Nghiên cứu tự đánh giá của học sinh trường trung học phổ thông tô hiệu, huyện thường tín, hà nội - Pdf 10

1
Nghiên cứu tự đánh giá của học sinh Trường
Trung học phổ thông Tô Hiệu, huyện
Thường Tín, Hà Nội

Trương Quang Lâm

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Tâm lý học
Chuyên ngành: Tâm lí học; Mã số: 60 31 80
Người hướng dẫn: PGS. TS. Trương Khánh Hà
Năm bảo vệ: 2012

Abstract. Hệ thống một số vấn đề lý luận về tự đánh giá (TĐG), TĐG của học sinh trung
học phổ thông (THPT) và một số yếu tố ảnh hưởng đến TĐG của học sinh THPT. Tìm
hiểu thực trạng, các mặt biểu hiện TĐG của học sinh trường THPT Tô Hiệu, huyện
Thường Tín, Hà Nội. Tìm hiểu mối quan hệ giữa cách ứng xử của cha mẹ đối với thực
trạng nói trên. Đưa ra một số kết luận và kiến nghị.

Keywords. Tâm lý học; Học sinh; Hà Nội; Phổ thông trung học; Tự đánh giá

Content.

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Quá trình tự giáo dục và tự rèn luyện bản thân của mỗi người là điều quan trọng
nhất để trở thành người có ích cho xã hội. Việc cá nhân tự đối chiếu bản thân với chuẩn
mực xã hội sẽ giúp cho họ nhận ra giá trị của mình, từ đó cá nhân có những ứng xử phù
hợp với những chuẩn mực đó, chính là năng lực tự đánh giá.
Gia đình, nhà trường và xã hội hiện nay đều hướng tới việc giáo dục sự tự ý thức
cho thế hệ thanh niên, vì mục tiêu của giáo dục là đạt được sự tự giáo dục, tự đánh giá, tự
hoàn thiện bản thân của người học.

và về định hướng tương lai.
- Trong số các yếu tố ảnh hưởng đến TĐG của học sinh THPT, chúng tôi chỉ tìm
hiểu ảnh hưởng cách ứng xử của cha mẹ với con cái.
6.2. Về địa điểm
Trường THPT Tô Hiệu – Huyện Thường Tín – Hà Nội.
7. Giả thuyết nghiên cứu
Phần lớn học sinh trường THPT Tô Hiệu, huyện Thường Tín, Hà Nội có tự đánh
giá ở mức trung bình. Có sự tương quan giữa cách ứng xử của cha mẹ với tự đánh giá của
học sinh.
3
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Phương pháp phỏng vấn sâu
- Phương pháp trắc nghiệm
- Phương pháp xử lí số liệu bằng thống kê toán học
CHƢƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Tổng quan một số nghiên cứu về tự đánh giá và tự đánh giá của học sinh
1.1.1. Một số nghiên cứu ở nước ngoài
TĐG đã được nghiên cứu từ rất sớm dưới nhiều góc độ khác nhau trong đó có
Tâm lý học. Nhìn chung các tác giả nghiên cứu dưới nhiều góc độ như: về sự hình thành
của TĐG, về các đặc trưng của TĐG, về vai trò của TĐG đối với sự hình thành và phát
triển nhân cách cá nhân. Trong đó đối tượng của TĐG chính là bản thân chủ thể, là “cái
Tôi”: cá nhân đánh giá khái quát về các giá trị của mình đồng thời đánh giá cụ thể từng phẩm
chất năng lực của bản thân trong mối tương quan với người khác. TĐG là điều kiện bên
trong của tự ý thức, tự hoàn thiện nhân cách. TĐG có nguồn gốc từ đặc điểm và thái độ
của các nhóm xã hội mà cá nhân tham gia vào, đồng thời cũng xuất phát từ bên trong là
mong muốn, nguyện vọng của mỗi cá nhân.
1.1.2. Một số nghiên cứu trong nước

hài lòng hoặc không hài lòng với chính bản thân mình… đó là những cảm xúc có được
cùng với quá trình nhận thức. Việc thường xuyên tự phê bình, tự đánh giá về những hành
vi của bản thân… giúp cá nhân có được sự cân bằng hơn về cảm xúc, hình thành nên
những xúc cảm nội tâm tích cực về bản thân.
- Hành vi - khuynh hướng ứng xử của bản thân
Có thể nói, hình ảnh bản thân không có sẵn trong mỗi người mà được hình thành
dần trong quá trình gia nhập vào các mối quan hệ xã hội. Nhìn chung các cá nhân có xu
hướng hành động dựa trên sự khuyến khích, động viên tích cực của người khác. Đó là sự
nỗ lực đáp trả lại sự mong đợi của người khác đối với bản thân. Từ đó, cá nhân hình
thành nên hành vi ứng xử theo giới, theo chuẩn mực mà xã hội đưa ra, đó cũng chính là
quá trình xã hội hóa cá nhân.
1.2.1.3. Mối quan hệ giữa tự đánh giá với cái Tôi
Cái tôi hay còn hiểu là hình ảnh bản thân của mỗi người, được hình thành và phát
triển trong quá trình sống và giao tiếp, do đó TĐG có mối liên hệ mật thiết với cái tôi.
Cái tôi là sự tự ý thức, tự khám phá ra giá trị của mình, cái tôi chỉ hình thành và phát triển
5
khi nhân cách đã hình thành và phát triển. Do đó cá nhân chỉ có thể hiểu về chính họ khi
đặt trong mối quan hệ với người khác, khi có tự đánh giá về mình và được mọi người
chấp nhận.
1.2.1.4. Mối quan hệ giữa tự đánh giá với tự ý thức
Tự ý thức được hiểu là việc con người tự tách mình ra khỏi thế giới khách quan, nhận
thức quan hệ của mình với thế giới, nhận thức bản thân mình với tính cách một cá nhân,
nhận thức các cử chỉ, hành động, tư tưởng, tình cảm, nguyện vọng, lợi ích của mình. Tự ý
thức biểu hiện ở các mặt sau: chủ thể nhận thức về bản thân mình từ bên ngoài đến nội
dung tâm hồn, đến vị thế và các quan hệ xã hội, trên cơ sở đó tự nhận xét, TĐG. Có thái
độ rõ ràng đối với bản thân, tự điều chỉnh, điều khiển hành vi theo mục đích tự giác. Chủ
thể có khả năng tự giáo dục, tự hoàn thiện mình.
1.2.2. Khái niệm học sinh THPT
1.2.2.1. Khái niệm
“Học sinh Trung học phổ thông” là thuật ngữ để chỉ nhóm tuổi đầu tuổi thanh niên

1.2.4.1. Tự đánh giá về thể chất
Nói chung TĐG về các đặc điểm ngoại hình cơ thể là một thành tố quan trọng
trong ý thức của học sinh THPT, một trong những đặc trưng tâm lý điển hình của lứa tuổi
này. Khi học sinh mặc cảm, không hài lòng với ngoại hình của mình có ảnh hưởng tiêu
cực khi tham gia vào các hoạt động. Học sinh cảm thấy thiếu tự tin, rụt rè e ngại Do
đó, cảm nhận tích cực về ngoại hình hoặc có sự hài lòng nhất định về thể chất giúp học
sinh cởi mở, tự tin để thiết lập các mối quan hệ xã hội.
1.2.4.2. Tự đánh giá về giao tiếp xã hội
Giao tiếp xã hội của học sinh xoay quanh 3 mối quan hệ chính, ảnh hưởng trực
tiếp đến TĐG của các em là: giao tiếp trong gia đình (cha mẹ và những người thân), giao
tiếp với bạn bè cùng tuổi, và giao tiếp với thầy cô. Thông qua giao tiếp xã hội, học sinh
học hỏi được những kiến thức từ các mối quan hệ xã hội, đồng thời đó cũng là cơ hội để
các em thể hiện năng lực của bản thân, là tấm gương phản chiếu giúp học sinh nhìn nhận
ra chính mình, hình thành nên TĐG phù hợp.
1.2.4.3. Tự đánh giá về học tập
Hoạt động học tập cùng với định hướng nghề nghiệp là hoạt động chủ đạo của học
sinh THPT nên thành tích học tập được coi như một tiêu chuẩn để đánh giá bản thân và
các bạn trong lớp. Sự khác nhau về khả năng nhận thức, năng lực học tập và sự lĩnh hội
kiến thức giữa các học sinh dẫn đến sự phân hóa giữa học sinh giỏi, khá, trung bình và
yếu kém. Sự phân hóa này đã làm phát triển tự ý thức về khả năng học tập, các em lấy đó
7
là tiêu chuẩn để đánh giá năng lực bản thân và so sánh đối chiếu với bạn bè. Do đó, TĐG
về học tập là một trong các mặt cơ bản trong nhân cách của học sinh.
1.2.4.4. Tự đánh giá về định hướng tương lai
Vấn đề quan trọng nhất của học sinh THPT là việc tự xác định nghề nghiệp cho
mình. Việc lựa chọn này không chỉ xác định họ “sẽ là ai?” mà còn đề cập đến khía cạnh
“sẽ là người như thế nào?”. Cơ sở định hướng nghề nghiệp không chỉ là sở thích mà còn
dựa trên năng lực của từng em trong từng môn hoặc trong từng lĩnh vực. Với những học
sinh TĐG đúng năng lực bản thân các em có những lựa chọn phù hợp với nhu cầu nghề
nghiệp của mình. Vì vậy, một vấn đề đặt ra là để lựa chọn một nghề phù hợp, học sinh

2.1. Tổ chức nghiên cứu
2.1.1. Tổ chức nghiên cứu về mặt lý thuyết
Nhằm xây dựng cơ sở ban đầu về lý luận cho đề tài nghiên cứu. Tiến trình xây
dựng cơ sở lý thuyết được thực hiện như sau:
- Thu thập tài liệu, các luận án, tạp chí, sách, các nghiên cứu có liên quan đến đề
tài nghiên cứu.
- Đọc, ghi chép, xử lý và lựa chọn các thông tin, dữ liệu cần thiết phục vụ cho đề
tài nghiên cứu
- Hình thành giả thuyết khoa học
- Xây dựng hệ thống phương pháp tiếp cận đối tượng và khách thể nghiên cứu.
2.1.2. Tổ chức nghiên cứu về mặt thực tiễn
Tìm hiểu thực trạng tự đánh giá của học sinh trường THPT Tô Hiệu và cách giáo
dục của cha mẹ đối với con cái.
2.1.3. Các bước nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trải qua 4 giai đoạn trong thời gian từ tháng 12/2010 - 6/2012
Giai đoạn 1: Tổ chức nghiên cứu lí luận, tham khảo các tài liệu liên quan đến đề
tài, tham khảo ý kiến giáo viên hướng dẫn để hoàn thiện đề cương và cơ sở lý luận
(12/2010 - 3/2011).
Giai đoạn 2: Hoàn thiện cơ sở lý luận, xác định phương pháp nghiên cứu, xây
dựng công cụ khảo sát, tiến hành điều tra thử (4/2011 – 5/2011).
Giai đoạn 3: Điều tra thực tế trên số lượng khách thể đã xác định, thu thập và xử
lý số liệu điều tra thực trạng (8/2011 – 12/2011).
Giai đoạn 4: Phân tích số liệu, viết báo cáo khoa học của đề tài luận văn, chuẩn bị
bảo về đề tài (1/2012 – 6/2012) 9
2.2. Mẫu nghiên cứu
2.1.2. Vài nét về khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu gồm 263 học sinh và 263 phụ huynh. Chúng tôi phát ra 263

2.3.5. Phương pháp trắc nghiệm
Chúng tôi sử dụng thang đo E.T.E.S dùng cho người trưởng thành (trên 18 tuổi)
bao gồm 82 mệnh đề (item). Thang đo này do Florence Soldes Ader, Gwenaelly
Levéque, Lathaly Oubrayrie và Claire Mottay ở Khoa Tâm lý học – Trường Đại học
Toulouse xây dựng, đã được thích ứng và sử dụng đối với học sinh ở Việt Nam Thang
đo bao gồm 82 mệnh đề, được nhóm thành 6 yếu tố đánh giá về các mặt: Xã hội, thể chất,
học đường, xúc cảm, tương lai/nghề nghiệp và gia đình.
Mỗi mệnh đề của thang đo có 5 phương án trả lời: 1- Hoàn toàn không đồng ý; 2 –
Không đồng ý một phần; 3- Bình thường; 4 – Đồng ý một phần; 5 – Hoàn toàn đồng ý.
Học sinh trả lời phải chỉ ra điểm đồng ý hoặc không đồng ý với các mệnh đề được
đưa ra. Các lựa chọn trả lời thay đổi trong khoảng từ 1 = “Hoàn toàn không đồng ý” đến
5 = “Hoàn toàn đồng ý”. Kết quả thu được từ 82 mệnh đề được chia ra thành các thang
TĐG về cái tôi gia đình, cái tôi xã hội, cái tôi thể chất, cái tôi học đường, cái tôi tương
lai, cái tôi cảm xúc, chúng tôi lại chia mỗi thang thành 5 khoảng tương ứng với 5 mức độ
TĐG: Rất thấp, Thấp; Trung bình; Cao; Rất cao.
CHƢƠNG 3:
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Thực trạng chung về tự đánh giá của học sinh THPT Tô Hiệu
3.1.1. Tự đánh giá chung của học sinh
Bảng 3.1: Thực trạng chung về tự đánh giá của học sinh THPT
Các mặt TĐG
Mức độ TĐG (%)
Rất thấp
Thấp
Trung bình
Cao
Rất cao
Về thể chất
1.6
21.5

đánh giá ở mức thấp, 0.8% học sinh tự đánh giá rất thấp, và 2.7% học sinh tự đánh giá ở
mức cao, không có ý kiến lựa chọn mức rất cao.
Về giao tiếp xã hội: có 64.1% học sinh lựa chọn mức độ trung bình, có tỷ lệ tương
đối 23.4% học sinh lựa chọn mức độ thấp, có 10.5% học sinh lựa chọn mức độ tự đánh
giá cao, và tỷ lệ rất nhỏ 0.4% học sinh tự đánh giá mức rất kém, và 1.6% học sinh tự đánh
giá rất cao về giao tiếp xã hội của bản thân.
Về định hướng tương lai: có 61.3% học sinh tự đánh giá trung bình, 16% học sinh
tự đánh giá ở mức thấp và 3.5% tự đánh giá mức rất thấp và (tỷ lệ này thấp hơn so với
các mặt tự đánh giá khác cùng mức độ), và có 16% một tỷ lệ tương đối học sinh tự đánh
giá mức độ cao, học sinh tự đánh giá mức rất cao chiếm tỷ lệ nhỏ 3.1%.
Qua kết quả ban đầu chúng tôi thấy rằng đa số học sinh tự đánh giá bản thân ở
mức trung bình. Một số tự đánh giá bản thân ở mức thấp hoặc mức cao. Từ góc độ của
người nghiên cứu, chúng tôi cũng rất quan tâm đến những học sinh tự đánh giá bản thân
ở mức rất thấp hoặc mức rất cao.
3.1.2. Đánh giá của giáo viên và của cha mẹ học sinh
 Đánh giá của giáo viên và TĐG của học sinh:
Đa số học sinh có mức độ TĐG tương đối phù hợp với đánh giá của giáo viên.
Bên cạnh đó một tỷ lệ nhất định học sinh tự đánh giá chưa phù hợp với đánh giá của giáo
viên: trong đó học sinh tự đánh giá thấp hơn so với giáo viên đánh giáở các mặt giao tiếp
xã hội và mặt học tập, học sinh tự đánh giá cao hơn giáo viên đánh giá ở các mặt thể chất
và định hướng tương lai.
 Đánh giá của cha mẹ và TĐG của học sinh
Tóm lại, kết quả trên cho thấy phần lớn có sự phù hợp về các mặt TĐG của học
sinh với đánh giá của giáo viên chủ nhiệm và đánh giá của cha mẹ học sinh: (1) Về giao
tiếp xã hội, mức độ TĐG của học sinh và đánh giá của cha mẹ là tương đương nhau trong
khi đó học sinh nhận được sự đánh giá cao hơn ở giáo viên. (2) Về học tập, mức độ TĐG
của học sinh thấp hơn so với đánh giá của cha mẹ và thấp hơn so với giáo viên. (3) Về
mặt thể chất, có sự tương đương giữa 3 khách thể nghiên cứu (học sinh có TĐG cao hơn
12
một chút so với giáo viên và cha mẹ. (4) Về định hướng tương lai, cũng có sự tương đồng

13
nhập vào nhóm bạn bè. Phản ánh học sinh có tinh thần tập thể, sự gắn bó với bạn bè
cao.
So sánh theo giới tính cho thấy học sinh nữ tự đánh giá cao hơn (ĐTB=3.63) so
với học sinh nam (ĐTB=3.36). Điều này có thể giải thích rằng trong một số nền văn
hóa (trong đó có Việt Nam), học các em nữ nhạy cảm hơn và có kỹ năng giao tiếp tốt
hơn so với nam. Do đó, sự phát triển về khả năng giao tiếp xã hội của nữ cao hơn nam ử
lứa tuổi này.
Khi xét theo khối lớp, học sinh khối 12 có tự đánh giá cao nhất (ĐTB=3.62),
khối 10 cao thứ hai (ĐTB=3.47); học sinh khối 11 có tự đánh giá thấp nhất
(ĐTB=3.42). Bên cạnh đó học sinh lớp 10 chọn tự đánh giá cao hơn lớp 10 thường,
không có sự khác nhau giữa lớp chọn và lớp thường ở khối 11 và khối 12 trong TĐG
mặt giao tiếp xã hội.
3.2.3. Tự đánh giá về học tập
Kết quả học sinh có TĐG về học tập ở mức trung bình (ĐTB=2.97). Số liệu cụ thể
có 46.5% học sinh tự đánh giá mặt học tập ở mức trung bình, 16.8% mức cao và 7.4% rất
cao; còn lại một tỷ lệ tương đối 24.2% tự đánh giá mức thấp và 5.1% mức rất thấp.
So sánh theo giới tính cho thấy học sinh nữ có TĐG về học tập cao hơn
(ĐTB=3.10) học sinh nam (ĐTB=2.82). Điều này được hiểu do các em nữ có sự chăm
chỉ hơn trong học tập, các môn học trong nhà trường thiên về lý thuyết nhiều hơn, do đó
là ưu thế hơn của nữ. Đồng thời có sự khác nhau giữa các khối lớp và giữa các lớp cùng
khối trong TĐG về học tập: học sinh khối 12 có TĐG (ĐTB=3.24) cao hơn khối 10
(ĐTB=2.93) và khối 11 (ĐTB=2.74). Bên cạnh đó, các em lớp chọn lại có TĐG cao hơn
lớp thường. Nghiên cứu cũng cho thấy, môi trường học tập tích cực và phương pháp giáo
dục của giáo viên có ảnh hưởng tích cực đến TĐG về học tập của học sinh.
3.2.4. Tự đánh giá về định hướng tương lai
Học sinh có TĐG về định hướng tương lai ở mức trên trung bình (với ĐTB=3.42).
Kết quả này cao hơn so với TĐG ở các mặt học tập và thể chất. Đây là điều rất quan
trọng đối với các em bởi hình ảnh về nghề nghiệp tương lai là động lực thôi thúc các em
phấn đấu trong học tập và hướng tới việc đạt được mục tiêu đã đề ra.

2.94 2.89
2.67
2.99
3.01
3.48
2.97
3.42

Quan sát đường biểu diễn trên biểu đồ cho thấy có sự biến thiên tương đồng nhau
trong: kết quả TĐG ban đầu của học sinh thấp hơn so với kết quả thang đo E.T.E.S.
Trong đó, học sinh có mức đánh giá ở mức gần trung bình ở các mặt (từ 2.67 đến 2.99),
thấp nhất là TĐG về học tập và cao nhất là TĐG về định hướng tương lai.
Với kết quả TĐG trong thang đo E.T.E.S cho thấy, học sinh có TĐG cao hơn so
với đánh giá ban đầu của học sinh. Điểm trung bình của TĐG tất cả các khía cạnh đều
nằm ở nửa phía trên của biểu đồ trong khoảng từ điểm 3 đến điểm 4 (từ “bình thường”
đến “đồng ý một phần”). Trong đó, mặt học tập có mức độ TĐG thấp nhất (ĐTB=2.97),
mặt giao tiếp xã hội đạt mức cao nhất (ĐTB=3.48) và mặt định hướng tương lai cao thứ 2
(ĐTB=3.42), và thứ 3 là mặt thể chất (ĐTB=3.01).
15
3.2.6. Mối tương quan giữa các mặt tự đánh giá trong thang đo E.T.E.S
Kết quả cho thấy, các mặt TĐG của học sinh có sự tương quan nhất định với nhau.
TĐG về cái tôi gia đình có mối tương quan khá chặt đối với các mặt TĐG: với cái tôi học
đường (r=0.343, p<0.01), với cái tôi xã hội (r=0.329, p<0.01), với cái tôi cảm xúc
(r=0.306, p<0.01). Hệ số tương quan cao thứ hai là tương quan giữa “cái Tôi học đường”
với “cái Tôi tương lai” (r=0.382; p<0.01). Hệ số tương quan cao thứ 3 là giữa cái tôi thể
chất và cái tôi cảm xúc (r=0.369, p<0.01). Điều này cho thấy khi học sinh có sự khỏe
mạnh về thể chất và hài lòng về ngoại hình thì càng làm tăng sự tự tin về cảm xúc. Bên
cạnh đó, “cái Tôi thể chất” và “cái Tôi xã hội” cũng có tương quan khá chặt (r=0.341;
p<0.01). Điều này cũng cho thấy, khi học sinh có ngoại hình ưa nhìn, khỏe mạnh thì các em
có sự tự tin khi tham gia giao tiếp với các nhóm xã hội.

(%)
Ý kiến của học
sinh
(%)
1
Giống nhau
16.0
12.3
2
Giống nhau một phần
58.6
62.9
3
Hoàn toàn không giống nhau
25.4
23.8

Qua bảng số liệu cho thấy, có 16% ý kiến lựa chọn “giống nhau” trong cách giáo
dục (ở học sinh đánh giá là 12.3%). Bên cạnh đó, chiếm tỷ lệ lớn nhất là 58.6% ý kiến
của cha mẹ (và 62.9% học sinh) có ý kiến “giống nhau một phần”, phản ánh nhận thức
của cha mẹ tương đối cao trong việc thống nhất giáo dục con, trong gia đình cha mẹ có
sự trao đổi, thỏa thuận để có cách dạy con phù hợp. Tuy nhiên, bên cạnh đó chiếm một tỷ
lệ tương đối cha mẹ lựa chọn phương án “hoàn toàn không giống nhau” trong cách giáo dục
con (25.4%).
3.3.2. Mối quan hệ giữa cách ứng xử của cha mẹ đối với các mặt TĐG của học
sinh
Kết quả cho thấy, tất cả các cách ứng xử của cha mẹ đều có tương quan có ý nghĩa
với mức độ TĐG về các mặt khác nhau: thấp nhất là ứng xử phê phán tiêu cực và ứng xử
phó mặc, không tình cảm cao nhất là ứng xử quan tâm tích cực và ứng xử kiểm soát. Cụ
thể là:

Mối quan hệ giữa cách ứng xử phó mặc, không tình cảm của cha mẹ với các
mặt tự đánh giá của học sinh:
Nhìn chung kiểu ứng xử phó mặc, không tình cảm của cha mẹ đối với con cái trong
mẫu nghiên cứu ở mức thấp (ĐTB=2.55, gần tương đương với mức “ít giống tôi” và
“không giống tôi” (r lần lượt = -0.110; -0.164; -0.030; -0.109). Về mặt ý nghĩa tương quan
cho thấy, khi cha mẹ không quan tâm đến con cái, ít thể hiện tình cảm với con, không quan
tâm đến suy nghĩ của con thì con cái TĐG thấp về các mặt học tập, giao tiếp, thể chất, định
hướng tương lai. Đặc biệt, xét về độ tin cậy cho thấy mối tương quan là có ý nghĩa với
mặt thể chất (p<0.01) và mặt định hướng tương lai (p<0.05). Do đó có thể nói rằng, cách
ứng xử phó mặc của cha mẹ có tương quan nghịch với các mặt TĐG của học sinh.
18
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
1.1. Về mặt lý luận
Trên cơ sở kế thừa, hệ thống hóa những vấn đề lý luận của các nhà khoa học đi
trước, đề tài đã làm sáng tỏ khái niệm “Tự đánh giá” và mối liên quan giữa tự đánh giá
với tự ý thức và cái Tôi. Theo đó tự đánh giá là đánh giá tổng thể của cá nhân về các giá
trị của bản thân, thể hiện qua các mặt khác nhau của nhân cách với tư cách là một thành
viên của xã hội.
Đề tài cũng đã nêu ra được cơ sở hình thành và đặc điểm của tự đánh giá của lứa
tuổi học sinh THPT, theo đó TĐG của học sinh THPT là đánh giá tổng thể của học sinh
với tư cách là một thành viên của xã hội về các giá trị của bản thân, thể hiện qua tự đánh
giá về thể chất, về học tập, về giao tiếp và tự định hướng tương lai.
1.2. Về mặt thực tiễn
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng TĐG của học sinh THPT Tô Hiệu, chúng tôi rút
ra một số kết luận sau:
Kiểm nghiệm kết quả trắc nghiệm E.T.E.S và độ tin cậy cho thấy học sinh có TĐG
ở mức trung bình. TĐG ban đầu của học sinh thấp hơn mức độ TĐG đo được trong thang
đo E.T.E.S. Đa số học sinh có TĐG phù hợp với đánh giá của cha mẹ và giáo viên, trong
đó mức độ phù hợp giữa TĐG của học sinh với đánh giá của cha mẹ cao hơn so với mức

động văn hoá của nhà trường, để qua đó học sinh thể hiện năng lực bản thân và đây là cơ
hội để các em có những trải nghiệm, giúp học sinh nhận thức và đánh giá đúng về năng
lực của mình.
Học sinh cần có sự mạnh dạn tìm hiểu mở rộng tầm hiểu biết về định hướng nghề
nghiệp. Các em cần nói ra những vướng mắc trong suy nghĩ của mình với gia đình và
thầy cô để nhận được sự hỗ trợ kịp thời, qua đó giúp các em củng cố thêm lòng tin vào
năng lực bản thân.
2.2. Đối với gia đình
Cha mẹ cần chú ý đến cách ứng xử của bản thân với con cái, đây là điều hết sức
quan trọng trong việc giáo dục con. Cha mẹ cần thể hiện sự quan tâm khích lệ đối với con
cái mình. Sự gắn bó trong tình cảm gia đình là điều kiện thuận lợi để con cái phát triển
các phẩm chất năng lực của bản thân, qua đó các em sẽ có TĐG cao và đúng về năng lực
của mình. Ở lứa tuổi học sinh THPT, các em còn gặp nhiều khó khăn, có nhiều bối rối về
mặt cảm xúc và tầm hiểu biết còn trong phạm vi nhất định, nên cha mẹ cần lắng nghe con
cái, tôn trọng ý kiến của con, để con cái có cơ hội nói ra những suy nghĩ của mình. Thông
20
qua sự giao tiếp thân mật giữa cha mẹ và con cái, phụ huynh thêm hiểu con hơn, đồng
thời có những định hướng phù hợp với suy nghĩ và năng lực của con mình.
Cha mẹ cần có sự kiểm soát với con cái, tuy nhiên tránh có cách ứng xử kiểm soát
thái quá, tạo ra những cảm xúc tiêu cực cho học sinh, đồng thời cần hết sức tránh chê bai,
phê phán con cái làm cho con cái cảm thấy thấp kém, tự ti, xấu hổ. Bên cạnh đó, nên
dành thời gian nhiều hơn cho con, tránh tình trạng phó mặc, thờ ơ với con cái, nếu không
có sự kiểm soát đúng mức, học sinh rất dễ bị lệch hướng.
2.3. Đối với nhà trường
Thầy cô giáo cần đánh giá đúng năng lực học sinh, những lời nhận xét của thầy
cô có ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức và cảm xúc của học sinh. Do đó, thầy cô cần
xây dựng một bầu không khí lớp học dựa trên các giá trị tích cực, tạo cho học sinh cảm
nhận được sự yêu thương khích lệ và được tôn trọng.
Nhà trường cần thường xuyên tổ chức các hoạt động ngoại khóa cho học sinh
tham gia, giúp học sinh có cơ hội được trải nghiệm, được thể hiện năng lực của bản thân,

11. Đỗ Ngọc Khanh (2004), Ảnh hưởng của tự đánh giá bản thân đến sự phát triển nhân
cách, Tạp chí Tâm lý học số 9 năm 2004.
12. Đỗ Ngọc Khanh (2005), Nghiên cứu tự đánh giá của học sinh Trung học cơ sở ở Hà
Nội, Luận án Tiến sĩ Tâm lý học.
13. Đỗ Long; Phan Thị Mai Hương (2002), Tính cộng đồng - Tính cá nhân và cái Tôi
của người Việt Nam hiện nay, NXB Chính trị Quốc gia.
14. Jo. Godefroid, (1998), Những con đường của Tâm lý học, Tủ sách NT, (Trần Di Ái, Vũ
Thị Chín, Phạm Văn Đoàn, Phạm Kim, Lưu Huy Khánh dịch)
15. Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan (2001), Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm,
NXB Giáo dục.
16. Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng, Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học
sư phạm, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007.
17. Lê Hương, Một số nét tâm lý đặc trưng cho lứa tuổi thanh niên,

18. Lê Khanh (2007), Bài giảng Tâm lý học nhân cách, Khoa Tâm lý học, Trường ĐH
Khoa học Xã hội & Nhân văn.
19. Nguyễn Kế Hào (chủ biên), Nguyễn Quang Uẩn (2004), Giáo trình tâm lí học lứa
tuổi và tâm lí học sư phạm, NXB Đại học Sư phạm.
20. Nguyễn Công Khanh (2004), Định hướng nghề nghiệp lứa tuổi học sinh Trung học
phổ thông, Tạp chí Tâm lý học, số 8 năm 2004.
21. Nguyễn Ngọc Bích (2000), Tâm lý học nhân cách, NXB Đại học Quốc Gia.
22
22. Nguyễn Thị Mai Lan (2009), Định hướng giá trị nhân cách của học sinh Trung học
phổ thông, Luận án Tiến sĩ Tâm lý học.
23. Nguyễn Thị Mai Lan, Ảnh hưởng của gia đình đối với định hướng giá trị nhân cách
của học sinh Trung học phổ thông, .
24. Nguyễn Ngọc Lan (2008), Đặc điểm tự đánh giá tính tích cực học tập của học sinh
học nghề trong trường Cao đẳng Công nghiệp Việt Bắc, Thái Nguyên, Luận văn
Thạc sĩ Tâm lý học.
25. Nguyễn Văn Đồng (2004), Tâm lý học phát triển, NXB Chính trị Quốc gia.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status