cho vay, nhưng vẫn đảm bảo được chất lượng
tín dụng. Ngược lại, những yếu tố này bất hợp lý, cứng nhắc, không theo sát
tình hình thực tế sẽ dẫn đến khó khăn trong việc tăng cường hoạt động cho
vay của mình.
Ngân hàng càng đa dạng hoá các mức lãi suất phù hợp vớ
i từng loại
khách hàng, từng kỳ hạn cho vay và chính sách khách hàng hấp dẫn thì càng
thu hút được khách hàng, thực tốt mục tiêu mở rộng hoạt động cho vay.
Nhưng nếu lãi suất không phù hợp quá cao hay quá thấp, không có lãi suất ưu
đãi thì sẽ không thu hút được nhiều khách hàng và như vậy sẽ hạn chế hoạt
động cho vay của Ngân hàng
* Thông tin tín dụng
khó có thể tưởng tượng nổi một doanh trong môi trường luôn biến động
và cạnh tranh gay gắt như ngày nay mà không cầ
n đến thông tin. Thông tin trở
thành vấn đề thiết yếu, không thể thiếu được với mọi doanh nghiệp nói chung,
Ngân hàng thương mại nói riêng. Trong hoạt động cho vay,Ngân hàng cho
vay chủ yếu dựa trên sự tin tưởng đối với khách hàng. Mức độ chính xác của
sự tin tưởng này lại phụ thuộc vào chất lượng thông tin mà Ngân hàng có
được.
Để ngày càng cường hoạt động cho vay đạt hiệu quả, chất lượng cao,
Ngân hàng thương mại phải nắm bắ
đối
thủ cạnh tranh không có như trụ sở khang trang đặt ở vùng tập trung nhiều
khách hàng, vốn tự có lớn, thu nhận được nhiều cán bộ giỏi. Song do cán bộ
điều hành lãnh đạo không sắc sảo, nhạy bén, không nắm bắt, điều chỉnh hoạt
động Ngân hàng theo kịp các tín hiệu thông tin, không sử dụng nhân viên
đúng sở trường, dẫn đến lãng phí các nguồn lực Ngân hàng mình có, giảm
hiệu quả chi phí, tất nhiên hạ thấp
đi hoạt động cho vay của Ngân hàng .
Năng lực lãnh đạo của những người điều hành ảnh hưởng rất lớn đến
hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Nó thể ở các mặt sau:
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Vũ Thị Thu Hiền- TCC 41A 55
-Khả năng chuyên môn: có được khả năng này, người lãnh đạo sẽ dễ
dàng hơn trong công tác quản lý và điều hành, vì kiến thức và kinh nghiện của
nhà lãnh đạo luôn tạo được uy tín tuyệt đối không chỉ với cấp dưới mà nhiều
khi đối với cả đối thủ cạnh tranh.
-Khả năng phân tích và phán đoán: dự đoán chính xác những thay đổi
trong môi trường kinh doanh tương lai từ đó hoạch định chính xác các chiến
l
ược, xác định các chính sách, kế hoạch kinh doanh phù hợp.
-Khả năng, nghệ thuật đối nhân xử thế: là khả năng giao tiếp cũng như
khả năng tổ chức nhân sự trong mối quan hệ không chỉ đối với nhân viên,
đồng nghiệp, cấp trên, khách hàng. Nó còn gồm những khĩ năng khác về lãnh
đạo, tổ chức phỏng đoán, quyết toán công việc.
* Chất lượng nhân sự và cơ sở vật chấ
t thiết bị
Trong quá trình giao dịch trực tiếp với khách hàng, nhân viên Ngân hàng
chính là hình ảnh của Ngân hàng. Cho nên những kiến thức, kinh nghiệm,
chuyên môn của mình, nhân viên Ngân hàng có thể làm tăng thêm giá trị dịch
Các Ngân hàng thương mại hoạt động trong môi trường có nhiều đối thủ
cạnh tranh. Cạnh tranh là một động lự
c tốt để Ngân hàng ngày càng hoàn
thiện, vì để ngày càng phát triển thì Ngân hàng luôn phải cố gắng không để
mình tụt hậu so với đối thủ cạnh tranh và phải nâng cao, tăng cường các hoạt
động của mình vượt đối thủ cạnh tranh. Tuy nhiên, khách hàng có sự lựa chọn
của mình khi gửi tiền, sử dụng dịch vụ và vay tiền của Ngân hàng nào có lợi
cho họ. Nếu như đối thủ cạnh tranh mà chiềm ưu thế hơn so v
ới Ngân hàng thì
sẽ thu hút nhiều khách hàng hơn Ngân hàng thậm chí khách hàng của Ngân
hàng cũng chuyển sang đối thủ cạnh tranh. Do đó để mở rộng hoạt động cho
vay thì việc nghiên cứu tìm hiểu đối thủ cạnh tranh để ngày càng chiếm ưu thế
hơn là vô cùng quan trọng.
Quá trình phân tích đối thủ cạnh tranh gồm có: xác định các nguồn thông
tin về đối thủ cạnh tranh, phân tích các thông tin đó, dự đoán chiến lược của