Download Luận văn Thương mại điện tử và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam miễn phí
Trong ASEAN, sau khi gia nhập tổ chức này, Việt Nam đó tham gia Hội nghị ASEAN về thương mại điện tử (tháng 10-1997, tại Malayxia), sau đó tham gia hoạt động trong Tiểu ban điều phối về thương mại điện tử (CCEC) của ASEAN, tiểu ban này tại cuộc họp lần thứ hai (tháng 9-l998) đó thụng qua bản "Các nguyên tắc chỉ đạo về thương mại điện tử ASEAN". Tháng 11-2000, Hiệp định khung e-ASEAN đó được các nhà lãnh đạo cao cấp của ASEAN, trong đó có Việt Nam, ký kết gồm 5 điểm chính: phát triển cơ sở hạ tầng thông tin của ASEAN; thúc đẩy thương mại điện tử; tự do hoá thương mại hàng hoá và dịch vụ; thực hiện chính phủ điện tử và xã hội điện tử. Khi hiệp định này có hiệu lực, dự kiến sẽ có một mạng tốc độ cao nối liền các nước thành viên ASEAN, cho phép người tiêu dùng mua hàng hoá và dịch vụ với giá cạnh tranh trên mạng. Trong khuôn khổ Hiệp định e-ASEAN, các nước thành viên ASEAN cũng đó thông qua 16 dự án, trong đó có các dự án "Nối mạng giữa các trường đại học trong ASEAN", "Chương trình đào tạo thương mại điện tử cho doanh nghiệp" và "Chương trình đào tạo hỗ trợ thiết lập luật thương mại điện tử".
/tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-32793/
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download choTóm tắt nội dung:
ũng thương mại châu Âu, với mục tiêu phục vụ doanh nghiệp và các tổ chức Việt Nam. EBIC sẽ cung cấp các thông tin như thủ tục hải quan, thuế quan, tiêu chuẩn hàng hoá xuất thẩu vào EU, quy định về cấp giấy chứng nhận chất lượng, kỹ thuật... Đồng thời, văn phũng cũng hỗ trợ đào tạo; tiếp cận và tạo cơ hội thiết lập quan hệ cho các đối tác nhằm nâng cao năng lực cho các doanh nghiệp Việt Nam. Sắp tới, website sẽ thường xuyên cập nhật những thông tin mới nhất về thị trường EU.
2.1.4. Việt Nam đó tham gia cỏc thảo luận và cam kết quốc tế về thương mại điện tử - tiền đề quan trọng cho hoạt động hợp tác quốc tế về thương mại điện tử.
Trong ASEAN, sau khi gia nhập tổ chức này, Việt Nam đó tham gia Hội nghị ASEAN về thương mại điện tử (tháng 10-1997, tại Malayxia), sau đó tham gia hoạt động trong Tiểu ban điều phối về thương mại điện tử (CCEC) của ASEAN, tiểu ban này tại cuộc họp lần thứ hai (tháng 9-l998) đó thụng qua bản "Cỏc nguyờn tắc chỉ đạo về thương mại điện tử ASEAN". Tháng 11-2000, Hiệp định khung e-ASEAN đó được các nhà lónh đạo cao cấp của ASEAN, trong đó có Việt Nam, ký kết gồm 5 điểm chính: phát triển cơ sở hạ tầng thông tin của ASEAN; thúc đẩy thương mại điện tử; tự do hoá thương mại hàng hoá và dịch vụ; thực hiện chính phủ điện tử và xó hội điện tử. Khi hiệp định này có hiệu lực, dự kiến sẽ có một mạng tốc độ cao nối liền các nước thành viên ASEAN, cho phép người tiêu dùng mua hàng hoá và dịch vụ với giá cạnh tranh trên mạng. Trong khuôn khổ Hiệp định e-ASEAN, các nước thành viên ASEAN cũng đó thụng qua 16 dự ỏn, trong đó có các dự án "Nối mạng giữa các trường đại học trong ASEAN", "Chương trỡnh đào tạo thương mại điện tử cho doanh nghiệp" và "Chương trỡnh đào tạo hỗ trợ thiết lập luật thương mại điện tử"...
Trong APEC, khi gia nhập APEC (ngày 14-11-1998), Việt Nam đó thoả thuận tham gia vào "Chương trỡnh hành động về thương mại điện tử APEC".
2.1.5. Bước đầu hình thành hệ thống cơ quan chuyên trách về CNTT và TMĐT ở Việt Nam.
Ban điều phối quốc gia mạng Internet ở Việt Nam được thành lập theo Quyết định số 136/TTg ngày 5-3-1997 của Thủ tướng Chính phủ có các chức năng và nhiệm vụ: 1. Chỉ đạo sự hoạt động phối hợp giữa các Bộ, Ngành, địa phương trong việc xây dựng, quản lý, mở rộng mạng và dịch vụ Internet tại Việt Nam. 2. Chỉ đạo việc xây dựng và thẩm định các đề án và chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển mạng, các giải pháp kỹ thuật, công nghệ bảo đảm an toàn, bí mật thông tin trao đổi trên mạng. 3. Chỉ đạo việc kiểm tra thực hiện các quy định của nhà nước về quản lý hoạt động của mạng Internet.
Việt Nam cũng đã sớm thành lập một số hình thức tổ chức chuyên trách về thương mại điện tử. Tháng 6-1998, Ban chỉ đạo quốc gia về công nghệ thông tin thành lập Tổ công tác thương mại điện tử nằm trong Ban này. Tháng 12-1998, Bộ Thương mại thành lập Ban Thương mại điện tử trực thuộc Bộ trưởng để xúc tiến các công việc có liên quan trong phạm vi Bộ thương mại.
Nhằm định hướng tiếp cận thương mại điện tử một cách có hệ thống, và trên quan điểm chiến lược, Chính phủ đó giao nhiệm vụ cho Bộ Thương mại chủ trỡ, phối hợp cỏc bộ ngành cú liờn quan hỡnh thành một số tài liệu mang tớnh định hướng quốc gia. Giữa năm 1998, Thủ tướng chính phủ đó giao nhiệm vụ cho Bộ Thương mại và Tổng cục Bưu điện phối hợp với xây dựng Phương án từng bước tham gia Thương mại điện tử ở Việt Nam để trỡnh Chớnh phủ. Sau một thời gian làm việc cựng cỏc bộ hữu quan, đầu tháng 4-1999, Bộ Thương mại đó trỡnh lờn Chớnh phủ bản "éề ỏn thành lập Hội đồng quốc gia về thương mại điện tử" (đề án này đó được các bộ, ngành chủ chốt có liên quan góp ý xõy dựng). Cuối tháng 4-1999, Bộ Thương mại cùng Tổng cục Bưu điện đồng trỡnh lờn Chớnh phủ bản "Phương án từng bước tham gia và áp dụng thương mại điện tử". Hai bản đề án và phương án trên vẫn đang được Chính phủ xem xét. Giữa năm 1999, Chính phủ giao cho Bộ Thương mại chủ trỡ Dự ỏn quốc gia "Kỹ thuật thương mại điện tử".
Trong năm 2000, thông qua Dự án Công nghệ thông tin Việt Nam - Canada, Chính phủ Canada đó giỳp đỡ Bộ Thương mại xây dựng Kế hoạch khung 5 năm chấp nhận và ứng dụng TMĐT ở Việt Nam.
Ngày 5-8-2002, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá XI đó chớnh thức phờ chuẩn và cụng bố việc thành lập Bộ Bưu chính Viễn thông đầu tiên của Nhà nước Việt Nam. Đây có thể nói là một bước tiến mới không chỉ của ngành Bưu điện Việt Nam trong bối cảnh đứng trước ngưỡng cửa cạnh tranh mà cũn chấm dứt cảnh ''rắn khụng đầu'' của lĩnh vực CNTT đồng thời đưa hai lĩnh vực ''then chốt'' của nền kinh tế đất nước này hoà với xu hướng chung của thế giới đó là hội tụ để phát triển. Tuy không trực tiếp liên quan nhưng sự hình thành Bộ Bưu chính Viễn thụng có tác động hỗ trợ rất lớn đối với sự phát triển của TMĐT.
Tuy nhiên, qua 5 năm tính từ khi Việt Nam hòa mạng Internet, nhiều nội dung liên quan tới TMĐT chỉ thuộc sự quản lý của một số bộ phận chức năng của Bộ Thương mại. Việt Nam vẫn chưa hình thành một cơ quan chuyên trách mang tính liên ngành, đảm bảo năng lực chỉ đạo, định hướng, hỗ trợ sự phát triển TMĐT.
2.1.6. Việt Nam đã chú trọng triển khai ứng dụng CNTT trong các hoạt động quản lý Nhà nước.
Năm 1990, Thường vụ Hội đồng Bộ trưởng đã phê duyệt dự án ứng dụng tin học và kỹ thuật thông tin tại Văn phòng Chính phủ. Đến cuối năm 1993, Văn phòng Chính phủ đã xây dựng được mạng tin học cục bộ (LAN) và bước đầu ứng dụng CNTT hiện đại vào công tác chỉ đạo, điều hành của Thủ tướng Chính phủ, nối kết thông tin với một số bộ và ủy ban nhân dân các tỉnh trọng điểm.
Sau khi ban hành Nghị quyết số 49/CP về phát triển CNTT (tháng 8-1993), Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Kế hoạch 5 năm (1995 - 2000) triển khai Chương trình Quốc gia về CNTT. Trong giai đoạn 1996 - 1998, Chương trình đã tập trung khoảng 50% kinh phí (160 tỷ đồng) cho mục tiêu tin học hoá hệ thống thông tin quản lý nhà nước. Bước đầu xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho việc tin học hoá quản lý nhà nước và ứng dụng CNTT trong các hoạt động quản lý chuyên ngành. Trên cơ sở hạ tầng kỹ thuật này, các cơ quan hành chính nhà nước đã từng bước triển khai các hệ thống thông tin, các kho dữ liệu điện tử phục vụ cho công tác quản lý, điều hành của Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành và các cơ quan chính quyền các cấp.
Cuối năm 1997, Việt Nam đã tham gia mạng Internet. Nhiều thông tin khai thác được trên mạng Internet đã góp phần đáng kể về thông tin, tư liệu, giúp cho công tác chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các cơ quan nhà nước khác trong việc hoạch định chính sách.
Chính phủ cũng đã ký kết Hiệp định khung e-ASEAN (ASEAN điện tử) tại Hội nghị cấp cao không chính thức lần thứ 4 tại Singapore ngày 24 tháng 4 năm 2000, trong đó, theo Điều 3 và Điều 9, Việt Nam cam kết thực hiện mục tiêu xây dựng Chính phủ điện tử...