đại học kinh tế quốc dân
khoa tin học kinh tế
Chuyên đề thực tập
Tốt nghiệp
Đề tài :
Phân tích và thiết kế phần mềm
quản lý hàng hoá vật t
Họ tên sinh viên : Ngô Thành Long
Lớp : Tin 43 C
Họ tên giáo viên hớng dẫn : Đoàn Quốc Tuấn
Nơi thực tập : Viện công nghệ thông tin, Bộ Quốc Phòng
Địa chỉ: 31A Trần Phú Ba Đình - Hà Nội
Hà Nội - 2005
1
Lời nói đầu
Ngày nay cùng với sự phát triển vợt bậc của công nghệ thông tin trên
toàn thế giới, ở Việt Nam, công nghệ thông tin ngày càng đợc áp dụng nhiều
hơn trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Một trong những lĩnh vực phát
triển nhất hiện nay là các ứng dụng các hệ thống thông tin trong việc quản lý.
Chính vì thế, khi trình độ tin học hoá cao, việc phát triển, ứng dụng các hệ
thống thông tin sẽ đợc thực hiện ở hầu hết các đơn vị. Điều đó vừa thể hiện
vai trò của khoa học công nghệ mới đối với xã hội, đồng thời cũng là sự đáp
ứng của một nhu cầu ngày càng tăng, càng đa dạng của một nền kinh tế đang
phát triển.
Một xã hội phát triển và năng động là một xã hội luôn có sự vận động và
trao đổi thông tin. Các thông tin này đợc hình thành trên nhiều yếu tố rất đa
dạng và phức tạp. Để đảm bảo cho một xã hội nói chung, một tổ chức, một
đơn vị nói riêng hoạt động nhịp nhàng, đòi hỏi cần phải xử lý thông tin linh
hoạt, thuận tiện và nhanh chóng. Hơn nữa việc ứng dụng các hệ thống thông
tin giúp cho các đơn vị tổ chức dễ dàng hơn trong việc quản lý.
Là một sinh viên đợc đào tạo tại Khoa Tin học kinh tế của Trờng Đại
Bộ quốc phòng
- Quyết định số 429/QĐ-TM ngày 12/5/2003 của tổng tham mu tr-
ởng về việc thành lập viện công nghệ thông tin trực thuộc trung tâm
khoa học kĩ thuật- Công nghệ quân sự Bộ quốc phòng.
- Viện công nghệ thông tin đợc thành lập trên cơ sở hợp nhất phân
viện chiến tranh thông tin và phân viện công nghệ thông tin. Phân
viện công nghệ thông tin tiền thân là phân viện Toán- máy tính, sau
đó là trung tâm Toán máy tính của Bộ quốc phòng, đợc chính
thức đa vào hoạt động với dàn máy tính đầu tiên từ ngày 15/4/1974.
Phân viện chiến tranh thông tin đợc hình thành năm 2000 trên cơ sở
bộ phận công nghệ thông tin của Viện KTQS2/BQP.
3. Thành phần kinh tế : Nhà nớc
4. Trụ sở chính thức
- Địa chỉ 1. 31 A Trần Phú- Ba Đình- Hà Nội.
- ĐT: (04)846364;(069)552612
5. Họ và tên ng ời lãnh đạo của tổ chức
- Đại tá: Nguyễn Quang Bắc.
- Ngày sinh : 29/12/1952
- Chức danh : Tiến sỹ khoa học.
6. Các cơ sở giao dịch : Cơ sở phía nam
- Địa chỉ: 2 Hồng Hà - Quận Tân Bình - TPHCM
- ĐT : (08)8446027 (069)665420
4
7. Biên chế
- Chính nhiệm : 181 ngời.
- Kiêm nhiệm: 0
8. Chức năng, nhiệm vụ , quyền hạn
- Viện công nghệ thông tin có chức năng là 1 tổ chức nghiên cứu
khoa học kĩ thuật và phát triển công nghệ trong các lĩnh vực thuộc
ngành công nghệ thông tin phục vụ quốc phòng an ninh và kinh tế
- Viện công nghệ thông tin đợc quyền đứng t cách pháp nhân để:
a. Trực tiếp kí kết các hợp đồng về nghiên cứu khoa học công nghệ,
chế thử sản phẩm, sản xuất, dịch vụ khoa học công nghệ, chủ trì
hoặc tham gia thiết kế, chỉ đạo thi công các công trình xây dựng cơ
bản ở đất liền, ngoài biển, đảo và biên giới phù hợp với khả năng
chuyên môn để phục vụ kịp thời các yêu cầu của quân đội và xây
dựng kinh tế.
b. Đợc liên doanh, kí kết với các đối tác trong và ngoài nớc nhằm
nhanh chóng tiếp thu các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến có
liên quan đến sự phát triển kĩ thuật công trình quân sự trong các
lĩnh vực hoạt động khoa học công nghệ đã đăng kí theo quy định
của Bộ quốc phòng và nhà nớc.
c. Đợc tham gia sinh hoạt các hiệp hội khoa học kĩ thuật chuyên
ngành và các học thuật khác, trao đổi, đào tạo chuyên gia, tiếp nhận
đầu t trang bị kĩ thuật, tài liệu và kinh nghiệm trong, ngoài quân
đội và nhà nớc để cùng hợp tác nghiên cứu, chế thử và sản xuất
phát triển các sản phẩm có tính chuyên ngành theo đúng quy định
của nhà nớc và Bộ Quốc Phòng.
d. Đợc dự tuyển, chủ trì hoặc tham gia thực hiện các đề tài, chơng
trình, đề án, dự án về nghiên cứu và triển khai khoa học kĩ thuật,
công nghệ của quân đội và nhà nớc trên các lĩnh vực khoa học kĩ
thuật liên quan.
6
e. Quản lý, khai thác cơ sở nghiên cứu , phòng thí nghiệm, hệ thống
trang thiết bị thuộc quyền phục vụ nghiên cứu khoa học công nghệ,
cung cấp các t liệu liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của viện. Đ-
ợc lựa chọn cán bộ khoa học kĩ thuật - công nghệ đủ phẩm chất
chính trị , có năng lực chuyên môn giỏi, đúng chuyên ngành của
viện, báo cáo cơ quan có thẩm quyền điều động, bố trí. Đợc cấp
kinh phí cả ngoại tệ khi cần thiết phục vụ cho nghiên cứu khoa học
nớc.
ii. Những vấn đề chuyên môn đã tìm hiểu tại nơi
thực tập và định hớng đề tài nghiên cứu.
1. Những vấn đề chuyên môn đã tìm hiểu tại nơi thực tập
Trong quá trình thực tập tại Viện công nghệ thông tin, em đã tìm hiểu
và nghiên cứu đợc một số vấn đề liên quan đến việc quản lý hàng hoá lu kho,
các chiến lợc kho bãi, hệ thống quản lý thông tin, xử lý nguyên vật liệu và
hàng hoá,... trong công tác quản lý hàng hoá vật t của viện nhằm đáp ứng các
nhu cầu trong và ngoài quân đội. Sau đây là một vài nội dung chính trong vấn
đề quản lý hàng hoá, vật t.
a. Quản lý hàng hoá lu kho:
Hàng hoá lu kho là một nội dung trong công tác hậu cần và đã nhận đ-
ợc sự quan tâm lớn của các nhà quản lý trong các thập kỉ vừa qua. Các nhà
điều hành ngày nay nhận ra rằng duy trì hàng hoá quá mức sẽ rất đắt. Bởi vậy
rất nhiều nỗ lực đã đợc triển khai để loại bỏ hàng hoá lu kho không cần thiết.
Tuy nhiên có vô vàn tình huống mà ở đó phải duy trì hàng hoá lu kho, đặc
biệt là khi đáp ứng nhu cầu của khách hàng bên ngoài. Mục tiêu của nhà
quản lý chỉ đợc thực hiện khi nó là cái cần thiết để thoả mãn nhu cầu khách
hàng và quản lý một cách hiệu quả.
Các vấn đề về hàng hoa lu kho có liên hệ rất chặt chẽ với các nội dung
của dịch vụ khách hàng. Khách hàng hy vọng tìm những sản phẩm mong
muốn sẵn có khi họ cần chúng. Nếu các khách hàng nội bộ phải đối mặt với
một giá hàng trống rỗng, quá trình sản xuất lợi ích sẽ dừng lại. Các khách
8
hàng bên ngoài, những ngời không thể hoàn tất một chuyến mua hàng gần
nh sẽ chuyển sang một đối thủ cạnh tranh.
Về thực chất quản lý hàng hoá lu kho bao gồm việc cân bằng chi phí
của việc duy trì hàng hoá lu kho với chi phí của việc không duy trì hàng hoá
lu kho. Trong trờng hợp đầu, các tổ chức gánh chịu các chi phí trực tiếp liên
quan đến bảo hiểm, thuế, kho bãi và sự lạc hậu cũng nh các quỹ gắn với các
của khách hàng đợc đáp ứng thậm chí khi quá trình sản xuất bị gián đoạn vì
những nguyên nhân trên.
Các loại hàng hoá lu kho:
Hàng hoá lu kho thông thờng đợc sử dụng để hỗ trợ cho quá trình cung
cấp thêm trong những điều kiện chắc chắn.
Hàng hoá lu kho dự phòng đợc sử dụng nhằm hỗ trợ cho khách hàng
lu kho thông thờng để bù đắp những nhu cầu không ổn định và khoảng thời
gian giữa lúc bắt đầu và hoàn thành một quá trình sản xuất mới. Mục tiêu của
nó là nhằm giúp cho công ty và khách hàng khi bị rơi vào trờng hợp hết hàng
hoá.
Hàng hoá lu kho đang luân chuyển: Là hàng hoá đang trên đờng từ
một nơi tới một nơi khác. Nó có thể thuộc về nhà vận chuyển hoặc khách
hàng tuỳ thuộc vào các giai đoạn bán hàng.
Hàng hoá tích trữ đợc triển khai vì những lí do khác hơn là việc đáp
ứng nhu cầu hiện tại. Các nhà quản lý có thế sợ rằng giá của những nguyên
vật liệu cần thiết sẽ tăng trong tơng lai hoặc nguyên vật liệu bị khan hiếm và
lựa chọn mua một số lợng lớn do tiên đoán một số tình huống có thể xảy ra.
Một ngời bán lẻ có thể bán với một giá đặc biệt thấp nếu mua một khối lợng
lớn tại một thời điểm.
Hàng hoá lu kho theo mùa: Đợc tích luỹ trớc một mùa bán. Nó cung
cấp cho nhà quản lý khả năng ổn định sản xuất và duy trì một lực lợng lao
động dài hạn, thậm chí khi phần lớn việc bán hàng xảy ra vào những thời
điểm khá nhỏ của năm.
Hàng hoá tồn kho là loại hàng hoá mà không ai muốn, ít nhất là ngay
lập tức. Một sinh viên nhanh nhạy sẽ phân vân tại sao bất cứ một tổ chức nào
10
đều gánh chịu những chi phí liên quan đến việc lu trữ những hàng hoá này
hơn là việc vứt bỏ chúng. Một lí do có thể là nhà quản lý hy vọng nhu cầu sẽ
tiếp tục ở một số lĩnh vực trong tuơng lai, và do đó nó việc vứt bỏ những hàng
hoá này có thể có chi phí lớn hơn việc giữ chúng lại. Nhng lý do ép buộc lớn
Các hãng đang hoạt động trên những thị trợng toàn cầu thờng thấy rằng họ
phải sử dụng kho bãi với cả hai vai trò. Hàng hoá đợc tập trung lại trong kho
bãi nội địa để đạt tới container đầy đủ. Các container khác nhau sau đó có thể
đợc vận chuyển cùng với nhau đến một nhà kho ở thị trờng nớc ngoài nơi
hàng hoá đợc phân chia để vận chuyển đến khách hàng.
Các nhà quản lý phục vụ khách hàng quốc tế phải quyết định hoặc
phục vụ các thị trờng khác nhau từ một nhà kho tập trung hoặc đặt một nhà
kho tại mỗi thị trờng. Có một số u điểm tập trung hàng lu kho bao gồm đơn
giản thủ tục đặt hàng, hạn chế các hoạt động kho bãi tại quốc gia, giảm nhu
cầu sử dùng vốn và duy trì hàng lu kho, giảm chi phí vận tải ra bên ngoài và
có tiềm năng sử dụng tốt hơn năng lực đa phơng thức. Tuy nhiên, những bất
lợi cũng phải đợc cân nhắc. Chúng bao gồm các chi phí vận tải về kho tăng
lên, cũng nh sự nhận thức của khách hàng và doanh thu nội bộ tăng và các
nhà quản lý Marketing những ngời có thể phản ứng tiêu cực với việc sản
phẩm đợc vận chuyển từ bên ngoài nớc của họ. Cuối cùng một cơ sở tập
trung có thể phải lớn hơn và phức tạp hơn để xử lý nhu cầu hàng lu kho của
rất nhiều quốc gia hoặc thị trờng khác nhau.
Chức năng kho bãi là một nhân tố rất quan trọng của hệ thống cung
ứng, không chỉ trên cơ sở hàng ngày, mà còn bởi vì các quyết định xung
quanh kho bãi có các chi phí dài hạn quan trọng và việc áp dụng các dịch vụ
khách hàng. Kho bãi phải đuợc định vị sao cho phục vụ các khách hàng của
công ty một cách tối u. Một khi một cơ sở đợc xác định, các nhà quản lý phải
quyết định nó nên đợc quản lý nh thế nào hay sử dụng một số hình thức kết
hợp. Những vấn đề này trở nên đặc biệt phức tạp và đa diện đối với một hãng
phục vụ cho thị trờng toàn cầu bởi vì các thị trờng khác nhau yêu cầu các
cách tiếp cận khác nhau. Cùng với một số các yếu tố của hệ thống, của rất
nhiều lựa chọn khác nhau về kho bãi phải đợc cân nhắc thận trọng để đảm
12
bảo rằng các nhu cầu của khách hàng đợc đáp ứng ở mức giá thấp nhất có
thể.
sản phẩm và ít chú ý đến bao gói. Các mặt hàng của Thợng Hải trên cả hai thị
trờng nội địa và thế giới thờng đợc xem là thể hiện Chất lợng hạng nhất,
bao gói hạng nhì, giá hạng ba.
Thợng Hải đã tụt xa so với các nớc phát triển và các khu vực duyên hải
khác của Trung Quốc về bao gói. Trong vòng 2 năm qua, Thợng Hải đã đánh
dấu sự đầu t gia tăng của họ cho công nghiệp bao gói để đảm bảo rảng các
sản phẩm đợc đóng gói của nó đáp ứng đợc nhu cầu của khách hàng đối với
hàng hoá dễ hỏng hóc. Các nhà sản xuất nhận ra rằng bao gói đợc cải tiến
của hàng hoá có thể làm tăng đáng kể giá trị bổ sung của sản phẩm.
Có 2 loại bao gói cơ bản: Đóng gói theo ngời tiêu dùng và đóng gói
công nghiệp. Loại đầu tiên cũng đợc đề cập đến nh là bao gói Marketing
hoặc nội bộ bởi vì nó là cái mà khách hàng nhìn thấy khi sản phẩm ở trên
giá. Bao gói nội bộ thờng chịu ảnh hởng bởi quan điểm của bộ phận
Marketing bởi vì nó đựơc thiết kế để thể hiện và giới thiệu đến khách hàng
cuối cùng. Bao gói công nghiệp đợc biết đến nh là bao gói bên ngoài. Mục
tiêu chính của bao gói bên ngoài là bảo vệ hàng hoá trong khi tạo thuận lợi
cho chuyến đi của chúng qua các đờng, tuyến hậu cần. Thông thờng loại bao
gói này bị vứt bỏ trớc khi sản phẩm đợc đặt lên giá bán, bởi vậy khách hàng
có thể không bao giờ nhìn thấy loại vật liệu này. Cái mà họ cần xem là liệu
sản phẩm có đợc bao gói hợp lý không, tức là một sản phẩm không bị hỏng
và có thể vận hành tốt.
Qúa trình phân tích giữa kho bãi thủ công và kho bãi tự động hoá hẳn
là một vấn đề khó khăn. Hệ thống xử lý hàng hoá đợc cơ giới hoá tạo ra
những cơ hội to lớn nhằm cải thiện dòng hàng hoá thông qua các cơ sở kho
bãi trong khi tăng cờng khả năng kiểm soát hàng lu kho và thiểu hoá thiệt hại
xảy ra. Không may là, đầu t ban đầu có thể khá cao và bản chất cứng ngắc
của hệ thống có thể làm nó rất không linh hoạt. Mặt khác hệ thống thủ công
đơn giản hơn nhiều, và dễ thích ứng với những điều kiện thay đổi hơn và
không yêu cầu một lợng vốn đầu t ban đầu lớn. Các nhà quản lý phải đánh
14
15
sử dụng đối với nhà quản lý, cải thiện dịch vụ khách hàng và giảm thời gian
phục vụ.
2. Định h ớng đề tài nghiên cứu
Sau khi đã tìm hiểu và thực tập tại Viện công nghệ thông tin, đợc tiếp
xúc với thực tế, em nhận thấy rằng việc quản lý hàng hoá lu kho là vô cùng
quan trọng trong công tác hậu cần phục vụ quân đội, cũng nh trong công tác
hậu cần nói chung.
Đây là một đề tài khá hay và rất thiết thực trong đời sống. Chính vì thế
khi thực hiện chuyên đề thực tập, em đã lựa chọn đề tài Phân tích thiết kế
phần mềm quản lý hàng hoá vật t, với hy vọng là chơng trình sẽ có thể đợc
áp dụng trong thực tiễn nhằm phục vụ công tác quản lý kho hàng trong quân
đội và có thể giảm bớt chi phí trong quá trình quản lý hàng hoá, vật t.
CHơng II. cơ sở phơng pháp luận trong việc
nghiên cứu đề tài
i. Các khái niệm cơ bản về hệ thống thông tin
1. Khái niệm về dữ liệu và thông tin
16
Thông tin và dữ liệu là hai khái niệm khác nhau nhng thờng đợc dùng
lẫn lộn. Dữ liệu là các số liệu hoặc tài liệu cho trớc cha đợc xử lý. Thông tin
là dữ liệu đã đợc xử lý thành dạng dễ hiểu, tiện dùng, có nghĩa và có giá trị
đối với đối tợng nhận tin trong việc ra quyết định. Thông tin của quá trình xử
lý này có thể trở thành dữ liệu của quá trình khác.
Để mô tả thông tin ngời ta thờng sử dụng hai khái niệm độ cứng và độ
phong phú của thông tin
Độ cứng của một thông tin là thớc đo khách quan của tính chính xác và
mức độ tin cậy của một mẩu tin.
Độ phong phú của thông tin diễn tả một quan niệm cho rằng thông tin
đó giàu hay nghèo. Nó phụ thuộc vào phơng tiện thông tin liên lạc. Sau đây
là bảng chỉ ra độ phong phú của thông tin truyền đa qua một số phơng tiện
tiến hành mô hình hoá hệ thống thông tin. Nhờ có việc mô hình hoá các hệ
thống thông tin mà nhà quản lý có thể thực hiện một cách nhanh hơn công
việc của mình. Trong mỗi tổ chức thì mô hình hệ thống thông tin có một đặc
thù riêng tuy nhiên nó cũng tuân theo một quy tắc nhất định.
Mô hình hoá hệ thống thông tin
Thông qua mô hình trên, ta thấy mọi hệ thống thông tin đều có bốn bộ
phận: bộ phận đa dữ liệu vào, bộ phận xử lý, kho dữ liệu và bộ phận đa dữ liệu
ra.
Ví dụ: Trong quản lý hàng hoá vật t thì nguồn chính là các phiếu xuất và
nhập vật t. Qua đây ta cần phải thu thập đợc các thông tin nh hàng hoá đợc
xuất và nhập từ kho nào, chất lợng và số lọng hàng ra sao, đơn vị nhận là đơn
vị nào.
Vấn đề xử lý: chơng trình phải cập nhật đợc dữ liệu đa vào nh cập nhật
đợc danh mục hàng hoá, vật t, phiếu xuất, phiếu nhập, phải in ra đợc các báo
cáo đầu ra cần thiết.
18
Phân phát
Xử lý và lưu
giữ
Nguồn Đích
Kho dữ liệu
Thu thập
Sau khi xử lý và lu dữ, các dữ liệu phải đợc đa vào kho dữ liệu nh các
danh mục
Đích chính là các đầu ra, đó là các báo cáo nh báo cáo hàng tồn kho,
báo cáo xuất, nhập hàng hoá.
Có nhiều cách phân loại hệ thống thông tin trong một tổ chức nhng có
hai cách phân loại thông dụng nhất là:
Phân loại theo mục đích của thông tin đầu ra
vào
Thông tin
ra
Lưu trữ dữ liệu
Một hệ thống thông tin theo ba mô hình
Mô hình lô gíc ( thể hiện góc nhìn của quản lý) mô tả hệ thống làm gì:
dữ liệu mà nó thu thập, xử lý mà nó phải thực hiện, các kho để chứa các kết
quả hoặc dữ liệu để lấy ra cho các xử lý và những thông tin mà hệ thống sản
sinh ra. Mô hình này trả lời câu hỏi " Cái gì ? " và " Để làm gì ?".
Mô hình vật lý ngoài ( thể hiện góc nhìn của ngời sử dụng ) chú ý đến
những khía cạnh nhìn thấy đợc của hệ thống nh các vật mang dữ liệu và vật
mang kết quả cũng nh hình thức của đầu vào và đầu ra, phơng tiện để thao
tác với hệ thống, những dịch vụ, bộ phận, con ngời và vị trí công tác trong
hoạt động xử lý, các thủ tục thủ công cũng nh các yếu tố về địa điểm thực
hiện xử lý dữ liệu, loại màn hình, bàn phím sử dụng. Mô hình này chú ý đến
mặt thời gian hệ thống. Mô hình này trả lời các câu hỏi " Cái gì?" , "Ai?", "ở
đâu ?" và "Khi nào?"
Mô hình vật lý trong ( thể hiện góc nhìn kỹ thuật ) chú ý đến những
thông tin liên quan loại trang bị đợc dùng để thực hiện hệ thống, dung lợng
kho lu trữ và tốc độ xử lý của thiết bị, tổ chức vật lý của dữ liệu trong kho
chứa, cấu trúc của các chơng trình và ngôn ngữ thể hiện. Mô hình này giải
đáp câu hỏi " Nh thế nào ?"
3. Cơ sở dữ liệu
Một trong những nhiệm vụ quan trọng trong công tác quản lý là quản lý
dữ liệu. Dữ liệu đợc coi là nguyên liệu để chế biến thành thông tin dới dạng
tiện dùng và có ích cho việc ban hành các quyết định. Dù ở trong thời đại nào
thì việc thu thập dữ liệu cũng rất quan trọng. Khi máy tính điện tử cha ra đời
20
thì tất cả thông tin vẫn đợc thu thập, lu trữ, xử lý và cập nhật. Các dữ kiện
này đợc ghi trong sổ sách hay ghi trong các phích bằng bìa cứng . Ngày
một bảng mà mỗi dòng là một bản ghi và mỗi cột là một trờng.
Trong một bảng thì thờng có các khóa chính. Khoá chính là một kiểu
chỉ mục đặc biệt. Khoá chính thể hiện tính duy nhất của mẩu tin. Vì vậy sẽ
không có hai mẩu tin trong cùng một bảng mà có cùng giá trị cho trờng khoá
chính cũng nh trong trờng khoá chính sẽ không có giá trị rỗng.
Cơ sở dữ liệu là một kho chứa thông tin. Có nhiều loại cơ sở dữ liệu.
Sau đây là những khái niệm liên quan đến cơ sở dữ liệu quan hệ, đây là cơ sở
dữ liệu (quan hệ) phổ biến nhất hiện nay.
Một cơ sở dữ liệu quan hệ chứa các dữ liệu trong các bảng, đợc cấu tạo
bởi các dòng còn gọi là các mẩu tin, và cột còn gọi là các trờng. Một cơ sở dữ
liệu cho phép truy vấn các tập hợp các dữ liệu con từ các bảng, cho phép nối
các bảng với nhau cho mục đích truy cập các mẩu tin liên quan với nhau chứa
trong các bảng khác nhau.
Ví dụ trong việc quản lý hàng hoá vật t có sử dụng cơ sở dữ liệu có tên
là db1.mdb.Trong này có các bảng nh DM_DVN.dbf, DM_DVX.dbf,
CTCHUNG.dbf, CTVT.dbf, Trong các bảng có chứa các thông tin về đơn vị
nhập, đơn vị xuất, số chứng từ, ngày viết chứng từ, tên vật t, số lợng, đơn giá,
.
Những hoạt động chính của cơ sở dữ liệu
- Cập nhật dữ liệu: Dữ liệu đợc nhập vào cơ sở thông qua việc nhập dữ
liệu. Thể thức dữ liệu đợc nhập vào cơ sở dữ liệu không giống nh thể
thức dữ liệu đợc nhìn thấy khi nhập. Ngày nay, phần lớn những phần
mềm ứng dụng cho phép chúng ta sử dụng giao diện đồ hoạ bằng
hình thức các form điền biểu hiện bản ghi của cơ sở dữ liệu với
những ô trắng để ngời sử dụng nhập thông tin hay đánh dấu các mục
đợc chọn.
- Truy vấn dữ liệu: Truy vấn dữ liệu là làm thế nào để lấy đợc dữ liệu
từ cơ sở dữ liệu. Thông thờng sử dụng hai ngôn ngữ truy vấn: ngôn
ngữ truy vấn có cấu trúc SQL hoặc bằng ví dụ QBE
22
ý kiến
NSD
Hiệu chỉnh
mẫu
KT
Mức
logic
Yêu cầu mới
về hệ thống
thông tin
Hệ thống thông
tin hiện tại làm
cái gì ?.
Mức
vật lý
Hệ thống thông
tin mới sẽ làm
cái gì
Xem hệ thống
thông tin hiện tại
hoạt động như
thế nào ?.
Thiết
kế
Phân
tích
Xem hệ thống
thông tin mới
hoạt động như
thế nào ?.