Tài liệu Luận văn tốt nghiệp “Xúc tiến thương mại trong thương mại điện tử và một số giải pháp với các doanh nghiệp Việt Nam” - Pdf 99

TRƯỜNG
KHOA LUẬN VĂN Xúc tiến thương mại trong
thương mại điện tử và một
số giải pháp với các doanh
nghiệp Việt Nam Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Thuỷ - lớp A3 K38-KTNT

1
LỜI MỞ ĐẦU
Xúc tiến thương mại là các hoạt động xúc tiến việc bán sản phẩm của các
doanh nghiệp trên thị trường nói chung và thị trường mục tiêu nói riêng. Nó
có một tác dụng hết sức to lớn trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
và còn được coi là một bộ phận hữu cơ gắn liền với hoạt động sản xuất. Các
công ty trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đều mong muố
n hoạt
động kinh doanh của mình được suôn sẻ, mang lại lợi nhuận cao điều đó
không ngừng thôi thúc họ tìm ra các giải pháp xúc tiến thương mại hiệu quả.

thương mại đã phổ biến. Còn ở Việt Nam thì vẫn còn hạn chế, gần 90% doanh
nghiệp Việt Nam chưa thực sự quan tâm tớ
i thương mại điện tử. Một số
doanh nghiệp Việt Nam áp dụng nhưng chưa thành công, nhiều trang Web có
nội dung tẻ nhạt, thông tin không cập nhật, việc gửi thư điện tử tới các khách
hàng hay tiến hành quảng cáo qua mạng nhiều khi không đúng lúc, không hợp
lý, dẫn đến gây sự khó chịu cho khách hàng. Do đó, các doanh nghiệp Việt
Nam cần có những giải pháp phù hợp để xây dựng nên một chiến lược xúc
ti
ến thương mại thành công. Xuất phát từ thực tiễn đó, em đã mạnh dạn chọn
đề tài “Xúc tiến thương mại trong thương mại điện tử và một số giải pháp
với các doanh nghiệp Việt Nam” làm mục tiêu nghiên cứu của mình.
Ngoài lời mở đầu và kết luận, khoá luận gồm ba chương:
Chương I: Những vấn đề cơ bản về thương mại đi
ện tử
Chương II: Xúc tiến thương mại trong thương mại điện tử và một số
bài học kinh nghiệm rút ra với Việt Nam
Chương III: Giải pháp ứng dụng xúc tiến thương mại trong thương mại
điện tử tại Việt Nam
Trong quá trình viết khóa luận, em đã nhận được sự giúp đỡ hết sức quý
báu của các thầy, cô giáo trong khoa Kinh Tế Ngoại Thương, đặc biệt là sự
giúp đỡ tận tình của thầy giáo Nguyễn Quang Hiệp. Em xin bày tỏ lòng biết
ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo hướng dẫn, các thầy cô giáo khoa Kinh Tế Ngoại
Thương, gia đình và bè bạn đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để em có thể hoàn
thành đề tài này. Tuy nhiên, do khả năng và trình độ còn nhiều hạn chế nên
khoá luận không thể tránh khỏi những sai sót nhất định. Rất mong được các
thầy, cô giáo và các bạn ch
ỉ bảo, trao đổi thêm.
Hà nội, ngày 15 tháng 12 năm 2003
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Thuỷ - lớp A3 K38-KTNT

dữ liệu (database), các bảng tính (spread sheet), hình ảnh động (video
image), Bản chất của thương mại điện tử chính là việc sử dụng các phương
tiện điện tử để tiến hành giao dịch thương mại.
Theo Ủy ban Liên Hiệp quốc về luật thương mại quốc tế, đã được ghi trong
đạo luật mẫu về TMĐT, thuật ngữ “thương mại” cầ
n hiểu theo nghĩa rộng để
bao quát các vấn đề nảy sinh từ mọi mối quan hệ mang tính chất thương mại,
dù có hay không có hợp đồng. Các mối quan hệ mang tính thương mại
(commercial) bao gồm các giao dịch sau đây: Bất cứ giao dịch thương mại

*
TMĐT: Thương mại điện tử-Electronic commerce
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Thuỷ - lớp A3 K38-KTNT

5
nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hoá, dịch vụ; thoả thuận phân phối; đại
diện hoặc đại lý thương mại; uỷ thác hoa hồng (factoring); cho thuê dài hạn
(leasing); xây dựng các công trình; tư vấn; kỹ thuật công trình (engineering);
đầu tư; cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; thoả thuận khai thác, liên doanh hoặc
các hình thức khác về hợp tác công nghệ hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng
hoá hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường
bộ”.
Như vậy, “thương mại” (commerce) trong “thương mại điện tử” (Electronic
commerce) không chỉ là buôn bán hàng hoá và dịch vụ theo cách hiểu thông
thường, mà bao quát một phạm vi rộng hơn nhiều, và do đó việc áp dụng
thương mại điện tử sẽ làm thay đổi hình thái hoạt động của hầu như tất cả các
hoạt động kinh tế. Theo ước tính hiện nay thương mại điện tử có tới trên 1300

nh vực ứng dụng, trong đó buôn bán hàng hoá và dịch vụ chỉ là một lĩnh vực
ứng dụng.

tính nhạy cảm cao.
2. Quá trình hình thành thương mại điện tử
2.1 Lý do ra đời của thương mại điện tử

Thương mại điện tử ra đời như một tất yếu của quá trình phát triển trong
môi trường cạnh tranh khắc nghiệt, doanh nghiệp nào muốn tồn tại phải ứng
dụng những tiến bộ công nghệ một cách có hiệu quả. Công nghệ thông tin
mang đến những biến đổi thần kỳ trong chính bản thân nó, đồng thời lại tác
động đến hầu hết các ngành nghề trong đó có cả kinh t
ế. Nó làm thay đổi bộ
mặt thế giới. Sự phát triển chín muồi của các công cụ như Internet, Email,
WWW là lý do ra đời phương thức giao dịch mới – thương mại điện tử.
Giao dịch truyền thống bằng giấy tờ vừa tốn kém lại mất nhiều thời gian.
Điều này đã gây cản trở rất lớn khi khối lượng giao dịch thương mại quốc tế
ngày càng tă
ng. Hơn nữa giao dịch truyền thống ngày càng bộc lộ nhiều
nhược điểm, đây là thời điểm tốt nhất để cho ra đời phương thức giao dịch
mới với nhiều ưu điểm hơn, đó là thương mại điện tử.
2.2 Quá trình hình thành của thương mại điện tử

Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Thuỷ - lớp A3 K38-KTNT

7
Năm 1969, Bộ Quốc phòng Mỹ thành lập Mạng các dự án Nghiên cứu tiên
tiến (ARPANET)
(1)
. ARPANET là mạng đầu tiên nối các tổ chức hay gọi là
INTERNET. Cùng trong thời gian này, việc tự động hoá trong ngành công
nghiệp dịch vụ tài chính bắt đầu hình thành và phát triển, chẳng hạn như quá
trình xử lý séc ra đời, tiếp theo là quá trình xử lý thẻ tín dụng và chuyển tiền

Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Thuỷ - lớp A3 K38-KTNT

8
3.1 Các hình thức hoạt động thương mại điện tử

a.
Thư tín điện tử (E-mail)
Giống như trao đổi thư từ bình thường, các đối tác (người tiêu thụ, các
doanh nghiệp cơ quan Chính phủ) sử dụng thư điện tử để gửi thông tin cho
nhau một cách “trực tuyến” thông qua mạng, gọi là thư tín điện tử - electronic
mail. Thư tín điện tử có tốc độ truyền nhanh, có thể gửi cùng một lúc một nội
dung cho nhiều đối tượng vào mọi lúc, ở mọi nơ
i trên thế giới, ngoài ra cước
phí của thư điện tử lại thấp hơn nhiều so với gửi thư qua bưu điện và điện
thoại.
b
. Thanh toán điện tử (electronic payment)
Là việc thanh toán tiền thông qua thông điệp điện tử (electronic message)
thay cho việc trao tay tiền mặt. Với sự phát triển của thương mại điện tử,
thanh toán điện tử đã mở rộng sang lĩnh vực mới đáng đề cập là:
 Trao đổi dữ liệu điện tử tài chính (Financial Electronic Data
Interchange, gọi tắt là FEDI) chuyên phục vụ cho việc thanh toán điện
tử giữa các công ty giao d
ịch với nhau bằng điện tử.
 Tiền mặt Internet (Internet cash): Là tiền được mua từ một nơi
phát hành (ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng), sau đó được chuyển đổi
tự do sang các đồng tiền khác thông qua Internet. Tiền mặt Internet
được áp dụng rộng rãi trong phạm vi một nước cũng như giữa các
quốc gia và tất cả đều được thực hiện bằng kỹ thuật số hoá, vì thế tiề
n

(digital securities trading)

Hệ thống thanh toán điện tử của ngân hàng là một đại hệ thống, gồm nhiều
tiểu hệ thống: (1) thanh toán giữa ngân hàng với khách hàng qua điện thoại,
giao dịch qua Internet, chuyển tiền điện tử, thẻ tín dụng ; (2) thanh toán giữa
ngân hàng với các đại lý thanh toán (nhà hàng, siêu thị, ), (3) thanh toán
trong nội bộ một hệ thống ngân hàng; (4) thanh toán giữa hệ thống ngân hàng
này với hệ thống ngân hàng khác.
f.
Trao đổi dữ liệu điện tử (Electronic Data Interchange)
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Thuỷ - lớp A3 K38-KTNT

10
Trao đổi dữ liệu điện tử (Electronic Data Interchange, gọi tắt là EDI) là
chuyển giao thông tin từ máy tính điện tử này sang máy tính điện tử khác,
giữa các công ty hay tổ chức đã thoả thuận buôn bán với nhau theo cách này
một cách tự động mà không cần có sự can thiệp của con người (gọi là dữ liệu
có cấu trúc, vì các bên thực hiện giao dịch với nhau đã quy định trước khuôn
dạng cấu trúc của thông tin). Đây là hình thức
được sử dụng phổ biến nhất.
Theo Ủy ban Liên Hiệp quốc về luật thương mại quốc tế thì: “trao đổi dữ liệu
điện tử (EDI) là việc chuyển giao thông tin từ máy tính này sang máy tính
khác bằng phương tiện điện tử, có sử dụng một tiêu chuẩn đã được thoả
thuận về cấu trúc thông tin”. EDI ngày càng được sử dụng rộng rãi trên bình
diện toàn cầu, chủ yế
u phục vụ cho mua và phân phối hàng (gửi đơn hàng,
các xác nhận, các tài liệu gửi hàng, hoá đơn ) người ta cũng dùng cho các
mục đích khác, như thanh toán tiền khám bệnh, trao đổi các kết quả xét
nghiệm v.v EDI chủ yếu được thực hiện thông qua mạng ngoài (extranet) với
nhau và thường được gọi là “mạng thương mại” (net commerce). Trước khi

việc bán hàng. Người sử dụng Internet/Web tìm trang Web của cửa hàng, xem
hàng hoá hiển thị trên màn hình xác nhận mua và trả tiền bằng thanh toán điện
tử. Lúc đầu việc mua bán như vậy còn ở dạng sơ khai, người mua chọn hàng
rồi đặt hàng thông qua mẫu đơn (form) được đặt ngay trên trang Web.
3.2 Các hình thức giao d
ịch của thương mại điện tử

Hình 1: Mô hình các giao dịch thương mại điện tử
Các giao dịch TMĐT diễn ra giữa 3 nhóm tham gia chủ yếu: doanh nghiệp,
Chính phủ và người tiêu dùng. Các giao dịch này diễn ra bằng cách sử dụng

INTERNET
Người tiêu dùng,
người dân
Doanh nghiệp
Chính
p
hủ
B2C
B2B
G2C
G2G
B2G
Doanh nghiệp

khác, mỗi bên chuyên môn hoá về một lĩnh vực, hay doanh nghiệp có thể tiết
kiệm được thời gian và chi phí cho việc tìm và mua nguyên vật liệu ph
ục vụ
cho quá trình sản xuất của mình do doanh nghiệp mua nguyên vật liệu của
nhà cung cấp là người bán hàng trực tuyến qua mạng.
b
. Giao dịch Business to Customer (B2C)
Giao dịch giữa doanh nghiệp và khách hàng dưới hình thức người tiêu dùng
thực hiện mua bán hàng hoá qua trang Web gọi là B2C.
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Thuỷ - lớp A3 K38-KTNT

13
Mặc dù phương thức Business to Business chiếm một tỷ trọng lớn nhưng
Business to Customer ngày nay đang có nhiều triển vọng phát triển vì hiện
nay nhiều gia đình muốn tiết kiệm thời gian đi mua hàng bằng cách chỉ ngồi ở
nhà nhấn chuột vào màn hình thì họ đã có thể yêu cầu người bán giao hàng
đến tận nhà hoặc người tiêu dùng có thể dùng ngay dịch vụ của nhà cung cấp
trên mạng điển hình là các hoạt động vui chơ
i, giải trí như nghe nhạc, đọc
truyện, đọc báo, xem phim v.v
Hàng hóa trao đổi trên Internet giờ đây không chỉ là hàng hoá hữu hình mà
cả hàng hoá vô hình. Giao dịch truyền thống mất dần lợi thế so với giao dịch
điện tử.
+ Hàng hoá vô hình:
Phần lớn các giao dịch điện tử hàng hoá vô hình đều được đưa trực tiếp đến
máy tính cá nhân người tiêu thụ thông qua mạng. Các hàng hóa này gồm 4
lĩnh vực: giải trí, du lịch, báo và tạp chí, dịch vụ
tài chính và Email.
+ Hàng hóa hữu hình:
Hàng hoá được bán chủ yếu bằng phương thức điện tử là sách vở, quần áo,

Ở Singapore, Chính phủ điện tử được ra đờ
i vào năm 2001, người tiêu
dùng có thể đặt vé máy bay qua mạng và trả tiền qua mạng. Đối với những
nhà kinh doanh bận rộn thì việc mua bán các dịch vụ hay nộp các khoản phí,
lệ phí cho Nhà nước qua mạng là một điều rất thuận tiện. Thậm chí, Chính
phủ này còn dự định giảm thiểu các thủ tục phiền hà, phức tạp và mất thời
gian hiện nay như đăng ký thành lập doanh nghiệp cũng có thể tiế
n hành qua
mạng.
Ở Việt Nam thì việc đăng ký thành lập doanh nghiệp cũng như việc mua vé
tàu, vé máy bay chưa được thực hiện qua mạng một cách phổ biến, chỉ thực
hiện ở thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh, nhưng trong tương lai loại
hình dịch vụ này sẽ được thực hiện do người tiêu dùng muốn giảm thiểu thời
gian đi mua hàng bằng cách chỉ ở nhà nhấp chuột thì đ
ã có thể mua được vé
tàu, vé máy bay, họ không phải chịu cảnh chen lấn xô đẩy để mua vé như hiện
nay.
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Thuỷ - lớp A3 K38-KTNT

15
Đối với giao dịch giữa Chính phủ với Chính phủ thì có diễn ra nhưng
chiếm tỷ trọng rất ít, không đáng kể.
II/ NHỮNG LỢI ÍCH CƠ BẢN CỦA TMĐT
1. Tác động của TMĐT tới hiệu quả kinh tế, xã hội
1.1 TMĐT làm thay đổi quy mô thị trường - cạnh tranh toàn cầu

Với Internet các quá trình thương mại được thực hiện theo thời gian thực
(24 giờ/ngày, 365 ngày/năm), cạnh tranh trực tuyến mang tính toàn cầu do
người tiêu dùng có thể lựa chọn mua hàng hoặc dịch vụ của nhiều công ty trên
khắp thế giới thông qua mạng. Còn các công ty có cơ hội tiếp cận với một thị

Từ New York đi Tokyo

Qua bưu điện 5 ngày 7,40
Chuyển phát nhanh 24 giờ 26,25
Qua máy Fax 31 phút 28,83
Qua Internet 2 phút 0,10
New York đi Los Angeles

Qua bưu điện 2-3 ngày 3,00
Chuyển phát nhanh 24 giờ 15,50
Qua máy Fax 31 phút 9,36
Qua Internet 2 phút 0,10

Nguồn: Thương mại điện tử của ban TMĐT- Bộ thương mại, 1998
Thương mại điện tử giúp giảm chi phí bán hàng và tiếp thị. Theo số liệu
của hãng máy bay Boeing (Mỹ), đã có tới 50% khách hàng đặt mua 9% phụ
tùng qua Internet ; mỗi ngày hãng giảm được 600 cuộc điện thoại
(2)
.
Chi phí văn phòng cấu thành trong chi phí sản phẩm, việc giảm chi phí văn
phòng theo nghĩa giảm thiểu các khâu in ấn giấy tờ, giảm thiểu số nhân viên
văn phòng cũng có nghĩa là giảm chi phí sản phẩm.
1.3 Thương mại điện tử và cơ cấu nghề nghiệp

Tác động của thương mại điện tử tới cơ cấu nghề nghiệp chưa thể hiện rõ ở
các nước chậm phát triển, song dự đoán sẽ trở nên rõ rệt do tiến trình toàn cầu
hóa đang được đẩy mạnh và xu thế kinh tế tri thức đang mau chóng trở thành
hiện thực ngay tại các nước đang phát triển. Tác động chung của thương mại

2

tăng nhu cầu của con người đối với nhiều loại hàng hoá như phần mềm, dịch
vụ trực tuyến, dịch vụ tương tác, sản phẩm nghe nhìn, âm nhạc ấn phẩm đang
tăng tương đối nhanh, điều này dẫ
n tới việc tăng lượng công việc, kéo theo
tăng số đầu việc.
Công nghiệp bản quyền (thông tin, ấn phẩm, phim, nghe nhìn, phần
mềm ) có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất về khả năng tạo ra việc làm mới.
Hiện nay, tỷ lệ nhân công của khu vực này (tính trung bình cho Mỹ, Canada,
Tây Âu, Nhật Bản, Singapore, Australia) là 5% toàn bộ nhân công nói chung.
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Thuỷ - lớp A3 K38-KTNT

18
Theo dự báo của Hội đồng Châu Âu, đến năm 2005, công nghiệp bản quyền
của Mỹ và Châu Âu sẽ tạo ra 5 triệu đầu việc mới.
Thương mại điện tử đã và đang làm thay đổi cơ cấu kỹ năng. Tại các nước
phát triển, mọi nhân viên của các doanh nghiệp đều phải biết sử dụng máy
tính cá nhân, truy cập Internet, tiến hành các giao dịch công tác qua mạng.
Chủ trang trại và nông dân cũng
đã tiếp cận nhanh chóng với Internet, sử
dụng Web để bán sản phẩm của mình như mua giống phân bón, lấy thông tin
thị trường, thời tiết Học sinh các trường chuyên nghiệp sử dụng Internet như
là một thói quen bắt buộc. Sinh viên đại học và các nhà nghiên cứu thì từ lâu
đã sử dụng Internet để phục vụ cho quá trình học tập và nghiên cứu của mình.
Có thể nói hiện nay khoảng cách thông tin giữa các nước phát triển và các
nước kém phát triển
đang ngày càng lớn do Internet đã và đang được sử dụng
ngày càng nhiều và hiệu quả tại các nước phát triển, trong khi đó, các nước
kém phát triển vẫn cố duy trì một số độc quyền thiển cận, ngăn cản quá trình
tiếp cận thông tin của người dân thông qua cung cấp dịch vụ mạng với giá
cao, chất lượng dịch vụ thấp Ở Việt nam, thực trạng này vẫn còn được tồn

nên quen thuộc với Internet và văn hóa sử
dụng Internet.
Công nghệ thông tin và truyền thông còn góp phần quan trọng vào việc
củng cố hạ tầng cơ sở xã hội trong đó có giáo dục, văn hoá, y tế, dịch vụ
công, giao thông liên lạc. Các ứng dụng đặc thù của công nghệ thông tin góp
phần quan trọng cho các quá trình phát triển cộng đồng, phát triển xã hội.
Giáo dục và đào tạo
Công nghệ thông tin truyền thông và thương mại điện tử đ
ã tạo ra cơ hội
phát triển giáo dục và đào tạo như: dạy học từ xa, học với các thiết bị đa
phương tiện, học suốt đời, vừa học vừa làm, tự học nền kinh tế mới cũng tạo
ra những nhu cầu cấp thiết về đào tạo các nghề có liên quan tới công nghệ,
đào tạo các kỹ năng hợp tác trong công việc, các phương pháp làm việ
c và
quản lý mới. Internet, ngoài việc trở thành cơ sở công nghệ cho việc học suốt
đời, còn là cơ sở cho việc đào tạo chuyên nghiệp.
Y tế
Thông qua các trang Web, người dân có thể tìm hiểu các vấn đề về sức
khoẻ, ví dụ như tìm hiểu về cách phòng và chữa một số bệnh thường gặp. Họ
cũng có thể gửi các thắc mắc của mình về sức khoẻ qua mạng để
được giải
đáp, từ đó họ sẽ có được một kiến thức vững chắc về y học. Ngoài ra, họ cũng
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Thuỷ - lớp A3 K38-KTNT

20
có thể tiếp cận với các khám phá khoa học mới về công nghệ sinh học của các
nước trên thế giới thông qua mạng máy tính.
Hơn nữa, việc áp dụng thương mại điện tử làm cho nền kinh tế phát triển
nhanh hơn, cuộc sống văn minh, hiện đại hơn, điều đó cũng gián tiếp làm cho
y tế phát triển nhanh do có sự đầu tư thích đáng hơn các công nghệ tiên tiến

2.1 Thương mại điện tử làm giảm chi phí

Thương mại điện tử làm ảnh hưởng tới bốn loại chi phí lớn của doanh
nghiệp trong quá trình sản xuất và tiến hành các giao dịch thương mại, bao
gồm:
-
Chi phí tiêu thụ:
Tác động lớn nhất về chi phí khi áp dụng thương mại điện tử là cho phép
doanh nghiệp có thể thay thế hàng loạt các cửa hàng vật lý (cửa hàng thực),
bằng những cửa hàng ảo trên cơ sở các website. Vì các website hoạt động 24
giờ/ 1 ngày, 7 ngày/ tuần với thị trường toàn cầu ở bất kỳ thời điểm nào nên
doanh nghiệp có thể phục vụ một tập hợp khách hàng lớn hơn mà không cầ
n
phải xây dựng, tổ chức hay phân loại các cơ sở vật lý của mình. So với việc
quản lý nhiều cửa hàng, việc quản lý một cửa hàng ảo cho phép doanh nghiệp
cắt giảm được nhiều chi phí trong khâu quản lý, đặc biệt là chi phí kiểm kê
hàng hoá. Việc truy cập 24/24 giờ tới các cửa hàng ảo đem lại sự tiện lợi đối
với khách hàng, chính sự tiện lợi này là một đặc tính ưu việ
t của các hoạt
động kinh doanh ảo.
Với việc cung cấp các sản phẩm hoặc thông tin dịch vụ trực tuyến, khách
hàng có thể hình thành kỹ năng và kiến thức để tự đánh giá giá cả của hàng
hoá cũng như đặc điểm của quá trình thực hiện hàng hoá. Trong tương lai một
môi trường kinh doanh điện tử như vậy sẽ cho phép khách hàng thường xuyên
truy cập website, nắm được ngày càng nhiều thông tin sản phẩ
m cũng như các
thuộc tính về giá cả. Từ đó việc giao tiếp giữa khách hàng với các nhân viên
bán hàng chuyên nghiệp hoặc với những nhân viên hỗ trợ sẽ được thực hiện ở
trình độ cao hơn.
Một tác động khác của thương mại điện tử tới chi phí tiêu thụ là làm tăng

Lĩnh vực chi phí thứ hai mà thương mại điện tử tác động tới là chi phí mua
sắm. Hoạt động mua sắm của các doanh nghiệp chủ yếu bao gồm việc mua
sắm các sản phẩm liên quan tới các lĩnh vực bảo trì, sửa chữa và vận hành
(MRO- Maintenance, Repair, Operation). Ở đây không đề cập đến các chi phí
liên quan đến mua hàng hoá, sản phẩm kinh doanh và những chi phí mua
nguyên liệu, vật liệu thô sử dụng để sản xuấ
t trực tiếp ra các sản phẩm và
cung cấp các dịch vụ.
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Thuỷ - lớp A3 K38-KTNT

23
Trong thương mại truyền thống, khi cần được cung ứng MRO, nhân viên
mua hàng của một tổ chức sẽ phải viết giấy yêu cầu. Sau đó, nhân viên này sẽ
nghiên cứu các tờ Catalog khác nhau để tìm ra loại sản phẩm phù hợp với
mức giá hợp lý. Quá trình này bao gồm nhiều công đoạn phức tạp nên chi phí
quản lý cho việc mua gián tiếp các yếu tố đầu vào này thường vượt quá giá
trị của chính bản thân các yếu tố
đó. Theo tổ chức phát triển và hợp tác quốc
tế của Liên Hiệp quốc (OECD), trung bình một công ty có doanh thu lớn hơn
500 triệu USD, chi phí cho mỗi đơn đặt hàng cung cấp sản phẩm MRO đơn lẻ
vào khoảng từ 75 USD-150 USD. Vì vậy mục tiêu của nhiều ứng dụng mua
sắm trong thương mại điện tử là kết nối trực tiếp các công ty, các tổ chức với
Catalog của các nhà cung cấp và toàn bộ quá trình mua hàng đều được th
ực
hiện trên Web. Việc kết nối các catalog điện tử làm cho các doanh nghiệp có
thể nhanh chóng tìm được sản phẩm mà mình cần mua và có thể kiểm tra độ
chính xác của các thông tin mà những người bán hàng cung cấp, từ đó làm
giảm chi phí cung ứng đầu vào cho các doanh nghiệp.
Trước đây, ở các công ty lớn, việc cung ứng MRO được thực hiện thông
qua các ứng dụng trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) độc quyền trên các mạng giá

nên ngày càng có nhiều doanh nghiệp kinh doanh trên cơ sở Web, như DHL,
FedEx, United Parcel Service (UPS) - thực hiện kinh doanh các dịch vụ hậu
cần như vận chuyển, phân phối (bao gói, bốc xếp) các gói bưu kiện và các
dịch vụ hỗ trợ khách hàng khác trên trang Web.
Hiện nay, các doanh nghiệp không còn phải lo lắng về việ
c theo dõi các
kiện hàng của mình gửi đi, dù có phải chuyển nó đi bất cứ đâu trên thế giới.
Với những lợi ích mà Web mang lại, hoạt động giám sát vận chuyển, kiểm tra
giao nhận hàng hoá doanh nghiệp sẽ trở nên rất đơn giản, tạo điều kiện cho
quá trình thanh toán được thực hiện nhanh hơn. Ngoài ra, nó còn giúp các
doanh nghiệp có được sự linh hoạt, mềm dẻo trong việc ra các quyết định về
kế ho
ạch sản xuất, đồng thời giảm được các chi phí không cần thiết trong quá
trình vận tải và bốc xếp hàng hoá.
Tóm lại, bằng việc thay đổi cấu trúc, cắt giảm chi phí bán hàng, chi phí
trong lĩnh vực hậu cần của doanh nghiệp, thương mại điện tử đang làm xuất
hiện những nhân tố thành công mới. Trong quá khứ, nếu những nhân tố như

3
Theo: PriceWaterhouse Coopers: E-Business technology forecast, PriceWaterhouse Coopers Technology
Centre, California, 1999


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status