ĐĐỀ ÁN
“Giải pháp nhằm thu
hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài ở Việt Nam
Giải pháp nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam
SV: Trần Thu Thuỷ
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế – xã hội, đầu tư trực tiếp
nước ngoài đang có xu hướng ngày càng gia tăng mạnh mẽ và có vai trò to
lớn đối với sự phát triển kinh tế nước ta.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một trong những nguồn vốn quan
trọng cho đầu tư phát triển, có tác dụng thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấ
u kinh
tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, tạo điều kiện khai thác các lợi
thế so sánh, mở ra nhiều nghành nghề,sản phẩm mới, nâng cao năng lực
quản lý và trình độ công nghệ, mở rộng thị trường xuất khẩu,tạo thêm nhiều
việc làm và chủ động tham gia vao quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Đặc trưng cơ bản của đầu tư đó là tính sinh lãi và rủi ro trong đầu tư.
Hai thuộc tính này đã phân hóa sàng lọc các nhà đầu tư và thúc đẩy xã hội
phát triển.
Đầu tư nước ngoài:
Đầu tư nước ngoài mang đầy đủ những đặc trưng của đầu tư nói chung
nhưng có m
ột số đặc trưng khác với đầu tư trong nước đó là:
. Chủ đầu tư có quốc tịch nước ngoài.
. Các yếu tố đầu tư được di chuyển ra khỏi biên giới.
. Vốn đầu tư có thể là tiền tệ, vật tư hàng hóa , tư liệu sản xuất, tài
nguyên thiên nhiên nhưng được tính bằng ngoại tệ.
Các hình thức biểu hiện của đầu tư nước ngoài thường là.
- Nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức, gọi tắt là ODA.
- Nguồn vốn tín dụng thương mại
- Nguồn vốn đầu tư từ việc bán cổ phiếu, trái phiếu cho người nước
ngoài, gọi tắt là FPI.
- Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, gọi tắt là FDI. Đây là nguồn
vốn đầu tư khá phổ biến hiện nay của nước ngoài đầu tư vào mộ
t quốc gia
Giải pháp nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam
SV: Trần Thu Thuỷ
nào đó nhằm mục đích kiếm lợi nhuận là chủ yếu .Trong thực tế, nguồn vốn
ODA và FDI là khá phổ biến, hai nguồn này đều có vị trí khá quan trọng.
Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự di chuyển vốn quốc tế dưới hình
thức vốn sản xuất thông qua việc nhà đầu tư ở 1 nước đưa vốn vào một nước
khác để đầu tư, đồng thời trực tiếp tham gia quản lý, điều hành, tổ chức sản
xuất, tận dụng ưu thế về vốn, trình độ công nghệ, kinh nghiệm quản lý
nh
u kiện ràng buộc kèm theo của
người cung ứng vốn như của ODA.
Thực hiện liên doanh với nước ngoài, việc bỏ vốn đầu tư của các
doanh nghiệp trong nước có thể giảm được rủi ro về tài chính, trong tình
huống xấu nhất khi gặp rủi ro thì các đối tác nước ngoài sẽ là người cùng
chia sẻ rủi ro với các công ty của nước sở tại.
Do vậy, FDI là hình thức thu hút và sử dụng vốn đầu t
ư nước ngoài
tương đối ít rủi ro cho nước tiếp nhận đầu tư .
FDI không đơn thuần chỉ là vốn, mà kèm theo đó là công nghệ, kỹ
thuật, phương thức quản lý tiên tiến, cho phép tạo ra những sản phẩm mới,
mở ra thị trường mới… cho nước tiếp nhận đầu tư .
Đây là điểm hấp dẫn quan trọng của FDI, bởi vì hầu hết các nước đang
phát tri
ển có trình độ khoa học và công nghệ thấp, trong khi phần lớn những
kỹ thuật mới xuất phát chủ yếu từ các nước công nghiệp phát triển, do đó để
rút ngắn khoảng cách và đuổi kịp các nước công nghiệp phát triển, các nước
này rất cần nhanh chóng tiếp cận với các kỹ thuật mới. Tùy theo hoàn cảnh
cụ thể của mình, mỗi nước có cách đi riêng để nâng cao trình độ công nghệ,
nhưng thông qua FDI là cách ti
ếp cận nhanh, trực tiếp và thuận lợi. Thực tế
đã cho thâý FDI là 1 kênh quan trọng đối với việc chuyển giao công nghệ
cho các nước đang phát triển. Đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động mạnh
đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước tiếp nhận, thúc đẩy quá
trình này trên nhiều phương diện: chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu
Giải pháp nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam
SV: Trần Thu Thuỷ
vùng lãnh thổ, cơ cấu các thành phần kinh tế, cơ cấu vốn đầu tư, cơ cấu công
nghệ, cơ cấu lao động….
Thông qua tiếp nhận FDI, nước tiễp nhận đầu tư có điều kiện thuận lợi
SV: Trần Thu Thuỷ
tính độc lập tự chủ có thể bị ảnh hưởng, nền kinh tế phát triển có tính lệ
thuộc bên ngoài, thiếu vững chắc.
Đôi khi doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thực hiện chính sách
cạnh tranh bằng con đường bán phá giá, loại trừ đối thủ cạnh tranh khác, độc
chiếm hoặc khống chế thị trường, lấn áp các doanh nghiệp trong nước.
Thực tế đã cho thấy khi thực hiện các dự án liên doanh, các đố
i tác
nước ngoài đã tranh thủ góp vốn bằng các thiết bị và vật tư đã lạc hậu, đã
qua sử dụng, hoặc nhiều khi đã đến thời hạn thanh lý, gây ra thiệt hại to lớn
cho nền kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư.
Thông qua sức mạnh hơn hẳn về tiềm lực tài chính, sự có mặt của các
doanh nghiệp có vốn nước ngoài gây ra một số ả
nh hưởng bất lợi về kinh tế-
xã hội như làm tăng chênh lệch về thu nhập, làm gia tăng sự phân hóa trong
các tầng lớp nhân dân, tăng mức độ chênh lệch phát triển giữa các vùng.
Với những mặt bất lợi của FDI, nếu có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, đầy đủ
và có các biện pháp phù hợp, nước tiếp nhận FDI có thể hạn chế, giảm thiểu
những tác động tiêu cự
c này và sử lý hài hòa mối quan hệ của nhà đầu tư
nước ngoài với lợi ích quốc gia để tạo nên lợi ích tổng thể tích cực.
2. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Xét theo mục đích đầu tư FDI đựơc phân thành 2 loại: đầu tư theo
chiều ngang và đầu tư theo chiều dọc:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo chiều ngang: là việc 1 công ty
tiến hành đầu tư trự
c tiếp nước ngoài vào chính ngành sản xuất mà họ đang
có lợi thế cạnh tranh. Với lợi thế này họ muốn tìm kiếm lợi nhuận cao hơn ở
nước ngoài.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo chiều dọc: khác với hình thức
tư trong đó quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi
bên tham gia mà không cần thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc pháp nhân
mới. Hình thức này không làm hình thành một công ty hay một xí nghi
ệp
mới. Mỗi bên vẫn hoạt động với tư cách pháp nhân độc lập của mình và thực
hiện các nghĩa vụ của mình trước nước nhà.
Giải pháp nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam
SV: Trần Thu Thuỷ
Ngoài ba hình thức cơ bản trên, theo nhu cầu đầu tư về hạ tầng, các
công trình xây dựng còn có hình thức:
. Hợp đồng xây dựng- kinh doanh- chuyển giao (BOT) : là một
phương thức đầu tư trực tiếp được thực hiện trên cơ sở văn bản được ký kết
giữa nhà đầu tư nước ngoài(có thể là tổ chức, cá nhân nước ngoài)với cơ
quan nhà nước có thẩm quyền để xây dựng kinh doanh công trình k
ết cấu hạ
tầng trong một thời gian nhất định, hết thời hạn nhà đầu tư nước ngoài
chuyển giao cho nước chủ nhà.
. Hợp đồng xây dựng- chuyển giao- kinh doanh : là phương thức đầu
tư dựa trên văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước
chủ nhà và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công trình kết
cấu hạ tầng. Sau khi xây dự
ng xong, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao
công trình cho nước chủ nhà. Nước chủ nhà có thể dành cho nhà đầu tư
quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn
đầu tư và lợi nhuận hợp lý.
. Hợp đồng xây dựng- chuyển giao (BT) : là một phương thức đầu tư
nước ngoài trên cơ sở văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền
củ
a nước chủ nhà và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng công trình kết cấu
hạ tầng. Sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công
điều kiện tiền có giá trị biến đổi theo thời gian, các nhà đầu tư đã sử dụng lãi
suất để tính chuyển các dòng tiền về mặt bằng thời gian hiện tại. Như vậy,
nếu lãi suất càng tăng thì lợi nhuận thu được từ hoạt động đầu tư càng giảm.
Do đó mức lãi suất thấp là một trong những yếu tố khuyến khích người có
tiền đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh hơn là gửi tiền vào ngân hàng.
Chi phí sản xuất cũng là những yếu tố mà các nhà đầu tư quan tâm,
bao gồm: chi phí nguyên nhiên vật liệu, chi phí nhân công và chi phí cho các
dịch vụ hỗ trợ sản xuất của doanh nghiệp. Chi phí sản xuất giảm thì lợi
nhuận sẽ tăng tại mọi mức lãi suất. Trong hoạt động đầu tư trực tiếp nước
ngoài, có mộ
t nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng đến chi phí sản xuất tại nước
nhận đầu tư, đó là tỷ giá hối đoái. Nếu đồng tiền của nước nhận đầu tư tăng
Giải pháp nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam
SV: Trần Thu Thuỷ
giá, chi phí sản xuất ở đây sẽ tăng, chi phí tăng thì lợi nhuận giảm, đó là
nhân tố làm giảm quy mô đầu tư trực tiếp nước ngoài.
4. Sự cần thiết phải thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Kể từ khi giành được độc lập, sự phát triển của nền kinh tế ở miền Bắc
nước ta gắn với sự hỗ trợ của các n
ước xã hội chủ nghĩa. Sau nhiều thập kỷ
chiến tranh đồng thời giữ vững độc lập, tự chủ, việc tìm đến nguồn lực bên
ngoài cho phát triển cả về vốn và công nghệ dưới hình thức FDI là hết sức
cần thiết. Đối với nền kinh tế nước ta, việc vay thương mại để nhập khẩu
công nghệ là quá sức chịu đựng của nền kinh tế
. Xuất phát tự bối cảnh trên,
để thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng, ổn định tình hình kinh tế-xã hội
nguồn vốn nước ngoài mà chúng ta có thể sử dụng được chính là vốn FDI.
Thực tế đến nay đã chứng tỏ sự lựa chọn của chúng ta là đúng đắn, đồng thời
cũng nói lên sự cần thiết có tính lịch sử và khách quan của FDI đối với công
cuộc xây dựng và phát triển của
Kinh tế có vốn
đầu tư nước ngoài là một thành phần kinh tế mới xuất
hiện và hình thành ngày càng rõ nét trong nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Thu hút nhiều hơn và sử dụng hiệu quả cao FDI là một nội dung quan
trọng của việc thực hiện chủ động hội nhập kinh tế quốc tế theo tinh thần
phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác qu
ốc tế, nâng cao năng lực
cạnh tranh của các sản phẩm, doanh nghiệp và nền kinh tế.
Thông qua việc đẩy mạnh thu hút FDI sẽ tranh thủ công nghệ của các
nước có nền khoa học tiên tiến, kinh nghiệm quản lý, mở rộng thị trường…
Tóm lại, đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện đang được xem là một trong
những động lực quan trọng để thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại
hóa của nước ta.
Giải pháp nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam
SV: Trần Thu Thuỷ
Phần 2:TÌNH HÌNH THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI
1. Kết quả thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Bảng 01: Đầu tư nước ngoài qua các thời kì
Đơn vị: Triệu $
Năm
Chỉ tiêu
1988-
1990
1991-
1995
20772
33951
2592
632
1621
1136
1941
1150
2084
1935
3. Đóng góp của
khu vực FDI
- Tỷ trọng trong
GDP (%)
- Nộp ngân sách
7.4
0.3
10.9
1490
13.1
37313.9
459
Giai đoạn 1991-1995:
Cùng với việ
c bổ sung và sửa đổi Luật đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam,Chính phủ đã quyết định thành lập hàng loạt các khu công nghiệp ở các
địa phương nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút vốn đầu tư. Qua 5
năm thực hiện, tổng số vốn đăng kí đầu tư đã gấp 9,3 lần thời kì 1988-1990.
Riêng năm 1995, số vốn thu hút được là cao nhất, đạ
t gấp 3,64 lần về vốn
của 3 năm 1988-1990 cộng lại. Quy mô dự án và tốc độ phát triển thời kì này
đạt mức cao so với mức bình quân chung.
Giải pháp nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam
SV: Trần Thu Thuỷ
Giai đoạn 1996-2000
Trong giai đoạn này, năm 1996 là năm có số vốn đăng kí được cấp
phép cao nhất so với các năm từ 1988 đến 2002. Tuy nhiên, từ năm 1997 trở
đi số lượng vốn đã giảm thấp, nhất là năm 1999 giảm 60% vốn đăng kí so
với năm 1998. Việc lượng vốn đầu tư đã giảm rất thấp là do ảnh hưởng của
cuộc khủng hoảng tài chính ti
ền tệ khu vực, nên nhiều nhà đầu tư nước ngoài
ở những nước bị khủng hoảng đã giảm đầu tư vào nước ta. Nhưng do kết quả
của việc xúc tiến, vận động đầu tư từ giai đoạn trước, nên thời kì này tổng số
vốn đầu tư vẫn đạt khá cao, với 20,6 tỷ USD vốn đăng kí, tăng 1,23 lần về
vốn so với th
ời kì 1991-1995.
Giai đoạn năm 2001-2002:
Đây là hai năm có dấu hiệu phục hồi về số vốn đăng kí sau cuộc
khủng hoảng tài chính tiền tệ, nhưng số vốn đầu tư vẫn còn thấp,năm 2001
lượng vốn đầu tư là 3224 triệu USD, năm 2002 lượng vốn đầu tư là 2757
triệu USD.
Trong năm 2002, mặc dù số dự án được cấp phép là 669 dự án, cao
ăng 4,6% so với năm 2003. Cũng trong năm 2004,
có 458 lượt dự án đầu tư tăng vốn với tổng số vốn đăng kí tăng thêm là 1935
triệu USD tăng tới 70,5% so với năm 2003, đưa tổng số vốn đăng kí đầu tư
năm 2004 vượt ngưỡng 4 tỷ USD- mức cao nhất kể từ năm 1999 trở lại đây.
Như vậy, lượng đầu tư tăng vốn ở
những dự án cũ có tốc độ gia tăng khá
nhanh, trong bối cảnh vốn đăng kí cấp mới trong những năm gần đây đạt
thấp,việc gia tăng đầu tư tăng vốn là rất cần thiết và nó đã thể hiện nhiều dự
án đã đầu tư có hiệu quả.
Ngoài ra trong năm 2004, doanh thu của các doanh nghiệp FDI đạt
18.600 triệu USD, xuất khẩu từ khu vực FDI đạt 8.600 triệ
u USD, nộp ngân
sách 800 triệu USD, và đã tạo việc làm cho 739 nghìn người… Các chỉ tiêu
kinh tế xã hội này đều tăng trưởng cao hơn những năm trước, thể hiện môi
trường đầu tư và kinh doanh ở nước ta đã ngày càng được cải thiện và ngày
càng hấp dẫn.
Kết quả trên cho thấy xu hướng phục hồi dòng đầu tư nước ngoài năm
2004 rõ rệt hơn so với những năm trước kể từ sau kh
ủng hoảng tài chính khu
vực.
Giải pháp nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam
SV: Trần Thu Thuỷ
1. 2. 3. Năm 2005
Trong 10 tháng đầu năm 2005, doanh thu của các doanh nghiệp FDI
đạt 19 tỷ USD, vượt trội so với năm 2004. Kim nghạch xuất khẩu cũng ra
tăng, đạt 9 tỷ USD. Tiền nộp ngân sách Nhà nước đạt 895 triệu USD, tăng
35,8% so với cùng kì năm 2004, do có thêm nhiều dự án đi vào hoạt động và
đạt hiệu quả cao. Cũng nhờ vậy, từ đầu năm đến nay, khu vực kinh tế này đã
thu hút thêm gần 120.000 lao động trực ti
ếp, nâng tổng số lao động đang làm
104
956
172
25950
1886,6
3622
3332,4
282,6
15532,6
656,5
433
1
18
58
7
143
24
1350
20
22,9
100,354
14,350
1720,6
428,5
Giải pháp nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam
SV: Trần Thu Thuỷ
- XD văn phòng- căn
hộ
- XD khu đô thị mới
- GTVT- Bưu điện
chiếm 48% tổng vốn đăng kí thì tỷ trọng này đã tăng lên 51% trong thời kì
1996- 2000 và gần 70% trong giai đoạn 2001-2004. Riêng năm 2005 (tính
tới 25/10/05), lĩnh vực công nghiệp-xây dựng chiếm 46% tổng vốn đầu tư.
Biểu đồ 02: ĐTTTNN vào lĩnh vực CN- XD qua các thời kì
Giải pháp nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam
SV: Trần Thu Thuỷ
1400
7010
11250
10900
1350
0
2000
4000
6000
8000
10000
12000
TriÖu USD
1988-1990 1991-1995 1996-1999 2000-2004 2005
n¨m
§Çu t− trùc tiÕpn−íc ngoμiTính từ năm 1988 đến 25/10/2005 tổng vốn đầu tư nước ngoài trong
ngành CN- XD đạt 31,95 tỷ USD, chiếm trên 50% tổng vốn đầu tư của cả
nước. Như vậy, việc thu hút nguồn vốn FDI trong lĩnh vực CN-XD chiếm vị
trí quan trọng và nó có vai trò đầu tầu thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp
Việt Nam.
Lĩnh vực nông- lâm- ngư nghiệp chiếm 8% tổng vốn đăng kí trong 5
cả nước. Như vậy, tỉ trọng vốn đăng kí vào lĩnh vực dịch vụ có xu hướng
giảm dần trong khi dòng vốn đầu tư nước ngoài trên thế giới có xu hướng tập
trung vào lĩnh vực này. Nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm tỷ trọng ngành
dịch vụ trong những năm gần đây do các dự án kinh doanh bất động sản ít đi
và các dự án cấp mới có qui mô nhỏ đi. Ngoài ra,
đối với một số nghành dịch
vụ khác, cánh cửa đầu tư nước ngoài vẫn chưa được mở rộng như : vận tải
hàng không, vận tải đường biển, bưu chính viễn thông, y tế- giáo dục, du lịch
lữ hành, dịch vụ tư vấn, quảng cáo, dịch vụ xuất nhập khẩu
2. 2.
Cơ cấu vùng, lãnh thổ
Bảng 03: Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo địa phương
Từ 1988 đến 25/10/05 Từ 01/01/50 đến 25/10/05
Giải pháp nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam
SV: Trần Thu Thuỷ
Số dự án TVĐT
(triệu $)
Số dự án
TVĐT
(triệu $)
1. TP Hồ Chí Minh
2. Hà Nội
3. Đồng Nai
4. Bình Dương
5. Bà Rịa Vũng Tàu
6. Hải Phòng
7. Vĩnh Phúc
13
5
14
1
193,3
902,4
343,9
212,5
12,51
112,4
45,38
29,05
27,61
1,00
Đầu tư nước ngoài phân bố không đồng đều giữa các vùng lãnh thổ,
các thành phố lớn và các tỉnh- những nơi có điều kiện kinh tế xã hội thuận
lợi thuộc các vùng kinh tế trọng điểm- vẫn là những địa phương dẫn đầu về
thu hút FDI như TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa
Vũng Tàu
Riêng vùng kinh tế trọng điểm phía Nam chiếm tới 58,6% tổng vốn
đă
ng kí của cả nước giai đoạn1991-1995, chiếm 46,7% giai đoạn 1996-2000
và chiếm 63% trong thời kì 2001 đến nay.Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc
chiếm 25,8% tổng vốn đăng kí của cả nước trông thời kì 1991-1995, chiếm
30,87% trong giai đoạn 1996-2000, và chiếm khoảng 17,5% trong thời kì từ
năm 2001 đến nay.
Tính chung từ năm 1988 đến nay, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
chiếm tới 59% tổng vốn đăng kí, vùng kinh tế phía Bắc chi
959
345
237
151
57
171
123
7642,8
7443,1
5938,3
4879,1
3642,8
2553,1
2146,3
1885,7
1453,8
1435,6
Đã có 66 nước và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam, nhưng
chủ yếu vốn đầu tư đến từ Châu á. Trong thời kì 1991-1995, các nước Châu
á chiếm 61% tổng vốn đăng kí, các nước Châu âu chiếm 20%, Hoa Kỳ chiếm
4%. Trong thời kì 1996-2000, các nước Châu á chiếm 63%, Châu âu chiếm
32% tổng vốn đăng kí, Koa Kỳ chiếm 3%. Giai đoạn 2001 đến nay, các nước
Châu á chiếm 62%, Châu âu chiếm 23% tổng vốn đăng kí.
Hiệp định thương mạ
i song phương Việt Nam- Hoa Kỳ có hiệu lực từ
năm 2002 đã tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế giữa hai nước . Hoa Kỳ đã vượt
Giải pháp nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam
SV: Trần Thu Thuỷ
Nhật Bản trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, thế nhưng
Giải pháp nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam
SV: Trần Thu Thuỷ
+ Tham gia các liên minh thuế quan, liên minh kinh tế như liên
minh châu âu(EU)
+ Tham gia tổ chức thương mại thế giới(WTO).
Đây là tiền đề quan trọng góp phần tạo ra sức hút lớn đối với FDI.
Sau gần 20 năm đổi mới chúng ta đã đạt được những thành tựu về
kinh tế, chính trị, xã hội khá thuận lợi, đặc biệt là nhận thức đã khá rõ về vị
trí, vai trò và xu thế phát triển của FDI đối với sự phát triể
n kinh tế-xã hội.
Những thành tựu đó đã có tác động tích cực đối với sự phát triển của nền
kinh tế, trong đó có vấn đề thu hút, sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Vị trí địa lý của Việt Nam khá thuận lợi cho trung chuyển, vận tải
hàng hóa, phát triển du lịch và các ngành dịch vụ khác. Vị thế về địa kinh tế
của nước ta được các nhà đầ
u tư nước ngoài quan tâm.
Nước ta nằm trong khu vực kinh tế năng động.Khu vực này có sức
hấp dẫn lớn đối với các nhà đầu tư quốc tế. Trong nội bộ khu vực, đang diễn
rà quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư mạnh mẽ giữa các
nước. Yếu tố này cho phép chúng ta tận dụng được khả năng thu hút các
dòng đầu tư và buôn bán quốc tế
để bước kịp vào “khoảng trống” cơ cấu mà
các nước trong khu vực đang tạo ra nhưng thiếu khả năng “lấp đầy’ một cách
hiệu quả
Nước ta cũng có những ưu thế để mở rộng hợp tác và phát triển đầu tư
trực tiếp nước ngoài, đó là:
Có vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và nguồn tài nguyên tương đối
phong phù, thuận lợi cho
đầu tư phát triển, thúc đẩy giao lưu kinh tế quốc tế
với các nước trên thế giới và khu vực
dân(GDP bình quân đầu người mới chỉ đạt trên 400 USD/năm) còn quá thấp,
cũng là yếu tố hạn chế sự chú ý của các nhà đầu tư.
Môi trường đầu tư của chúng ta còn nhiều hạn chế mặc dù khung khổ
pháp luật, chính sách của Việt Nam đã được cải thiện nhiều nhưng còn thiếu
ổn định và thực hiện chưa tốt,do vậy chưa hoàn toàn thuận lợi, hấp dẫn trong
thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Bên cạnh đó, các thủ tục hành