Đề án
"Các nguồn vốn và khả năng
khai thác các nguồn vốn cho
đầu tư phát triển ở Việt Nam"
Đề án Lý thuyết Tài chính Tiền tệ
LỜI MỞ ĐẦU
Từ sau đại hội VI năm 1986 nền kinh tế nước ta đã thực hiện một công
cuộc chuyển đổi lớn. Đó là chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp
sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ đó đến nay nước
ta đã đạt được nhiều thành tựu những đáng kể như: Tố
c độ tăng trưởng kinh tế
trung bình hàng năm gần 7% (từ năm 1990) đời sống nhân dân ngày càng cải
thiện và là nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới… Đảng và Chính phủ ta
đưa ra chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế những năm tới là 7% - 9% và phấn đấu đến
năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp. Với mức GDP bình
quân đầu người lên khoảng 2000 - 3000 USD/người/năm.
Thự
c hiện được mục tiêu này hay không là do nguồn vốn quyết định.
Nguồn vốn trong nước là rất quan trọng song nguồn vốn nước ngoài cũng rất
cần thiết và không thể thiếu. Với tư tưởng chủ đạo tăng cường thu hút và nâng
cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn là vấn đề quan trọng được Đảng và Nhà
nước ta quan tâm thường xuyên.
Đầu tư có 2 đặc trưng cơ bản:
- Tính sinh lời: Là đặc trưng hàng đầu của đầu tư, nếu việc sử dụng
nguồn vốn không nhằm mục đích thu lại một khoản tiền có giá trị
lớn hơn
khoản tiền đã bỏ ra ban đầu thì không thể coi là đầu tư.
Như vậy đầu tư khác với:
+ Việc mua sắm, cất trữ, để dành
+ Việc mua sắm nhằm mục đích tiêu dùng vì trong việc này tiền của
không sinh lời.
Đề án Lý thuyết Tài chính Tiền tệ
+ Việc chi tiêu vì lý do nhân đạo, tình cảm.
- Tính kéo dài: Thời gian của đầu tư thường là 2 năm đến 70 năm. Đặc
trưng này cho phép phân biệt hoạt động đầu tư và hoạt động kinh doanh. Kinh
doanh thường được coi là một giai đoạn của đầu tư. Như vậy đầu tư và kinh
doanh thống nhất ở tính sinh lời nhưng khác nhau ở thời gian thực hiện.
1.2. Khái niệm và vai trò của vốn
1.2.1. Khái niệm về vốn và ngu
ồn vón
Vốn là một khối lượng tiền tệ nào đó được đưa vào lưu thông với mục
đích kiếm lời. Số tiền đó được sử dụng muôn hình muôn vẻ nhưng suy cho
cùng là để mua sắm tư liệu sản xuất và để trả công cho người lao động nhằm
hoàn thành công việc sản xuất kinh doanh hoặc dịch vụ nào đó với mục đích
là thu về số tiền lớ
n hơn.
Nguồn vốn chính là nơi mà từ đó có thể khai thác được một số lượng
vốn nào đó để phục vụ cho nhu cầu của các hoạt động kinh tế xã hội.
1.2.2. Vai trò của vốn trong nền kinh tế
Vốn là một trong năm yếu tố quan trọng nhất trong mọi quá trình sản
xuất đó là: Nhân lực, vật lực, tài lực (vốn), thông tin và sự quản lý. Nếu thiếu
vốn thì quá trình s
định hướng chung của kế hoạch, chính sách và pháp luật. Đồng thời trực tiếp
tạo ra n
ăng lực sản xuất của một số lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế, đảm
bảo theo đúng định hướng của chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế - xã
hội. Ngân sách Nhà nước có vai trò quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế xã hội.
Nó được thể hiện trong ba nội dung cơ bản sau:
- Thứ nhất: Kích thích sự tăng trưởng kinh tế. Nhà nước sẽ sử
dụng thuế
và chi đầu tư để hướng dẫn kích thích và tạo sức ép đối với các chủ thể của
các hoạt động kinh tế. Vận dụng thuế suất hợp lý sẽ có tác dụng hướng dẫn,
kích thích các thành phần kinh tế mở rộng hoạt động kinh doanh, tạo ra môi
trường kinh tế mở rộng hoạt động kinh doanh, tạo ra môi trường cạnh tranh
lành mạnh, thu hút vốn đầu tư và định hướ
ng đầu tư của khu vực doanh
nghiệp.
Đề án Lý thuyết Tài chính Tiền tệ
- Thứ hai: Điều tiết thị trường giá cả, chống lạm phát. Nhà nước sẽ can
thiệp vào thị trường thông qua các khoản chi của ngân sách Nhà nước dưới
hình thức tài trợ vốn, trợ giá và sử dụng các quỹ Nhà nước về hàng hoá và tài
chính.
- Thứ ba: Điều tiết thu nhập để thực hiện công bằng xã hội bằng cách áp
dụng mức thuế thu nhập.
Nguồn ngân sách bao gồm: Nguồn thu trong nước và nguồn thu b
ổ
xung từ bên ngoài (chủ yếu thông qua nguồn vốn ODA và một số ít là vay nợ
nước ngoài).
Do thuế là một nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước (chiếm hơn
90%) cho nên việc huy động vốn ngân sách Nhà nước phụ thuộc rất nhiều vào
chính sách thuế. Cải cách thuế có tác động trực tiếp tới ngân sách Nhà nước.
Việc miễn giải thuế cần đi đôi với việc mở rộng phạm vi và đố
tiểu, thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ, vận tải… Khi thu nhậ
p quốc dân
trên đầu người tăng lên thì lượng vốn trong dân cũng tăng theo. Trong tương
lai đây là một nguồn vốn quan trọng để phát triển kinh tế. Vì vậy chúng ta cần
phải thực hiện các chính sách sau:
- Đa dạng hoá các công cụ huy động vốn để cho mọi người dân ở bất cứ
nơi nào cũng có điều kiện sản xuất, kinh doanh.
- Tăng lãi suất tiết kiệm, đảm bảo lãi suất sau khi tr
ừ đi lạm phát của
nền kinh tế dương.
- Tạo môi trường đầu tư thông thoáng và thực hiện theo quy định của
pháp luật để người dân dễ dàng bỏ vốn đầu tư.
- Chính phủ ban hành chính sách khuyến khích tư nhân trong nước tự
đầu tư, khai thác thế mạnh của vùng, địa phương.
2.1.2. Đặc điểm các nguồn vốn trong nước
- Vốn trong nước là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ
khối lượng
đầu tư, nó có vị trí rất quan trọng trong việc tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi
nhằm thúc đẩy mạnh đầu tư của mọi nguồn lực theo định hướng chung của kế
hoạch. Đồng thời trực tiếp tạo ra năng lực sản xuất của một số lĩnh vực quan
Đề án Lý thuyết Tài chính Tiền tệ
trọng của nền kinh tế đảm bảo theo đúng định hướng của chiến lược và quy
hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
- Nguồn vốn trong nước hiện nay còn rất hạn chế một phần do nước ta
là một nước nông nghiệp lạc hậu nguồn vốn tích luỹ cho đầu tư phát triển
kinh tế còn thấp, nhưng nguyên nhân quan trọng là chưa có các chính sách
thích hợp để khuyến khích đầu tư củ
a mọi thành phần kinh tế trong đó có kinh
tế tư nhân và kinh tế hộ gia đình.
- Việc đầu tư phát triển kinh tế từ nguồn vốn trong nước có hiệu quả
án đầu tư.
Hiện nay nguồn tích luỹ từ các doanh nghiệp còn rất hạn chế. Bởi các
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hiệu quả còn thấp, công nghệ chưa được
đổi mới, chất lượng sản phẩm chưa cao nên khả năng tiết kiệm cho đầu tư
chưa nhiều. Mặt khác vốn khấu hao chưa được quản lý nghiêm ngặt và khấu
hao đủ. Vì vậy để huy động được ngu
ồn vốn lớn trong doanh nghiệp Nhà
nước thì đòi hỏi Nhà nước phải tiến hành sửa đổi và ban hành các chính sách
để khuyến khích làm ăn có hiệu quả bằng cách:
+ Mở rộng quyền tự chủ của các doanh nghiệp, xây dựng cơ chế chính
sách đồng bộ để tránh tình trạng thêm tầng lớp trung gian gây khó khăn cho
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Sớm sắp xếp lại doanh nghiệp, chỉ giữ l
ại một số doanh nghiệp thật
cần thiết cho phép chuyển đổi hình thức sở hữu. Đồng thời trong cơ chế chính
sách cần đảm bảo sự bình đẳng tối đa, cùng loại hình hoạt động, nếu như
không có các quy chế đặc biệt thì đều có cơ chế về thuế, tín dụng, lãnh thổ…
như nhau…
- Để tăng cường sử dụng nguồn vốn của nhân dân hay vốn ngoài vùng
ngân sách thì cần phải có chính sách khuyến khích phát triển sản xuất, thực
hành tiết kiệm, làm giàu chính đáng, tạo lòng tin cho nhân dân yên tâm bỏ
vốn ra đầu tư. Tiềm lực trong dân còn rất lớn muốn khai thác nguồn vốn này
Nhà nước phải ổn định chính sách tiền tệ, củng cố các Nhà nước thương mại
và tín dụng theo hướng đảm bảo mục tiêu an toàn vốn cho gửi tiết kiệm. Mở
Đề án Lý thuyết Tài chính Tiền tệ
thêm các điểm gửi thuận lợi cho người gửi và rút tiền linh hoạt khi xử lý các
mức thời hạn.
2.1.4. Vai trò của vốn trong nước với sự phát triển kinh tế
Chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá có tính kế hoạch nhiều
thành phần, định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm giải phóng mọi năng lực sản
2.2.1.1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài
* Khái niệm: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một loại hình di
chuyển vốn quốc tế trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực
tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn.
- Về thực chất, FDI là s
ự đầu tư của công ty nhằm xây dựng các cơ sở,
chi nhánh ở nước ngoài và làm chủ toàn bộ hay từng phần cơ sở đó. Đây là
hình thức đầu tư mà chủ đầu tư, mở rộng từ nguồn lợi nhuận thu được từ chủ
đầu tư nước ngoài.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức mà các chủ đầu tư được tự
mình ra quyết đị
nh đầu tư, đầu tư nước ngoài đóng góp một số vốn đủ lớn vào
lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ và cho phép họ trực tiếp tham gia điều hành
đối tượng mà họ bỏ vốn.
* Đặc điểm đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Các chủ đầu tư trực tiếp nước ngoài phải đóng góp một số vốn tối
thi
ểu vào vốn pháp định tuỳ theo luật đầu tư của mỗi nước.
- Quyền quản lý xí nghiệp phụ thuộc vào mức độ góp vốn. Nếu góp
100% vốn thì doanh nghiệp hoàn toàn do chủ đầu tư nước ngoài quản lý và
điều hành.
- Lợi nhuận của các chủ đầu tư nước ngoài thu được phụ thuộc vào kết
quả hoạt động kinh doanh và chia theo tỷ lệ góp vốn pháp định.
- Đầu tư tr
ực tiếp nước ngoài được thực hiện thông qua việc xây dựng
doanh nghiệp mới, mua lại toàn bộ hay từng phần doanh nghiệp đang hoạt
động, hoặc mua cổ phiếu để thôn tính hay sát nhập các doanh nghiệp khác.
Nguồn vốn đầu tư không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu mà còn có thể
được bổ sung sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ, lãi. Hình thức
Đề án Lý thuyết Tài chính Tiền tệ
trách nhiệm với kết quả đầu tư. Họ chỉ hưởng lãi theo tỷ lệ của số vốn đầu tư.
* Đặc điểm của đầu tư gián tiếp nước ngoài:
Đề án Lý thuyết Tài chính Tiền tệ
- Nếu là vốn đầu tư của các tổ chức quốc tế thì nó thường đi kèm với
điều kiện ưu đãi nên chỉ tập trung vào những dự án có mức vốn đầu tư tương
đối lớn, thời gian dài và gắn chặt với thái độ chính trị của các Chính phủ và
các tổ kinh tế quốc tế khác nhau.
- Phạm vi đầu tư có giới hạn vì các chủ đầu tư nước ngoài ch
ỉ quyết
định mua cổ phần của những doanh nghiệp làm ăn có lãi hoặc có triển vọng
phát triển trong tương lai.
- Số lượng cổ phần của các công ty nước ngoài được mua bị khống chế
ở một mức độ nhất định tuỳ theo từng nước để không có cổ phần nào chi phối
doanh nghiệp. Thông thường số cổ phần này dưới 10% đến 25% vốn pháp
định.
- Chủ đầu tư
nước ngoài không tham gia điều hành hoạt động doanh
nghiệp, do đó bên tiếp nhận đầu tư có quyền chủ động hoàn toàn trong kinh
doanh.
- Chủ đầu tư nước ngoài thu lợi nhuận qua lãi suất cổ phiếu không cố
định, tuỳ thuộc vào kết quả kinh doanh.
- Tuỳ doanh nghiệp đầu tư không có khả năng, cơ hội tiếp thu công
nghệ, kỹ thuật hiện đại, kinh nghiệm quản lý nhưng thay vào đó doanh nghiệ
p
có khả năng phân tán rủi ro kinh doanh cho những người mua cổ phiếu, trái
phiếu doanh nghiệp.
* Các hình thức đầu tư gián tiếp nước ngoài.
Hình thức của đầu tư gián tiếp phụ thuộc vào chính nguồn vốn của chủ
đầu tư. Nguồn vốn đầu tư gián tiếp rất đa dạng, có thể là của các Chính phủ,
các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi Chính phủ… Các nguồn vốn này có thể
chương trình đạt được sau khi ký
các hiệp định với đối tác tài trợ dành cho một mục đích tổng quát với thời hạn
nhất định không cần xác định chính xác nó sẽ được sử dụng như thế nào.
- Hỗ trợ phát triển chính thức ODA có các đặc điểm sau:
+ Là nguồn với tài trợ ưu đãi của nước ngoài, các nhà tài trợ không trực
tiếp điều hành dự án nhưng có thể tham gia gián tiế
p dưới hình thức nhà thầu
hoặc hỗ trợ chuyên gia.
Đề án Lý thuyết Tài chính Tiền tệ
+ Nguồn vốn ODA gồm: Viện trợ không hoàn lại và các khoản viện trợ
ưu đãi. Tuy vậy nếu quản lý, sử dụng vốn ODA kém hiệu quả vẫn có nguy cơ
để lại gánh nặng nợ nần trong tương lai.
+ Các nước nhận ODA phải hội đủ một số điều kiện nhất định mới
được nhận tài trợ. Điều kiện này tuỳ thuộc quy định củ
a từng nhà tài trợ.
+ Nguồn vốn ODA chủ yếu dành cho các dự án đầu tư vào cơ sở hạ
tầng như giao thông vận tải, giáo dục, y tế…
2.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư nước ngoài ở Việt Nam
Đầu tư nước ngoài là một hoạt động kinh tế có vai trò rất lớn với các
nước trên thế giới, vì vậy việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ch
ịu
ảnh hưởng của nhiều nhân tố chủ quan và khách quan. Cụ thể như sau:
- Hệ thống luật: là một trong những nhân tố sẽ kèm hãm hay thúc đẩy
gia tăng các hoạt động đầu tư nước ngoài. Bởi lẽ trong hệ thống luật đầu tư,
nước sở tại sẽ nêu rõ quan điểm của mình trên lĩnh vực đầu tư về hình thức
đầu tư, đảm bảo lợiích cho các bên liên quan nh
ư thế nào… Đồng thời các
nhà đầu tư còn xem xét những luật liên quan như: Luật thuế, luật cho thuê đất
đai… Những nội dung của hệ thống luật càng đồng bộ,chặt chẽ, cởi mở phù
hợp với thông lệ quốc tế thì khả năng hấp dẫn thu hút vốn đầu tư nước ngoài
ng thu lợi nhuận từ xuất khẩu càng
lớn. Một nước có mức tăng trưởng xuất khẩu cao sẽ làm yên lòng các nhà đầu
tư vì khả năng trả nợ nước đó bảo đảm hơn, mức độ mạo hiểm trong đầu tư sẽ
giảm.
- Sự phát triển của nền hành chính quốc gia: Lực cản làm nản lòng các
nhà đầu tư là thủ tục rườm rà, phiền phứ
c gây tốn kém về thời gian, chi phí và
làm mất cơ hội đầu tư. Đồng thời nhân tố này còn gắn liền với trình độ, khả
năng, tính trách nhiệm của đội ngũ cán bộ trong việc thẩm định dự án, kiểm
tra và mức xử lý việc phát sinh trong hoạt động đầu tư. Do vậy bộ máy hành
chính phải thật gọn nhẹ. Với các thủ tục hành chính có tính chất đơn giản,
công khai và nhất quán. Đ
iều đó sẽ làm tăng tính hoạt động của đầu tư một
cách thông suốt và chính xác.
- Đặc điểm thị trường nước nhận vốn.
Đề án Lý thuyết Tài chính Tiền tệ
Đây là yếu quan trọng ảnh hưởng đến việc thu hút vốn đầu tư nước
ngoài. Điều đó được thể hiện ở quy mô, dung lượng của thị trường, sức mua
của các tầng lớp dân cư trong nước… Đặc biệt là hoạt động của thị trường
nhân lực. Mặt khác với giá nhân công rẻ sẽ là mối quan tâm hàng đầu của các
nhà đầu tư nước ngoài nhất là những dự
án đầu tư vào lĩnh vực sử dụng nhiều
lao động. Ngoài ra trình độ chuyên môn kỹ thuật, trình độ học vấn, khả năng
quản lý… cũng có ý nghĩa nhất định.
- Bảo về quyền sở hữu: Quyền này bao gồm quyền của người phát
minh, sáng chế, quyền tác giả, nhãn hiệu hàng hoá, bí quyết công nghiệp…
Đây là yếu tố đặc biệt có ý nghĩa đối với những người muốn
đầu tư vào ngành
có hàm lượng khoa học cao và phát triển năng động.
- Chính sách thuế và những ưu đãi: thường được áp dụng để thu hút các
đại hoá cơ sở hạ tầng - xã hội thì khó có thể thu hút và hấp thụ một cách hiệu
quả nguồn vốn FDI. Ngược lại, nếu chỉ tập trung tìm kiếm các nguồn ODA
mà không thu hút các nguồn vốn FDI thì sẽ không đủ thu nhậpđể chính phủ
trả nợ ODA. V
ậy ta thấy giữa 2 nguồn vốn ODA và FDI có mối quan hệ mật
thiết với nhau và không thể ránh rời nhau.
2.2.4. Khả năng khai thác các nguồn vốn nước ngoài cho đầu tư phát
triển ở Việt Nam
Nguồn vốn FDI là nguồn vốn nước ngoài có khả năng khai thác cao
nhất. Nhịp độ thu hút FDI có xu hướng tăng lên kể cả về số dự án và số vốn
đăng ký từ năm 1988 đến nay. Việt Nam là một nước có n
ền chính trị ổn định,
trình độ dân trí cao, dân số đông lao động khá rẻ… đó là những lợi thế góp
phần tăng khả năng thu hút FDI cho nền kinh tế.
Nguồn vốn ODA đối với nước ta hiện nay vẫn có một sức hấp dẫn thậm
chí còn hơn cả nguồn vốn FDI. Tuy nhiên tài trợ phát triển chính thức là thị
trường vốn đặc biệt căng thẳng về nguồn cung và mang tính cạnh tranh cao.
Để có thể tiếp tục nhận được khối lượng ODA mong muốn, đòi hỏi chúng ta
phải có những chính sách kịp thời phù hợp để giải quyết các vấn đề như: nâng
cao tốc độ giải ngân, chuẩn bị tốt vốn đối ứng, tăng cường năng lực của nhóm
Đề án Lý thuyết Tài chính Tiền tệ
dự án ODA… Đó cũng chính là những yếu tố nhằm nâng cao lòng tin của các
nước, tổ chức cung cấp ODA cho nước tiếp nhận ODA.
Nguồn vay tư nhân ở nước ta hiện nay chưa được khai thác một cách có
hiệuquả. Trong thời gian tới, với sự ổn định và phát triển của nền kinh tế cũng
như tình hình chính trị xã hội, việc huy động nguồn vốn này sẽ được nâng cao
hơn nữa mộ
t cách đúng mức.
III. VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN Ở VIỆT NAM
3.1. Tính tất yếu của việc thu hút vốn đầu tư trong nước
khỏ như nước Anh, Pháp trước đây hay gần đây hơn là Australia, các nước
đi
sau có thể dựa vào các nước đi trước để phát triển kinh tế.
Đầu tư nước ngoài không chỉ rất quan trọng đối với việc phát triển kinh
tế mà còn quan trọng hơn với việc bảo đảm an ninh Quốc gia trên cả hai
phương diện: Tạo cơ sở vật chất kỹ thuật để đảm bảo an ninh Quốc gia và sự
hợp tác giao lưu sẽ tạo nên sự hiểu biế
t tin cậy lẫn nhau, tạo ra mối quan hệ
hữu nghị bền vững lâu dài là tiền đề chính trị cho đảm bảo an ninh Quốc gia.
Nhận thức được tầm quan trọng của vốn đầu tư nước ngoài, tại Đại hội
VI (12/1986) Đảng và Nhà nước ta đã chủ động mở cửa nền kinh tế, đẩy
mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại nhằm tận dụng "những kh
ả năng to lớn của
nền kinh tế thế giới về di chuyển vốn, mở rộng thị trường, chuyển giao công
nghệ và kinh tế để bổ sung và phát triển có hiệu quả các lợi thế và nguồn lực
trong nước". Đảng ta khẳng định: "Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các
nước". Như vậy quá trình thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là một xu
thế của thế gi
ới và yêu cầu phát triển của nền kinh tế Việt Nam.
3.3. Mối quan hệ giữa vốn trong nước và vốn nước ngoài
Trong chặng đường đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nước ta
cần một lượng vốn lớn để hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng, xây dựng các công trình
nền tảng cho sự phát triển kinh tế lâu dài… Vì thế huy động và sử dụng vốn
nước ngoài là t
ất yếu vì nếu chỉ xử lý vấn đề vốn bằng con đường tích luỹ nội
bộ nhanh như hiện nay thì hậu quả khó tránh khỏi sẽ là sự tụt hậu phát triển.
Trong những giai đoạn cụ thể nhất định là ở bước đầu của quá trình công
nghiệp hoá, vốn nước ngoài có thể đóng vai trò xung lục, tạo sức đột phá cho
bước nhảy vọt sản lượng ngắ
n hạn cũng như cơ sở vững chắc cho việc đạt
lý tương quan này xuất phát từ lập trường mang tính phân biệt về vai trò
của các nguồn lực phát triển có thể sẽ chỉ dẫn đến thiệt hại cho sự phát triển
của chính đất nước mình.
Đề án Lý thuyết Tài chính Tiền tệ
3.4. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về thu hút đầu tư phát triển
kinh tế
Xuất phát từ chính sách đổi mới nền kinh tế, mở cửa và hội nhập với
nước ngoài, Ngày 19/12/1987 lần đầu tiên Quốc hội nước ta thông qua Luật
Đầu tư nước ngoài cho phép các tổ chức cá nhan là người nước ngoài được
đầu tư vào Việt Nam. Đảng ta từng bước giảm mạnh và tiến tới xoá bỏ sự
phân bi
ệt về chính sách và pháp luật giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước
ngoài. Cải tiến nhanh các thủ tục hành chính để đơn giản hoá việc cấp giấy
phép đầu tư, thực hiện từng bước cơ chế đăng ký đầu tư. Chú trọng thu hút
đầu tư từ mọi thành phần kinh tế đặc biệt đối với các công ty nước ngoài nắm
giữ công nghệ nguồn và có thị phần l
ớn trên thị trường thế giới. Tăng cường
hỗ trợ và quản lý sau khi cấp giấy phép đầu tư; tạo điều kiện cho các dự án đã
được cấp phép triển khai thực hiện có hiệu quả. Nâng cao hiệu lực và hiệu
quả quản lý Nhà nước đối với các khu công nghiệp, khu chế xuất.
Khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài về nước đầu tư, kinh
doanh. Tiếp tụ
c tranh thủ nguồn tài trợ của Chính phủ và các tổ chức tài chính
quốc tế, các tổ chức phi chính phủ.
Đề án Lý thuyết Tài chính Tiền tệ
KẾT LUẬN
Như vậy sau gần 20 năm đổi mới nền kinh tế. Nước ta đã đạt được
nhiều thành tựu đáng kể về kinh tế như: tốc độ tăng trưởng kinh tế thường
+ Nghiên cứu kinh tế
+ Phát triển kinh tế .
Đề án Lý thuyết Tài chính Tiền tệ
MỤC LỤC
Lời nói đầu 1
I. Khái niệm về đầu tư và nguồn vốn 2
1.1. Khái niệm và đặc trưng của đầu tư 2
1.1.1. Khái niệm đầu tư 2
1.1.2. Đặc trưng cơ bản của đầu tư 2
1.2. Khái niệm và vai trò của vốn 3
1.2.1. Khái niệm về vốn và nguồn vốn 3
1.2.2. Vai trò của vốn trong nền kinh tế 3
II. Cơ cấu các nguồn vốn đầ
u tư 4
2.1. Nguồn vốn trong nước 4
2.1.1. Các bộ phận cấu thành nguồn vốn trong nước 4
2.1.1.1. Nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước 4
2.1.1.2. Nguồn vốn huy động từ các doanh nghiệp Nhà nước 5
2.1.1.3. Nguồn vốn huy động từ dân cư 5
2.1.2. Đặc điểm các nguồn vốn trong nước 6
2.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới việc huy động nguồn vốn trong nước 7
2.1.4. Vai trò của vốn trong nước với sự phát triển kinh t
ế 8
2.2. Nguồn vốn nước ngoài 9
2.2.1. Các nguồn vốn đầu tư nước ngoài 9
2.2.1.1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài 9
2.2.1.2. Đầu tư gián tiếp 11
2.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư nước ngoài ở Việt Nam 13
2.2.3. Mối liên hệ giữa đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp của nước ngoài