TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
Toàn cầu hoá: Cơ hội và thách thức
đối với lao động Việt Nam khi thâm
nhập thị trường lao động Quốc tế.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Nguyệt
Lớp: A2CN8
Giáo viên hướng dẫn: ThS. Phạm Thị Mai Khanh
Hà Nội, tháng 5 năm 2003
LỜI MỞ ĐẦU
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Nguyệt A2CN8
qua đào tạo chiếm tỷ lệ còn thấp, chất lượng đào tạo còn bất cập chưa đáp
ứng yêu cầu của thị trường lao động, đặc biệt là cho các ngành, lĩnh vực
công nghệ cao, các khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất, các loại hình
dị
ch vụ hiện đại; tỷ lệ thất nghiệp còn cao; thu nhập của người lao động
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Nguyệt A2CN8 Trang 3
còn thấp. Lao động Việt Nam còn phải khắc phục những bất cập theo
chuẩn mực lao động của khu vực và quốc tế để có đủ điều kiện tham gia
hội nhập. Bên cạnh đó, quá trình hội nhập cũng đặt ra nhiều vấn đề xã hội
của lao động. Vì thế quá trình hội nhập kinh tế đòi hỏi nước ta phải vượt
qua những yếu kém rất cơ b
ản, yêu cầu đất nước phải tích cực và chủ động
nhiều hơn.
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, em đã chọn đề tài “Toàn cầu hoá: Cơ
hội và thách thức đối với lao động Việt Nam khi thâm nhập thị trường
lao động Quốc tế”.
Phương pháp nghiên cứu:
Khoá luận chủ yếu sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch
sử, kết hợp với các phương pháp phân tích, thống kê so sánh, đối chiếu
tổng hợp,… để làm sáng tỏ các vấn đề cần nghiên cứu.
Phạm vi nghiên cứu:
I. Khái quát chung về tác động của toàn cầu hoá
I.1. Khái niệm về toàn cấu hoá.
I.2. Nhận xét chung về tác động của toàn cầu hoá đến thị trường lao động
thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.
II. Tổng quan về tác động của toàn cầu hoá đối với một số vấn đề lớn trên
thị trường lao động Việt Nam.
II.1. Tác động của toàn cầu hoá đối với vấn đề việc làm
II.2. Tác động của toàn cấu hoá đối với vấn đềnguồn nhân lực.
II.3. Tác động c
ủa toàn cầu hoá đối với vấn đề quan hệ lao động.
II.4. Tác động của toàn cấu hoá đối với vấn đề điều kiện lao động.
II.5. Tác động của toàn cầu hoá đối với vấn đề xã hội của lao động.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG VN DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU
HOÁ.
I. Thực trạng về vấn đề việc làm đối với lao động Việt Nan trong bối
cảnh Toàn Cầu hoá
I.1. FDI và vấn đề tạo ra việc làm cho người lao động.
I.2. Tham gia các định chế thương mại khu vực, toàn cầu và ảnh hưởng tới
việc làm: Tham gia AFTA, APEC và các hiệp định thươngmại khác.
I.3. Di chuyển lao động trên thị trường lao động trong nước và quốc tế.
I.3.1. Di chuyển lao động trên thị trường trong nước
I.3.2. Di chuyển lao động trên thị trường quốc tế
I.4. Biến động lao động và thất nghiệp dưới tác động của toàn cầu hoá
I.4.1. Biến động lao động trong khu vực d.nghiệp dưới tác động của
TCH.
I.4.2. Vấn đề thất nghiệp dưới tác động của toàn cầu hoá.
II. Thực trạng về vấn đề phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu
toàn cầu hóa.
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Nguyệt A2CN8
I.6. Xây dựng và hoàn thiện các chính sách đối phó với những khả
năng tác động mạnh mẽ của việc thực hiện các quá trình tự do hoá
thương mại.
II. Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực
II.1. Đào tạo nhân lực cho khu FDI
II.2. Đào tạo nhân lực cho phát triển các lĩnh vực công nghệ cao.
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Nguyệt A2CN8 Trang 6
II.3. Đào tạo nguồn nhân lực cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cải
cách lao động ở nông thôn.
II.4. Đào tạo nhân lực cho xuất khẩu lao động.
II.5. Hoàn thiện các chính sách thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực.
III. Giải pháp về chính sách lao động và giải quyết các vấn đề xã hội của
LĐ
III.1. Hoàn thiện chính sách lao động
III.2. Chính sách giải quyết các vấn đề xã hội của lao động
IV. Giải pháp về toàn c
ầu hoá đối với môi trường kinh doanh.
IV.1. Nâng cao tính năng động và hiệu quả kinh doanh của nền kinh
tế.
IV.2. Tạo môi trường sản xuất kinh doanh.
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Nguyệt A2CN8
trong các lĩnh vực khác nhau c
ủa đời sống xã hội, trước hết và chủ yếu là
trên lĩnh vực kinh tế, và vận hành trong một trật tự hệ thống toàn cầu.
Toàn cầu hoá có thể được xem xét như một quá trình lịch sử tự nhiên.
Roland Robertson là người đi đầu trong quan niệm này. Ông gọi nó là quá
trình hội tụ thế giới trên phạm vi rộng, phân biệt với các quá trình trên
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Nguyệt A2CN8 Trang 8
phạm vi nhỏ hơn diễn ra trong quốc gia hay địa phương. Hàm ý của
R.Robertson là lịch sử toàn thế giới đi theo một tiến trình hợp nhất, thông
qua việc hình thành nên những thực thể xã hội lớn dần – mà lớn nhất là
thực thể toàn cầu – và ngay trong quá trình hình thành các thực thể trung
gian đã hàm chứa quá trình toàn cầu hoá, dưới dạng manh nha. Ông cho
rằng, tiến trình toàn cầu hoá bắt đầu ở Châu Âu đầu thế kỷ XV. Nó được
mở
rộng ra ngoài phạm vi Châu Âu từ giữa thế kỷ XVIII. Robertson phân
quá trình này thành hai giai đoạn: từ 1750 đến 1870 là giai đoạn “toàn cầu
hoá phôi thai”, còn từ 1870 đến những năm 1920 như là giai đoạn thiết
yếu của sự “cất cánh” đưa đến sự thiết lập một xã hội toàn cầu. Hai giai
đoạn này được xác định với một hỗn hợp của những sự phát triển chính trị,
kinh tế, văn hoá và công ngh
ệ. Từ cách tiếp cận xã hội học tôn giáo,
Robertson vẫn có được một cái nhìn khá biện chứng về quá trình toàn cầu
hoá. Ông không coi nó là quá trình đồng nhất toàn cầu, mà là sự thâm
ổng thư
ký Liên hợp quốc Kofi Anan đã nói “ Những người thua cuộc thực sự
trong một thế giới còn rất nhiều bất bình đẳng ngày nay không phải là
những người đã phải đối mặt quá nhiều với toàn cầu hoá mà là những
người bị gạt ra lề của quá trình ấy”. Thủ tướng Phan Văn Khải cũng
không chỉ rõ: “Chúng ta cần cùng nhau tìm ra các biện pháp nhằm tối đa
hoá các mặt tích cự
c và tối thiểu hoá các mặt tiêu cực của quá trình toàn
cầu hoá, đặc biệt là ngăn chặn sự phát triển của đói nghèo tại các nước
đang phát triển vì các nước này tham gia vào quá trình toàn cầu hoá là
nhằm đạt được một sự phát triển ổn định và bền vững”.
I.2. Nhận xét chung về tác động của toàn cầu hoá đến thị trường lao
động thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.
Trong xu thế toàn cầu hoá, do sự phát triển mạ
nh mẽ của khoa học kỹ
thuật và sự bành trướng của các công ty xuyên quốc gia, nhất là tác động
vào các nước đang phát triển, hai xu thế tưởng chừng như trái ngược nhau
đang diễn ra đồng thời , đó là vừa thúc đẩy sự di chuyển lao động, vừa hạn
chế dòng di chuyển này. Một mặt, nhu cầu của thị trường lao động ở nhiều
nước phát triển và các nước khan hiếm lao động
đã tạo ra một dòng chảy
lao động tới những nước này từ những nước đang phát triển và dư thừa lao
động. Mặt khác, sự bành trướng của các công ty xuyên quốc gia thông qua
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Nguyệt A2CN8
i lao động nữ của những người sử dụng lao động.
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Nguyệt A2CN8 Trang 11
Không chỉ có vậy, nhờ có thương mại hàng hoá và dịch vụ, nhờ sự chu
chuyển về vốn và các luồng di chuyển trên thị trường, thu nhập từ lao
động trong xu hướng dài hạn ở các nước đang phát triển ngày một tăng.
Tác động tích cực của toàn cầu hoá đến tiền lương trước hết được chỉ ra
trong mối liên hệ chặt chẽ giữa tiền lương và năng suất ở trong mộ
t quốc
gia. Nhìn chung các nhà kinh tế thừa nhận: Năng suất lao động tăng
nhanh hơn ở những nền kinh tế mở hơn, trong khi đến 90% sự khác biệt về
tiền lương được giải thích bởi sự khác biệt về năng suất lao động.
Với chừng mực nhất định, sự di chuyển các luồng vốn quốc tế có thể làm
cho khủng hoảng tài chính dễ xảy ra h
ơn, những mất mát về thu nhập do
toàn cầu hoá gây nên có thể lớn hơn rất nhiều so với những gì mà thương
mại quốc tế mang lại. Khủng hoàng tài chính nổ ra làm giảm mức thu
nhập từ lao động là do các luồng vốn đã ngày càng tự do di chuyển , trong
khi lao động thì không như vậy. Do vậy, đồng thời với việc “làm thông
thoáng” thị trường lao động, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cần quản
lý kinh tế
vĩ mô tốt và thực thi những chính sách tài chính có hiệu quả.
i sự di chuyển của vốn và hàng
hoá, di chuyển lao động là sự di chuyển con người nên bao giờ cũng phát
sinh nhiều vấn đề đòi hỏi có sự can thiệp và trợ giúp hiệu quả và kịp thời
của của Nhà nước. Đây là những thách thức lớn xét từ góc độ quản lý lao
động.
Toàn cầu hoá đang đặt ra những yêu cầu và điều kiện cho việc điều chỉnh
cơ c
ấu lao động xã hội sao cho có hiệu quả nhất đối với nền kinh tế. Toàn
cầu hoá mở ra khả năng cho các quốc gia phát triển chậm hơn nhanh
chóng tham gia vào hệ thống phân công lao động quốc tế, từ đó hình thành
một cơ cấu kinh tế – xã hội có hiệu quả hơn, đẩy nhanh, rút ngắn tiến trình
hiện đại hoá. Xu hướng phân công lao động quốc tế đang chuyển từ phân
công theo chiều dọc sang phân công lao độ
ng theo chiều ngang , với nội
dung của nó là phân công theo bộ phận cấu thành sản phẩm. Các cơ sở sản
xuất ở khắp các nơi trên thế giới tham gia vào sản xuất các bộ phận, chi
tiết, linh kiện theo một quy chuẩn rồi ráp nối với nhau thành sản phẩm
hoàn chỉnh. Về lâu dài, với hình thức phân công này, Việt Nam có thể
tham gia vào công đoạn nào đó của quá trình phân công lao động quốc tế
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Nguyệt A2CN8 Trang 13
mà đẩy nhanh tiến trình điều chỉnh kết cấu ngành của nền kinh tế quốc gia
như một số quốc gia trong khu vực, đặc biệt là các “con rồng, con hổ” đã
và đang áp dụng.
Trang 14
các quốc gia được thu hẹp, tốc độ và điều kiện tiếp cận với tri thức mới
được tăng lên. Toàn cầu hoá làm tăng thêm tính tự chủ của các tác nhân
tham gia quá trình này vì làm tăng cơ hội lựa chọn của họ,
Toàn cầu hoá có lợi cho việc thúc đẩy các nhân tố kinh tế như tiền tệ, kỹ
thuật, tri thức, phân bổ hợp lý hoá các nguồn lực, mở rộng hoạt động
thươ
ng mại, nâng cao hiệu quả kinh tế, gắn chặt mối liên kết kinh tế , kỹ
thuật giữa các nước và khu vực. Thị trường thế giới đã trở thành một
nguồn công nghệ và vốn vô cùng lớn lao mà các nước đều có cơ hội để
khai thác. Tri thức của loài người và thông tin toàn cầu được phổ biến
rộng rãi mà mọi người đều có cơ hội tiếp cận.
Đối với nướ
c ta, toàn cầu hoá tạo cơ hội thu hút các nguồn vốn đầu tư
nước ngoài, tiếp thu các công nghệ mới để thúc đẩy phát triển kinh tế.
Toàn cầu hoá thúc đẩy phát triển thương mại và tạo điều kiện cho nước ta
tham gia sâu rộng hơn vào phân công lao động quốc tế nhằm phát huy tốt
hơn lợi thế cạnh tranh của nền kinh tế. Như vậy, với những điều kiện phù
hợ
p, toàn cầu hoá có thể đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế, xoá
đói giảm nghèo và mở ra con đường phát triển lâu dài bền vững tiến kịp
các nước đi trước.
Những thách thức
Khả năng cạnh tranh của nền kinh tế nói chung và của từng loại hàng
hoá, dịch vụ nói riêng còn thấp hơn nhiều so với các nước trong khu
vực và trên thế giới và về chất lượng, giá cả, mẫu mã ;
Cơ sở hạ tầng (
đướng sá, bến cảng, giao thông, thông tin liên lạc, điện
nước ) kém phát triển chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế;
Trình độ công nghệ của các ngành kinh tế rất lạc hậu (đi sau các nước
trong khu vực từ 3-5 thế hệ). Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào
quản lý và kinh doanh còn ở mức rất thấp;
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Nguyệt A2CN8 Trang 16
Các thể chế kinh tế thị trường chưa được thiết lập và phát triển đồng
bộ;
Chất lượng nguồn nhân lực còn bất cập. Ngoài trình độ chuyên môn
nghiệp vụ, những phẩm chất khác như ý thức chấp hành kỷ luật lao
động và kỷ luật công nghệ, khả năng ngoại ngữ, tình trạng sức khoẻ
cũng đáng lo ngại;
Cơ
sở vật chất của hệ thống đào tạo, dạy nghề nước ta lạc hậu so với
trình độ chung của nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Trong
độ và phạm vi tác động của toàn cầu hoá đổi với những thay đổi của Việt
Nam để có những đối sách thích hợp.
Trong lĩnh vực lao động – việc làm và các vấn đề xã hội, có thể khái quát
một số tác động của toàn cầu hoá như sau:
II.1. Tác động của toàn cấu hoá đối với vấn đề việc làm
Về tổng thể trên phạm vi toàn cầu, quá trình toàn cầu hoá làm tăng lưu
lượng giao dịch trên cả 3 thị trường là thị trường hàng hoá-dịch vụ, thị
trường tài chính và thị trường lao động. Đối với thị trường lao động thế
giới, tổng cầu về lao động, tức số việc làm mới được tạo ra nhiề
u hơn,
nhưng đi kèm theo đó sẽ là sự dư thừa lao động cục bộ, tức thất nghiệp do
sự cạnh tranh và sự phân bổ lại các nguồn lực dưới tác động điều chỉnh
của thị trường toàn cầu. Như vậy, sự gia tăng của tổng cầu về lao động và
suy giảm cục bộ về lao động chính là hai yếu tố mang đến thời c
ơ và thách
thức cho mỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp trong quá trình toàn cầu hoá.
Trong khi toàn cầu hoá vừa làm mất đi việc làm vừa tạo ra việc làm mới,
hai quá trình này không diễn ra đồng thời. Trong giai đoạn tự do hoá
thương mại, và nói chung hơn là giai đoạn của cải cách kinh tế, tốc độ mất
việc làm có thể cao hơn so với tốc độ tạo việc làm. Những nguyên nhân
thường được nêu ra là:
- Do phả
i sắp xếp lại lao động khi dỡ bỏ những rào cản thương mại, đặt
biệt là trong những ngành được Nhà nước chính thức bảo hộ dựa vào
nguồn lao động rẻ và chất lượng thấp.
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Nguyệt A2CN8
dụng tích cực trong việc tạo ra việc làm mới trong bốn khu vực: Thứ nhất
là khu vực đầu tư nước ngoài FDI, Thứ hai là các doanh nghiệp sản xuất
và chế biến hàng xuất khẩu, thứ ba là xuất khẩu lao động, và thứ tư là tại
các khu vực khác, toàn cầu hoá đã có ảnh hưởng nhất định t
ới kích cầu nội
địa về hàng hoá-dịch vụ đã có tác dụng tăng cầu lao động, tức tạo thêm
việc làm.
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Nguyệt A2CN8 Trang 19
Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, đầu tư nước ngoài (FDI) tạo thêm số
việc làm bằng 2-3% tổng số việc làm được tạo thêm hàng năm. Tính đến
năm 2002, tổng số việc làm trực tiếp do khu vực FDI tạo ra là khoảng 420
ngàn chỗ làm việc, chưa kể số việc làm được tạo ra gián tiếp từ FDI.
Hàng triệu lao động được thu hút vào những ngành nghề sản xuất hàng
xuất khẩu, trong đó có những ngành có tổng kim ngạch xuất khẩu lớn và
sử dụng nhiều lao động như dệt may, giày dép, nuôi trồng và chế biến thuỷ
sản, thủ công mỹ nghệ, trồng các loại cây nông nghiệp và công nghiệp như
lúa, cà phê, hạt tiêu, hạt điều, cao su, cây ăn quả
Về xuất khẩu lao động, hiện nay có khoảng 330 ngàn người Việt Nam
đang làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng xuất khẩu lao động. Tính trung
bình, hàng năm lượng tiền do số người Việt Nam làm việc theo những hợp
đồng lao động hợp pháp ở nước ngoài gửi về vượt con số 1,3 tỷ USD.
khoảng 750 ngàn chỗ làm việc mới.
Ngoài tác động tích cực trong việc tạo việc làm mới, toàn cầu hoá cũng
buộc các doanh nghiệp của Việt Nam phải không ngừng nâng cao tính
cạnh tranh, sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn lực, trong đó có
nguồn lực lao động. Chính sức ép này đang tạo ra những thách thức đối
với vấn đề việc làm, nhất là trong khu vực kinh tế quốc doanh. Trước hết,
cần khảng định chủ trương tổ
chức, sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà
nước là chủ trương của Đảng và Nhà nước nhằm làm cho khu vực kinh tế
Nhà nước làm ăn có hiệu quả hơn, sử dụng hợp lý và kinh tế hơn các
nguồn lực của xã hội. Quá trình sắp xếp , tổ chức lại doanh nghiệp Nhà
nước lại diễn ra trong điều kiện toàn cầu hoá nên nhiều doanh nghiệp chịu
sức ép cạnh tranh hoặc trự
c tiếp hoặc gián tiếp từ thị trường quốc tế. Trong
thời đại ngày nay, khó có thể tìm thấy một doanh nghiệp nào mà các yếu
tố đầu vào hoặc đầu ra, hoặc các phần cấu thành nên yếu tố đầu vào không
chịu ảnh hưởng của giá cả thị trường quốc tế. Trong bối cảnh đó, nhiều
doanh nghiệp Nhà nước đã bộc lộ yếu kém trong quản lý và sử dụng
nguồ
n lực, trong đó có nguồn lực lao động. Để đảm bảo tính hiệu quả và
sức cạnh tranh của từng doanh nghiệp và của toàn bộ khu vực kinh tế Nhà
nước, một bộ phận lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp Nhà
nước sẽ thuộc diện dôi dư. Bởi vậy, trong những năm tới, xử lý vấn đề lao
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Nguyệt A2CN8
mang tính toàn cầu, trái lại năng lực và tư chất con người quyết định biến
những cơ hội do môi trường mới mang lại thành những hoạt động sản xuất
thiết thực, mở đường “tiến kịp” các nước đi trước.
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Nguyệt A2CN8 Trang 22
Toàn cầu hoá càng phát triển, các thị trường càng được mở rộng, thương
mại càng tự do thì sức ép về tính cạnh tranh càng cao đối với mỗi nền kinh
tế, mỗi doanh nghiệp, thậm chí mỗi cá nhân. Trước đây, giá nhân công rẻ
là lợi thế của các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, để thu hút
vốn đầu tư nước ngoài và xuất khẩu lao động. Nhưng ngày nay, lợi thế này
đang dần mất đi ý ngh
ĩa. Trong bối cảnh khả năng tiếp cận đối với các
thiết bị, máy móc, công nghệ hiện đại của các doanh nghiệp là gần như
nhau, yếu tố tạo nên sức cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp, mỗi nền kinh tế
chủ yếu nằm ở yếu tố quản lý và chất lượng nguồn nhân lực. Ngoài ra, yếu
tố giá lao động rẻ chỉ có lợi thế tuyệt đố
i với những ngành kinh tế sử dụng
công nghệ cao hoặc những ngành sử dụng nhiều vốn. Bởi vậy, việc không
ngừng nâng cao tính cạnh tranh của nguồn nhân lực đang trở thành cuộc
chạy đua giữa các doanh nghiệp, giữa các nền kinh tế. Có thể nói toàn cầu
hoá đang tạo ra yêu cầu, động lực và điều kiện để phát triển nguồn nhân
lực, đào tạo và nâng cao tay nghề chuyên môn k
ỹ thuật. Đây vừa là điều
kiện thuận lợi , vừa là thách thức lớn đối với Việt Nam trong lĩch vực phát
ệt là đối với thị trường lao động ngoài nước.
Sức cạnh tranh chưa cao của lao động nước ta không chỉ thể hiện ở trình
độ chuyên môn, tay nghề chưa cao , thiếu ngoại ngữ, mà còn ở tinh thần
chấp hành kỷ luật, hiểu biết pháp luật còn hạn chế, văn hoá ứng sử trong
công việc chưa phù hợp với tác phong làm việc hiện đại. Tính cạnh tranh
chưa cao của lực lượng lao độ
ng Việt Nam tiếp tục là những thách thức
lớn đối với Việt Nam trong quá trình toàn cầu hoá, đòi hỏi chúng ta phải
có những cố gắng lớn hơn trong chiến lược giáo dục và phát triển nguồn
nhân lực cho phù hợp với yêu cầu của thời đại.
II.3. Tác động của toàn cầu hoá đối với vấn đề quan hệ lao động.
Dưới tác động của toàn cầu hoá kinh tế cơ chế quan hệ lao động mới được
hình thành. Trong đó, cơ chế thoả ước lao động tập thể (cộng đồng hiệp
ước) và hợp đồng lao động nguyên tắc cơ sở để người lao động và người
sử dụng lao động cam kết thực hiện quan hệ lao động.
Thoả ước lao động tập thể và hợp động lao
động được sử dụng rộng rãi
trong quan hệ lao động tại các nước kinh tế thị trường trên thế giới, là căn
cứ để bảo vệ người lao động và người sử dụng lao động trước pháp luật có
sự tham gia của đại diện Công đoàn, Nghiệp đoàn.
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Nguyệt A2CN8 Trang 24
quan đối với hàng hoá xuất nhập khẩu.
Hiện nay, ngày càng có nhiều chính phủ chuyển sang chính sách tự do
hoá, mở cửa thị trường và loại bỏ những cơ chế điều hành cản trở các hoạt
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Nguyệt A2CN8 Trang 25
động sản xuất kinh doanh. Chính sách này đã tạo ra một môi trường thông
thoáng hơn bao giờ hết cho sự phát triển của các mối quan hệ kinh tế giữa
các quốc gia. Chính sách tự do hoá đã tạo điều kiện cho việc khai thác các
công nghệ mới ở các thị trường có quy mô toàn cầu ở mọi nơi trên thế
giới. Nhiều nước đã mạnh dạn dựa nhiều hơn vào các thị trường quốc tế
nh
ằm tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự tăng trưởng và phát triển của
mình. Quá trình tự do hoá hiện đang tập trung vào lĩnh vực đầu tư và
thương mại của WTO đang đóng một vai trò chủ đạo trong quá trình này.
II.4. Tác động của toàn cầu hoá đối với vấn đề điều kiện lao động
Điều kiện lao động là nhân tố quan trọng và xuyên suốt các thời kỳ phát
triển của quá trình toàn cầu hoá. Nhưng tiến bộ của khoa học-kỹ thuật và
công nghệ bao gồm những phát minh, sáng chế, các biện pháp kỹ thuật
tiên tiến, các giống mới, các phương pháp công nghệ hiện đại, các lý
thuyết và phương thức quản lý mới trong mọi lĩnh vực được áp dụng vào
thực tiễn sản xuất, kinh doanh làm tăng n
ăng suất lao động, tạo ra ngày