Tài liệu Luận văn tốt nghiệp “Chiến lược phát triển các nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ lực giai đoạn 2005 – 2010” - Pdf 99



LUẬN VĂN Chiến lược phát triển các
nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ
lực giai đoạn 2005 – 2010 1
LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay, với xu thế đa phương hóa, đa dạng hoá các quan hệ kinh tế
đối ngoại của Việt Nam, xuất khẩu chính là công cụ quan trọng để nền kinh tế
Việt Nam hội nhập với nền kinh tế thế giới, đồng thời nâng cao vị thế của
Việt Nam trên trường quốc tế. Cùng với xu thế toàn cầu hoá, hoạt động ngoại
thương nói chung và hoạt động xuất khẩu các mặt hàng xuấ
t khẩu chủ lực nói
riêng hàng năm đã đóng góp rất nhiều vào Ngân sách Nhà nước, phát triển
kinh tế xã hội, tăng thu ngoại tệ và chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch
xuất khẩu, phục vụ cho sự nghiệp Công nghiệp hóa - Hiện đại hoá đất nước.
Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động Ngoại thương của Việt Nam trong thời
gian qua, nhất là trong vài năm trở lại đây, cho thấy hoạt độ
ng xuất khẩu các
mặt hàng xuất khẩu chủ lực còn có nhiều điểm bất cập, chưa có một hệ thống
tổ chức, phối hợp chặt chẽ, linh hoạt từ sản xuất đến xuất khẩu cùng với một
hệ thống cơ chế, chính sách thông suốt, hợp lý. Kết quả là tuy khối lượng và
kim ngạch xuất khẩu có tăng nhưng nhìn chung những tiềm n

gian và kinh nghiệm nghiên cứu, đề tài chỉ đề cập đến những vấn đề lý luận
có liên quan đến vị trí c
ủa một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực, và có được một
chiến lược phát triển chung cho toàn bộ các mặt hàng chủ lực, một số giải
pháp và kiến nghị nhằm hỗ trợ, đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu, xây dựng
định hướng phát triển trong giai đoạn 2005 – 2010.
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở kết hợp các phương pháp phân tích -
tổng hợp, kết hợp lý lu
ận với thực tiễn, đi từ cái chung đến cái riêng, từ phân
tích đến đánh giá để đưa ra các định hướng phát triển cùng với các giải pháp
và kiến nghị hoàn thiện.
Nội dung chính của khoá luận được chia làm 3 chương:
Chương I: Chiến lược phát triển các mặt hàng xuất khẩu chủ lực
Chương II:Thực trạng xuất khẩu và xây dựng chiến lược phát triển
các mặt hàng xuất khẩu chủ lự
c của Việt Nam
Chương III: Kiến nghị về việc xây dựng chiến lược phát triển các
mặt hàng xuất khẩu chủ lực giai đoạn 2005 - 2010
Ngoài những lý do chọn đề tài trên, em còn mong muốn qua khoá luận
này có thể nghiên cứu và đóng góp ý kiến của bản thân về một số vấn đề quan
trọng đang được nhiều người quan tâm. Tuy nhiên, do trình độ có hạn của một
sinh viên, khoá luận này không tránh khỏi còn nhiều khiếm khuy
ết. Em rất
mong các thầy cô và mọi người đóng góp ý kiến giúp em có thể hoàn thiện 3
nghiên cứu của mình. Em xin chân thành cảm ơn TS. Bùi Ngọc Sơn và những
người đã giúp đỡ em hoàn thành khoá luận này.


t là làm thế nào đạt được các kết
quả đã đề ra dựa trên cơ sở tình thế và triển vọng của doanh nghiệp. Các mục
tiêu là đích hướng tới, còn phương tiện để đạt được mục đích này chính là 5
chiến lược."
(1)
"Chiến lược kinh doanh là một tập hợp mô hình các hành động mà các
giám đốc sử dụng nhằm đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp và các hoạt
động tức thời với những thay đổi của tình thế và việc xảy ra các sự kiện bất
ngờ. Như vậy, các chiến lược của doanh nghiệp bao gồm các hoạt động được
kế hoạch hoá (chiến lược định trước) và các phản ứng cầ
n thiết với các điều
kiện không dự báo trước (các đáp ứng chiến lược không kế hoạch hoá)."
(2)
“Chiến lược kinh doanh dựa trên cơ sở một loạt các bước tiến của đối
thủ cạnh tranh và các phương pháp kinh doanh mà các bậc quản trị trên cơ sở
đó tạo ra các kết quả thực hiện thành công. Do đó, chiến lược kinh doanh là
một kế hoạch quản lý nhằm củng cố vị thế, là sự hài lòng của khách hàng và
đạt được các mục tiêu thực hiện của doanh nghiệp.”
(3)

Tóm lại: Chiến lược kinh doanh là tổng hợp các mục tiêu dài hạn, các
chính sách và giải pháp lớn về sản xuất - kinh doanh, về tài chính và về giải
quyết nhân tố con người nhằm đưa hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
phát triển lên một trạng thái cao hơn về chất.

I.1.2 Vai trò của chiến lược kinh doanh
Chiến lược kinh doanh quyết định định hướng hoạt động dài hạn và là cơ

i thủ cạnh tranh, nâng cao được danh tiếng của doanh nghiệp đối với khách
hàng, giành được chỗ đứng vững chắc hơn trên các thị trường quốc tế, thực
hiện dẫn đạo về công nghệ, giành được lợi thế cạnh tranh bền vững, khai thác
các cơ hội phát triển có sức hấp dẫn cao.
Chiến lược kinh doanh tạo cơ sở cho các doanh nghiệp chủ động phát
triển các hướng kinh doanh phù hợp vớ
i môi trường trên cơ sở tận dụng các
cơ hội, tránh các rủi ro, phát huy các lợi thế của doanh nghiệp trong kinh
doanh, cải thiện căn bản tình hình, vị thế của một công ty, một ngành, một địa
phương.
I.1.3 Các đặc điểm cơ bản của chiến lược kinh doanh
+ Tính dài hạn: Chiến lược kinh doanh xác định các mục tiêu và
phương hướng phát triển của doanh nghiệp trong thời kỳ tương đối dài (3
hoặc 5 năm, thậm chí 10 hoặc 20 năm). Chính khuôn khổ của mục tiêu và
phương pháp dài hạn đó bảo đảm cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
phát triển liên tục và vững chắc trong môi trường kinh doanh đầy biến động
của kinh tế thị trường.
+ Tính định hướng: Chiến lược kinh doanh chỉ phác thảo các phương
hướng dài hạn, có tính định hướng còn trong thực tế kinh doanh phải thực
hiện phương châm "kết hợp mục tiêu chiến lược với mục tiêu tình thế", kết
hợp chiến lược với sách lược và các phương án kinh doanh tác nghiệp"
Hoạch định chiến lược là phác thảo khuôn khổ cho các hoạt động kinh doanh
dài hạn của doanh nghiệp trong tương lai dựa trên cơ sở các thông tin thu thập
đượ
c qua quá trình phân tích và dự báo. Do vậy, sự sai lệch giữa các mục tiêu
định hướng và khuôn khổ chiến lược phác thảo ban đầu với hình ảnh kinh 7
doanh sẽ diễn ra trong thực tế là điều chắc chắn. Xem xét tính hợp lý và điều

Chiến lược là phương thức mà các doanh nghiệp sử dụng để định h
ướng 8
tương lai nhằm đạt được thành công. Việc chuyển đổi từ quản trị sang quản trị
chiến lược, chiến lược kinh doanh là sự phản ánh đặc trưng mới của kế hoạch
dài hạn. Với nhịp độ phát triển nhanh chóng của khoa học – kỹ thuật và sự
biến đổi của thị trường ngày càng trở nên phức tạp. Trong điều kiện đó, kế
hoạch dài hạn dựa vào phương pháp ngoại suy xu thế đã không đảm bảo được
tính mềm dẻo để thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng. Do vậy, nét đặc
trưng cơ bản của tầm nhìn dài hạn đòi hỏi phải hướng tới sự thích ứng mềm
dẻo cần thiết, nhằm đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của môi trường và
trước những th
ời cơ mới.
Ở đây, hai yếu tố cơ bản của chiến lược là cạnh tranh và bất ngờ. Tạo ra
được các yếu tố bất ngờ cho đối phương và sức mạnh trong cạnh tranh là
những yếu tố cơ bản đảm bảo cho thắng lợi và thành công. Ngày nay, những
yếu tố này cũng được coi là những yếu tố cơ bản để chiến thắng trong kinh
doanh. Từ
đó cũng có thể hiểu chiến lược kinh doanh là quá trình xác định
các mục tiêu tổng thể phát triển doanh nghiệp và sử dụng tổng hợp các yếu tố
kỹ thuật, tổ chức kinh tế và kinh doanh để chiến thắng trong cạnh tranh và đạt
được các mục tiêu đề ra.
I.1.4.2 Các cấp chiến lược
Chiến lược có thể được tiến hành ở nhiều cấp khác nhau, nhưng thông
thường có hai cấp cơ bản nhấ
t là cấp công ty và cơ sở kinh doanh. Chiến lược
cấp công ty xác định ngành hoặc các ngành kinh doanh mà doanh nghiệp
đang hoặc sẽ phải tiến hành. Do đó, nó phải đề ra được hướng phát triển cho

Mặt khác việc xây dựng chiến lược đòi hỏi sự cộng tác của tất cả các bộ phận
và tất cả các thành viên trong công ty.
Có hai loại nhà quản trị, đó là nhà quản trị chiến lược và nhà quản trị
chức năng. Nhà quản trị chiến lược là những người chịu trách nhiệm về
khả
năng hoạt động chung của công ty, hay đơn vị hoạt động chính. Nhà quản trị
chức năng là người chịu trách nhiệm về một chức năng kinh doanh cụ thể.
Các phòng, ban kế hoạch trong công ty thường được coi là bộ phận tham
mưu, có nhiệm vụ giúp lãnh đạo phân tích tình hình, xác định mục tiêu chiến
lược và các biện pháp cơ bản để đạt được mục tiêu đề ra. Bộ phận này cũng
có nhi
ệm vụ tổng hợp các kế hoạch đã được soạn thảo ở các bộ phận khác và
chuẩn bị các nghiên cứu cần thiết cho bước triển khai, đồng thời họ cũng cố
vấn cho các bộ phận chức năng, giúp các bộ phận này xây dựng kế hoạch và
cùng tiến hành nghiên cứu các lĩnh vực đặc thù. 10

I.1.5 Quy trình xây dựng chiến lược kinh doanh
+ Bước 1: Phân tích và dự báo về môi trường kinh doanh, trong đó cốt lõi
nhất là phân tích và dự báo về thị trường. Doanh nghiệp cần nhận thức rõ các
yếu tố môi trường có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của mình và đo
lường mức độ, chiều hướng ảnh hưởng của chúng. 11
+ Bước 2: Tổng hợp kết quả phân tích và dự báo về môi trường kinh
doanh. Các thông tin tổng hợp kết quả phân tích và dự báo cần được xác định
theo 2 hướng: thứ nhất là các thời cơ, thách thức của môi trường kinh doanh,

Do kinh tế thế giới ngày càng phát triển và đang có xu thế hội nhập kinh
tế vùng và khu vực tiến tới Toàn cầu hoá, do đó Chiến lược kinh doanh còn
phải tính tới đặc điểm của các khối và các quốc gia là thị trường mục tiêu.
I.2 Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam
I.2.1 Chính sách phát triển xuất khẩu của Việt Nam
Phát triển xuất khẩu là điều kiện tiên quyết để mở rộng nhập khẩu và các
hoạt động kinh tế đối ngoại khác, là một tiền đề của sự tăng trưởng. Do đó,
tạo một nhịp độ phát triển xuất khẩu cao và bền vững phải là mục tiêu quan
trọng của hoạt động ngoại thương.
Phương hướng chủ
đạo để phát triển xuất khẩu là tạo dựng những mặt
hàng xuất khẩu chủ lực, nhưng không giới hạn vào những mặt hàng cố định
mà linh hoạt đáp ứng nhu cầu thị trường và biến động giá cả, ở đây trọng tâm
cần đặt vào các mặt hàng chế biến (chủ yếu là nông, lâm, thủy sản) và hàng
công nghiệp nhẹ (hàng dệt may, da và giả da), công nghiệp lắp ráp, sử dụ
ng
nhiều lao động có tay nghề khá. Đồng thời cần tăng nhanh tỷ trọng sản phẩm
xuất khẩu có hàm lượng công nghệ cao, nhiều chất xám, có công nghệ mới để
tạo cho nhóm hàng này có vị trí quan trọng trong cơ cấu hàng xuất khẩu vào
cuối thập kỷ này.
Một phương hướng quan trọng khác để gia tăng xuất khẩu là chính sách
mở rộng thị trường đúng đắn và linh hoạt. Trong những năm t
ới, thị trường
xuất khẩu chính của ta có thể là: (1) châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có
các nước Nhật Bản, NICs, ASEAN, Trung Quốc là trọng điểm, (2) Liên minh
châu Âu, trong đó có Pháp, Đức là trọng điểm, (3) Bắc Mỹ, trong đó có Mỹ là
trọng điểm. Các nước SNG và Đông Âu là những thị trường có tiềm năng
song chắc chắn cần có một thời gian nữa, khi tình hình khu vực này trở nên
ổn định mới có điều ki
ện phát triển buôn bán quy mô lớn. Nhân tố quyết định

các ngành, các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh xuất khẩu, chính sách
khuyến khích các thành phần kinh tế
đầu tư vào sản xuất kinh doanh sản
phẩm xuất khẩu thông qua các biện pháp tín dụng, tài chính, thuế… Việc đổi
mới cơ cấu hàng xuất khẩu, danh mục các mặt hàng xuất khẩu sẽ thay đổi
theo chiều hướng gia tăng các mặt hàng có sức cạnh tranh và mang lại hiệu
quả cao. Một số sản phẩm hiện nay được coi là mặt hàng chủ lực, có khả năng
sẽ tăng lên về mặt s
ố lượng và kim ngạch xuất khẩu nhưng tỷ trọng của chúng 14
lại có thể giảm đi trong kim ngạch xuất khẩu trong 10 -15 năm tới. Ngược lại,
một số mặt hàng hiện nay mới chiếm tỷ trọng nhỏ trong kim ngạch xuất khẩu,
nhưng lại có khả năng sẽ trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực, chiếm tỷ
trọng lớn.
I.2.2 Chiến lược phát triển xuất khẩu
Ngày nay, với xu thế đa ph
ương hóa, đa dạng hoá các mối quan hệ kinh
tế đối ngoại của Việt Nam, xuất khẩu chính là công cụ để nền kinh tế Việt
Nam hội nhập với nền kinh tế thế giới, đồng thời nâng cao vị thế của Việt
Nam trên trường quốc tế. Song bên cạnh sự hợp tác là sự cạnh tranh hết sức
khốc liệt nhằm chiếm một chỗ đứng trên thị trườ
ng, do đó đối với Việt Nam,
làm thế nào để tăng trưởng xuất khẩu, giải quyết công ăn việc làm, phát triển
sản xuất trong nước, đẩy nhanh công cuộc Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
đất nước là điều vô cùng quan trọng. Với vai trò quan trọng trong công cuộc
phát triển kinh tế đất nước, xuất khẩu cần được nhìn nhận dưới góc độ một
chính sách dài hạn.
Chiến lược xuất khẩ

n xuất nhằm thu được những sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao
trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, mỗi đất nước chỉ có những nguồn lực nhất
định (nguồn lực luôn gắn liền với sự khan hiếm). Chính vì vậy, để khai thác
và sử dụng một cánh tối ưu các nguồn lực hạn chế đó, các quốc gia nói chung
và Việt Nam nói riêng đều đứng trước một bài toán là phải quyế
t định phân
bổ các nguồn lực đó như thế nào giữa những nhu cầu cạnh tranh nhau.
Do vậy, một vấn đề được đặt ra là phải lựa chọn những ngành hàng, mặt
hàng chủ lực nhằm khai thác được một cách tối đa các giới hạn nguồn lực sẵn
có. Giải quyết được vấn đề này lại phát triển tiếp đến một vấn đề mới đó là
phải giải quyết bài toán thị trường của các mặt hàng chủ lực đó như thế nào,
tức là đi tìm thị trường xuất khẩu của các mặt hàng đó như thế nào để có thể
khai thác tối đa các lợi thế so sánh của quốc gia và lợi thế cạnh tranh của mặt
hàng đó trên thị trường quốc tế. Như vậy, có thể nói việc lựa chọn được mộ
t
chiến lược phát triển các mặt hàng chủ lực và thị trường xuất khẩu luôn là
một nhiệm vụ thực sự cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong chiến lược đẩy
mạnh kinh tế hướng về xuất khẩu của các nước nói chung và Việt Nam nói
riêng.
I.2.4 Vai trò then chốt của các mặt hàng xuất khẩu chủ lực 16
Xuất khẩu là một tất yếu khách quan và có vai trò quan trọng đối với các
quốc gia, đặc biệt là nước ta, một nước có nền kinh tế phát triển chậm, cơ sở
vật chất kỹ thuật lạc hậu, không đồng bộ, dân số phát triển nhanh. Sự tăng
trưởng kinh tế đòi hỏi mỗi quốc gia phải có những điều kiện về nhân lực, tài
nguyên, vốn và công nghệ
để thực hiện quá trình công nghiệp hoá của mình.
Song hầu hết các nước đang phát triển như Việt Nam đều nằm trong tình


17
Thứ hai: xuất khẩu đóng góp vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy
sản xuất phát triển. Các cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại đã làm
cho cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới đã và đang thay đổi một cách
mạnh mẽ. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá từ
nông nghiệp sang công nghiệp là phù hợp với xu thế tất y
ếu của nền kinh tế
thế giới. Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
+ Xuất khẩu chỉ là tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuất vượt quá
nhu cầu nội địa. Theo cách hiểu này thì đối với những quốc gia lạc hậu và
chậm phát triển khi mà sản xuất về cơ b
ản còn chưa đủ tiêu dùng, nếu chỉ thụ
động chờ sự “thừa ra” của sản xuất thì xuất khẩu chỉ ở quy mô nhỏ và tăng
trưởng chậm, sản xuất và sự thay đổi cơ cấu kinh tế sẽ rất chậm chạp.
+ Coi thị trường thế giới là hướng quan trọng để tổ chức sản xuất. Quan
điểm này chính là xuất phát từ quan điểm coi nhu cầ
u của thị trường thế giới
là nhu cầu cần đáp ứng để tổ chức sản xuất. Điều đó tác động tích cực đến
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển.
- Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành công nghiệp cùng có cơ hội
phát triển thuận lợi. Ví dụ, khi phát triển ngành công nghiệp chế biến thực
phẩ
m xuất khẩu có thể kéo theo sự phát triển của công nghiệp chế tạo thiết bị
phục vụ nó hoặc nếu phát triển ngành giầy dép xuất khẩu thì các ngành sản
xuất nguyên liệu như chăn nuôi, thuộc da, hoá chất cũng phát triển theo.
- Xuất khẩu tạo khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ góp phần cho sản
xuất phát triển và ổn định.
- Xuất khẩu là phương tiệ

trên trường quốc tế. Như vậy, với vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế, việc
đẩy mạnh xuất khẩu đã trở thành vấn đề được quan tâm hàng đầu trong chiến
lược phát triển kinh tế của mỗi quốc gia nói chung và của Việ
t Nam nói riêng.
I.2.5 Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam hiện nay
I.2.5.1. Khái niệm về mặt hàng xuất khẩu chủ lực
Hàng xuất khẩu chủ lực là các mặt hàng chiếm vị trí quyết định trong
kim ngạch xuất khẩu do có thị trường ngoài nước và điều kiện sản xuất trong
nước thuận lợi. Ở Việt Nam, vấn đề xây dựng các mặt hàng chủ lực đã đượ
c
Nhà nước đề ra từ cuối những năm 60. Tuy nhiên, chỉ mới gần đây, khi chúng
ta tiếp xúc mạnh mẽ với nền kinh tế thị trường của thế giới thì chúng ta mới ý
thức được một cách nghiêm túc tầm quan trọng của vấn đề này. Mặt hàng chủ
lực được hình thành trước hết qua quá trình thâm nhập vào thị trường nước
ngoài, qua những cuộc cọ sát, cạnh tranh mãnh liệt trên thị trường thế
giới, 19
kéo theo việc tổ chức sản xuất trong nước trên qui mô lớn với chất lượng phù
hợp với đòi hỏi của người tiêu dùng, đứng vững và liên tục phát triển.
Một mặt hàng xuất khẩu chủ lực ra đời cần có ít nhất 3 yếu tố cơ bản:
+ Có thị trường tiêu thụ tương đối ổn định và luôn cạnh tranh được trên
thị trường đó.
+ Có nguồn l
ực để tổ chức sản xuất với chi phí thấp tương đối so với các
sản phẩm cạnh tranh khác để có thể vừa đảm bảo khả năng cạnh tranh vừa
mang lại hiệu quả cao hơn.
+ Có khối lượng kim ngạch lớn trong tổng khối lượng kim ngạch xuất
khẩu của quốc gia.

USD, chiếm hơn 60% kim ngạch hàng hoá xuất khẩu. Kim ng
ạch xuất khẩu
liên tục tăng lên, năm 1999 đạt 11,5 tỷ USD, tăng 23,4% so với năm 1998,
đến năm 2002 đạt 16,7 tỷ USD. Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu chủ lực thay
đổi nhanh chóng, luôn có sự thay đổi vị trí của các ngành hàng, mặt hàng.
Một số mặt hàng chủ lực mới cũng đã dần khẳng định được vị trị trên thị
trường xuất khẩu thế giới như: Th
ủ công mỹ nghệ; Chè, Rau quả…. Tuy
nhiên, vai trò của các mặt hàng chủ lực như: Dầu thô, Dệt may, Gạo, Thủy
sản, Giầy dép… vẫn rất quan trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả
nước. Năm 2002, những mặt hàng đầu vị xếp theo thứ tự là: Dầu thô (3,27 tỷ
USD), Hàng dệt may (2,75 tỷ USD), Thuỷ sản (2,023 tỷ USD), Giầy dép
(1,87 tỷ USD), Gạo (726 triệu USD).
Bảng 1: Top 10 mặt hàng xuất khẩ
u chủ lực Việt Nam (1998 – 2002)
Mặt hàng xuất khẩu chủ lực 1998 1999 2000 2001 2002
- Dầu thô 2 1 1 1 1
- Hàng dệt may 1 2 2 2 2
- Thuỷ sản 5 5 3 3 3
- Giầy dép 3 3 4 4 4
- Gạo 4 4 6 5 5
- Cà phê 6 6 7 7 9
- Điện tử và linh kiện máy tính 7 7 5 6 6
- Hàng thủ công mỹ nghệ 10 8 8 8 7
- Cao su 8 9 10 9 8
- Hạt điều 9 10 9 10 10 21
Nguồn: “10 mặt hàng đầu vị”, Báo Thương mại, số 3 ngày 12/01/2003

Tổng kim ngạch hàng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường ASEAN
hiện chiếm trên 20%. Do khủng hoảng tài chính vẫn còn ảnh hưởng ở các khu
vực này nên ngoài mặt hàng Gạo là có khả năng tăng lượng xuất khẩu còn hầu
hết các mặt hàng khác sẽ gặp khó khăn. Không những thế, hàng hoá của các 22
nước này còn cạnh tranh quyết liệt với hàng Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Theo nhận định của các chuyên gia kinh tế, tình hình kinh tế của các nước
ASEAN đang được cải thiện đáng kể sau cuộc khủng hoảng, điều này cho
thấy khả năng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường các nước này trong
thời gian tới sẽ có nhiều triển vọng sáng sủa hơn.
Theo quy
ết định của ASEAN, các nước thành viên mới, trong đó có Việt
Nam, có nghĩa vụ thực hiện nhanh hơn nữa tiến trình cắt giảm thuế quan trong
CEPT/AFTA. Theo đó, Việt Nam phải hoàn thành việc cắt giảm thuế suất
xuống 0-5% vào 1/1/2005 (với một số linh hoạt) thay vì 1/1/2006 như hiện
nay. Ngoài ra, năm 2006, Việt Nam phải đảm bảo 60% tổng số mặt hàng đưa
vào cắt giảm có mức thuế suất 0%. Do đó, sau khi thống nh
ất với các Bộ,
ngành và doanh nghiệp, trong danh mục CEPT 2003 – 2006 sẽ có một số mặt
hàng (khoảng 7% tổng số các mặt hàng) được cắt giảm với tiến độ nhanh hơn
so với tiến độ công bố năm 2002. Do vậy, để cạnh tranh được trên thị trường
các nước này, Việt Nam còn nhiều việc phải làm nhất là khi tham gia vào khu
vực mậu dịch tự do Châu Á Thái Bình Dương, nếu không khi những hàng rào
mậu dịch và phi mậu dị
ch không còn nữa thì chẳng những hàng hoá của Việt
Nam khó có thể cạnh tranh được trên thị trường các nước này mà còn có thể
bị đè bẹp ngay tại thị trường trong nước.
b. Thị trường Mỹ

là các rào cản kỹ thuật. Chúng ta phải nhận thức được thực chất thị trường Mỹ
để không bị ảo tưởng đồng thời phải nhìn nhận lại chính mình trong vị trí thị
trường toàn cầu để đưa ra được các chiến l
ược, chính sách vĩ mô và các giải
pháp mô cụ thể nhằm khai thác tối đa những thế mạnh của mình, thâm nhập
vào thị trường đầy tiềm năng này.
c. Thị trường Nhật Bản

Nhật Bản là thị trường xuất khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam sau ASEAN,
quý I/2003, xuất khẩu sản phẩm dầu thô của Việt Nam sang Nhật Bản tăng
28,2% so với năm 2002. Ngoài mặt hàng Dầu thô, Việt Nam còn có nhiều mặt
hàng như May mặc, Thuỷ sản, Giầy dép, đã xuất khẩu sang Nhật từ nhiều
năm nay. Để giữ vững và mở rộng thị trường, các doanh nghiệp cầ
n bám sát
những khách hàng đã có quan hệ và phát triển, tìm kiếm các khách hàng mới.
Với thị trường này, chúng ta nên hiểu đầy đủ một đặc điểm là các doanh
nghiệp Nhật Bản thường là các hãng đa năng, do đó, khi quan hệ với họ cần
gắn giữa xuất và nhập không chỉ trong phạm vi công ty mà cần có sự phối
hợp giữa các công ty trong một Bộ, một địa phương, cùng với đó là việc
không ngừng nâng cao ch
ất lượng sản phẩm.
d. Thị trường EU

EU là một thị trường yêu cầu chất lượng hàng hoá rất cao. Phong cách
kinh doanh và tâm lý kinh doanh của các nhà doanh nghiệp EU khác nhiều so 24
với các nhà doanh nghiệp Châu Á. Hiện nay, thị trường EU đóng vai trò khá
quan trọng đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam. Thị trường này đang còn

thị trường này, các doanh nghiệp Việt Nam nên mạnh dạn áp dụng phương
pháp buôn bán hàng đổi hàng hoặc phương thức tín dụng chứng từ (L/C) trả
chậm. Để
đảm bảo quyền lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam, Ngân hàng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status