1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRƯƠNG QUANG LÂM
NGHIÊN CỨU TỰ ĐÁNH GIÁ CỦA
HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG TÔ HIỆU, HUYỆN THƯỜNG
TÍN, HÀ NỘI Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Tâm lý học
Mã số: 60 31 80 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trương Khánh Hà
Hà Nội, 2012
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
146
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN 7
1.1. Tổng quan một số nghiên cứu về tự đánh giá và tự đánh giá của
học sinh 7
1.1.1. Một số nghiên cứu ở nước ngoài 7
1.1.2. Một số nghiên cứu trong nước 13
1.2. Một số khái niệm cơ bản 17
1.2.1. Khái niệm tự đánh giá 17
1.2.2. Khái niệm học sinh THPT 27
1.2.3. Khái niệm tự đánh giá của học sinh THPT 30
1.2.4. Các mặt biểu hiện của tự đánh giá của học sinh THPT 32
1.2.5. Một số yếu tố ảnh hưởng đến tự đánh giá của học sinh THPT 38
CHƯƠNG 2. TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 45
2.1. Tổ chức nghiên cứu 45
2.2. Mẫu nghiên cứu 45
2.3. Các phương pháp nghiên cứu 47
2.3.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu 48
2.3.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 48
2.3.3. Phương pháp phỏng vấn sâu 49
2.3.4. Phương pháp xử lí số liệu bằng thống kê toán học 49
2.3.5. Phương pháp trắc nghiệm 50
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 52
3.1. Thực trạng chung về tự đánh giá của học sinh THPT Tô Hiệu 52
3.1.1. Tự đánh giá chung của học sinh 52
3.1.2. Đánh giá của giáo viên và của cha mẹ học sinh 53 147
Bảng 3.6: So sánh sự phù hợp giữa TĐG của học sinh với đánh giá của cha
mẹ về mặt thể chất 58
Bảng 3.7: So sánh sự phù hợp giữa TĐG của học sinh với đánh giá của cha
mẹ về giao tiếp xã hội 59
Bảng 3.8: So sánh sự phù hợp giữa TĐG của học sinh với đánh giá của cha
mẹ về mặt học tập 59
Bảng 3.9: So sánh sự phù hợp giữa TĐG của học sinh và của cha mẹ về mặt
định hướng tương lai 61
Bảng 3.10: Đánh giá của cha mẹ về các đặc điểm tích cực của con cái 62
Bảng 3.11: Đánh giá của cha mẹ về các đặc điểm tiêu cực của con cái 64
Bảng 3.12: Tự đánh giá của học sinh về thể chất 67
Bảng 3.13: So sánh TĐG về thể chất giữa các khối lớp 71
Bảng 3.14: Tự đánh giá của học sinh về giao tiếp xã hội 73
Bảng 3.15: So sánh TĐG về giao tiếp xã hội giữa các khối lớp 76
Bảng 3.16: Tự đánh giá của học sinh về mặt học tập 78
Bảng 3.17: So sánh TĐG về học tập giữa các khối lớp 82
Bảng 3.18: Tự đánh giá của học sinh về cái tôi tương lai 86
Bảng 3.19: So sánh TĐG về định hướng tương lai theo khối lớp 90
Bảng 3.20: Sự thống nhất của cha mẹ trong cách giáo dục con cái 98
Bảng 3.21: Cách ứng xử của cha mẹ đối với con cái. 99
Bảng 3.22: Sự tương quan giữa các cách ứng xử của cha mẹ với các mặt TĐG
của học sinh 103
149
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Phân bố tỷ lệ các mức tự đánh giá của học sinh về các mặt 53
hội sẽ giúp cho họ nhận ra giá trị của mình, từ đó cá nhân có những ứng xử
phù hợp với những chuẩn mực đó, chính là năng lực tự đánh giá. Tự đánh giá
đúng là cơ sở cho sự hoàn thiện nhân cách.
Trong cuộc đời con người, tuổi thanh niên là lứa tuổi đẹp nhất, nhưng
đây cũng là lứa tuổi có sự phát triển phong phú và phức tạp: Xét từ góc độ
tâm - sinh lý thì đây là giai đoạn chuyển biến từ một đứa trẻ thành một người
trưởng thành với sự hoàn thiện về mặt sinh học và những chuyển biến về tâm
lý, tình cảm điển hình. Xét từ góc độ “con người - xã hội” thì đây cũng chính
là giai đoạn mà mỗi thanh niên cần chuẩn bị hành trang cho cuộc đời như: học
vấn, nghề nghiệp và lựa chọn văn hóa, tích luỹ cả về kinh nghiệm sống và các
giá trị chuẩn mực để định hình nên hệ giá trị của riêng mình.
Gia đình, nhà trường và xã hội hiện nay đều hướng tới việc giáo dục sự
tự ý thức cho thế hệ thanh niên, vì mục tiêu của giáo dục là đạt được sự tự
giáo dục, tự đánh giá, tự hoàn thiện bản thân của người học. Vì vậy chúng tôi
nhận thấy, việc tìm hiểu về tự đánh giá của học sinh THPT hiện nay rất có ý
4
nghĩa đối với công tác giáo dục tri thức, tư tưởng, lối sống… và định hướng
nghề nghiệp tương lai cho các em. Khi học sinh tự đánh giá đúng về bản thân
và người khác, các em sẽ trưởng thành và có trách nhiệm với chính mình.
Tuy nhiên hiện nay một số vấn đề tiêu cực trong xã hội đang diễn ra ở
lứa tuổi thanh thiếu niên: một bộ phận không nhỏ thanh niên học sinh đua xe,
nghiện game, và tình trạng bạo lực học đường ngày càng gia tăng trong đó có
nhiều em đang là học sinh THPT (độ tuổi từ 15 – 18). Qua các nghiên cứu và
các phân tích trong lĩnh vực tâm lý, luật pháp, giáo dục chúng tôi nhận thấy:
với những học sinh phạm tội, đa phần các em chưa có định hướng rõ ràng về
các giá trị sống, các em chưa đánh giá đúng về năng lực bản thân. Do đó, các
em dễ đánh mất mình, không làm chủ được suy nghĩ, cảm xúc và hành vi của
bản thân do tâm lý bị dao động, tự đánh giá của các em chưa đúng và phù hợp.
Kể từ khi Hà Tây sáp nhập vào Hà Nội và trở thành ngoại thành của thủ
- Tìm hiểu thực trạng, các mặt biểu hiện TĐG của học sinh trường
THPT Tô Hiệu, huyện Thường Tín, Hà Nội.
- Tìm hiểu mối quan hệ giữa cách ứng xử của cha mẹ đối với thực trạng
nói trên.
- Đưa ra một số kết luận và kiến nghị.
5. Khách thể nghiên cứu
Nghiên cứu 256 học sinh của 3 khối tại trường THPT Tô Hiệu, trong đó:
- 90 học sinh lớp 10
- 84 học sinh lớp 11
- 82 học sinh lớp 12
- 6 giáo viên chủ nhiệm và 256 phụ huynh học sinh
6. Phạm vi nghiên cứu
6.1. Về nội dung
- Thực trạng TĐG của học sinh THPT về thể chất, về học tập, về giao
tiếp xã hội và về định hướng tương lai.
6
- Trong số các yếu tố ảnh hưởng đến TĐG của học sinh THPT, chúng
tôi chỉ tìm hiểu ảnh hưởng cách ứng xử của cha mẹ với con cái.
6.2. Về địa điểm
Trường THPT Tô Hiệu – Huyện Thường Tín – Hà Nội.
7. Giả thuyết nghiên cứu
Phần lớn học sinh trường THPT Tô Hiệu, huyện Thường Tín, Hà Nội
có tự đánh giá ở mức trung bình. Có sự tương quan giữa cách ứng xử của cha
mẹ với tự đánh giá của học sinh.
8. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Phương pháp phỏng vấn sâu
- Phương pháp trắc nghiệm
tâm hóa những ý tưởng và thái độ của những nhân vật quan trọng trong cuộc
sống mà anh ta đã quan sát, chấp nhận chúng và thể hiện chúng ra ngoài như
8
là của riêng mình. Nội tâm hóa thái độ của người khác đối với mình, cá nhân
đánh giá cao bản thân khi được những người khác chấp nhận và ngược lại cá
nhân đánh giá thấp bản thân khi bị bác bỏ, từ chối. Do đó, có thể hiểu cái Tôi
được hình thành dựa trên việc “nội tâm hóa thái độ” và điều chỉnh thái độ của
bản thân dựa trên đánh giá của người xung quanh về mình.
Theo Sigmund Freud (1856 – 1939), định khu cấu trúc tâm lý nhân
cách của con người gồm ba phần: cái Nó, cái Tôi, cái Siêu tôi. Trong đó
Freud cho rằng ý thức tự ngã luôn luôn bị chi phối bởi bản năng mà nội
dung chính của nó là "libido"; hiểu theo nghĩa rộng - tức là mọi nhu cầu,
khát vọng, dục vọng, thèm muốn giao tiếp với thế giới thực tại khách quan.
Nhưng khi ý thức tự ngã bị kiềm chế bởi những định khuôn, qui ước xã hội
(social conventions) nó lại đi vào vô thức (inconscient), rồi từ đó những
xung năng khát vọng bộc phát lên ý thức, biến thành những ưu phiền, lo âu
Do đó, "cái Tôi" luôn bị mâu thuẫn bởi sự chi phối của bản năng dục vọng
và sự kiềm chế của ý thức xã hội. Cho nên, cá nhân luôn diễn ra sự đấu tranh
nội tâm, có sự đánh giá chính mình để vừa thỏa mãn những nhu cầu bản
năng đồng thời phù hợp với chuẩn mực xã hội. Do đó, đây cũng chính là một
trong những nguồn gốc bên trong của TĐG.
Các nhà tâm lý học theo chủ nghĩa Phân tâm mới là H.S. Sullivan, K.
Horney, A. Adler nghiên cứu về sự hình thành TĐG đã lý thuyết hóa nguồn
gốc của sự TĐG. Mối quan hệ liên nhân cách là nền tảng của sự TĐG, nhấn
mạnh sự quan trọng đặc biệt của cha mẹ, anh chị em ruột. Cụ thể là, việc cha
mẹ nuông chiều con cái, ảnh hưởng tiêu cực đến đứa trẻ: những đứa trẻ được
nuông chiều sẽ có một giá trị thổi phồng không thực tế so với giá trị thực của
chúng; chúng trở thành tự kỷ trung tâm và đòi hỏi, không muốn hoặc không
chuẩn bị phấn đấu cho sự trưởng thành trong các mối quan hệ xã hội.
khỏe mạnh về thể chất, sự yếu ớt trong việc phát triển cơ bắp, sự thiếu hụt
một vài bộ phận trên cơ thể…có ảnh hưởng không thuận lợi đến TĐG của cá
nhân. Khái niệm “mặc cảm tự ti” nảy sinh khi cá nhân nhận thấy sự thua kém
của bản thân khi cố gắng vượt qua những nhược điểm nhưng nhiều lần bị thất
bại; hoặc cá nhân quá chú ý đến sự kém cỏi của bản thân sẽ dẫn đến sự tự ti.
10
Nhận thức về sự thiếu hụt và sự cố gắng phải bù trừ những khuyết tật chiếm
vị trí trung tâm trong sự phát triển nhân cách, đó là: sự không hoàn thiện về
mặt thể chất, hình thái, do khó khăn trong giao tiếp ngoài xã hội… Nhận thức
này là động cơ thúc đẩy cá nhân luôn có khát vọng vượt qua sự thiếu hụt, kém
cỏi về thể chất bằng việc muốn dành ưu thế – địa vị siêu đẳng, muốn làm chủ
môi trường xung quanh. Trong lý thuyết này, khái niệm “bù trừ” dùng để chỉ
những khát vọng muốn hoàn thiện: khát vọng giành lấy địa vị siêu đẳng trong
một lĩnh vực khác, chính là sự bù trừ thừa mức mà cá nhân trở nên siêu việt
hơn người khác trên các phương diện mà nguyên nhân chính là sự khiếm
khuyết về cơ thể của họ.
Như vậy theo Adler, đối với trẻ em có 3 nhóm điều kiện gây ra cảm
giác thiếu hụt đó là:
- Sự thiếu hụt về thể chất.
- Giáo dục không đúng tạo ra những đứa trẻ không nhận thấy giá trị
bản thân.
- Giáo dục không đúng tạo ra những đứa trẻ luôn có quan hệ thù địch
với mọi người.
Như vậy, thể chất của cá nhân và thái độ đánh giá của người khác về cá
nhân cũng góp phần quan trọng tạo nên sự TĐG ở cá nhân – tích cực hay tiêu
cực. Điều này thể hiện rõ nhất ở cá nhân khi còn nhỏ trong giai đoạn hình
thành và phát triển nhân cách. Cách giáo dục của cha mẹ và người lớn tác
động trực tiếp đến nhận thức, cảm xúc, thái độ của đứa trẻ về chính ngoại
hình của trẻ (xinh đẹp hay xấu xí), về giới tính của trẻ (quy định cách ứng xử
đó độ bền vững của TĐG được định nghĩa là mức độ thay đổi của tự đánh giá
của một cá nhân theo thời gian. Do đó tính biến thiên của TĐG được hiểu
như mức độ mà TĐG thay đổi để đáp lại sự thay đổi của bối cảnh và được xác
định là có tương quan ở mức độ trung bình với TĐG, có nghĩa là TĐG càng
thấp càng đi liền với tính biến thiên cao hơn.
Từ việc đánh giá các mặt riêng lẻ, cá nhân có sự đánh giá chung về
những phẩm chất, năng lực, những thuộc tính của nhân cách, khi đó TĐG
12
mang tính khái quát. Từ những đánh giá cụ thể, riêng lẻ về các phẩm chất,
năng lực, thuộc tính nhân cách của mình trong những tình huống hoàn cảnh,
trong các hoạt động khác nhau, cá nhân rút ra được những nhận xét chung về
một phẩm chất năng lực nào đó rồi dần dần đi đến ý kiến đánh giá chung về
nhân cách của mình.
Giữa tính khái quát và tính phân biệt của TĐG luôn có sự thống nhất
chặt chẽ với nhau, tính khái quát của TĐG xuất hiện sau tính phân biệt và là
một hệ quả của tính phân biệt.
Tiểu kết: Như vậy qua một số công trình nghiên cứu về TĐG của các
tác giả nước ngoài, chúng tôi rút ra một số kết luận như sau:
Đối tượng của TĐG chính là bản thân chủ thể, là “cái Tôi”: cá nhân đánh
giá khái quát về các giá trị của mình đồng thời đánh giá cụ thể từng phẩm chất
năng lực và ngoại hình của bản thân trong mối tương quan với người khác.
TĐG được hình thành thông qua giao tiếp xã hội, cá nhân tiếp thu và
lĩnh hội những chuẩn mực xã hội, đồng thời tự điều chỉnh hành vi ứng xử
cho phù hợp với những chuẩn mực đó, đây chính là cơ sở của TĐG. Trong
đó, thái độ và cách cư xử của mọi người xung quanh đối với cá nhân đóng
vai trò quan trọng đối với tự đánh giá: nó dẫn đến việc cá nhân đánh giá bản
thân tích cực hoặc tiêu cực. Các tác giả cũng đã chứng minh rằng chỉ khi nào
cá nhân dung hoà được giữa đánh giá bản thân phù hợp với đánh giá của xã
hội, khi đó nhân cách cá nhân mới phát triển.
đều với các mức độ khác nhau: có sự khác biệt về khả năng TĐG thái độ học
toán ở những sinh viên khác nhau về kết quả học tập, thái độ học tập, vị thế
trong tập thể, hoạt động nghề nghiệp và môi trường học tập, cụ thể là: TĐG
phù hợp chiếm tỷ lệ cao nhất ở nhóm sinh viên khá, giỏi là 44.16%, sinh viên
có học lực trung bình có tỷ lệ là 26.25% và sinh viên yếu kém là 8.7%. Trong
đó, những sinh viên học tập đạt kết quả thấp lại có xu hướng tự đánh giá cao:
61.25% ở nhóm học lực trung bình và 83.04 % ở nhóm học lực yếu kém. Sinh
viên có thái độ học tập tự giác tích cực ở mức cao hơn thì TĐG cũng phù hợp
14
hơn: 45.66% ở sinh viên khá, giỏi, 27.98% ở sinh viên học lực trung bình và
20.66% ở sinh viên học lực yếu kém. Nghiên cứu cũng chỉ ra một số yếu tố
ảnh hưởng đến TĐG của sinh viên: trình độ phát triển nhân cách là yếu tố bên
trong ảnh hưởng đến sự tiếp thu của cá nhân đối với đánh giá bên ngoài, vì
vậy nó ảnh hưởng một cách gián tiếp lên TĐG.
Cùng hướng nghiên cứu về TĐG của học sinh sinh viên, khi nghiên
cứu về TĐG của lứa tuổi thanh thiếu niên, Vũ Thị Nho đã đưa ra kết luận: sự
TĐG của thiếu niên cao hơn hiện thực. Còn với lứa tuổi đầu thanh niên: Nhìn
chung họ có lòng tự trọng cao, song tính phê phán và sự tỉnh táo chưa cao.
Chỉ bằng con đường trải nghiệm trong thực tế cuộc sống, dần dần, những
người trẻ tuổi mới đạt được những khả năng tự đánh giá mình và có lòng tự
tin, tự trọng đúng mức như chính bản thân.
Trong đề tài“Nghiên cứu sự tự đánh giá của học sinh trung học cơ sở ở
Hà Nội” (2005), Đỗ Ngọc Khanh đã tiến hành nghiên cứu trên 471 học sinh
Trung học cơ sở và 471 cha mẹ cha mẹ của các em. Tác giả sử dụng phương
pháp bảng hỏi dựa trên thang đo Tự đánh giá của Susan Harter (được xây
dựng năm 1979), kết hợp với phương pháp phỏng vấn sâu để tìm hiểu về
TĐG của học sinh; tác giả đã tiến hành thử nghiệm một số biện pháp tác động
đối với 5 em học sinh có mức độ TĐG thấp và cha mẹ của các em nhằm làm
thay đổi mức độ TĐG của các em.
sánh TĐG giữa trẻ trong các gia đình có cha mẹ ly hôn và trẻ sống trong các
gia đình bình thường. Kết quả là các em trong gia đình có cha mẹ ly hôn và
trong gia đình bình thường đều có điểm số trung bình của cái tôi xã hội, cái
tôi học đường khá cao, còn điểm trung bình của cái tôi cảm xúc thấp; các em
trong gia đình có cha mẹ ly hôn có điểm số cái tôi thể chất thấp hơn các em
trong các gia đình bình thường [36; tr. 135 – 140].
Nghiên cứu “Định hướng giá trị nhân cách của học sinh Trung học phổ
thông” của Nguyễn Thị Mai Lan, tác giả đã nghiên cứu trên 509 học sinh tại
địa bàn Hà Nội và Tuyên Quang trên 3 chiều cạnh: hoạt động học tập, quan
16
hệ với bản thân và quan hệ với người khác. Tác giả đã rút ra một số kết luận:
về tự ý thức học tập: “phần lớn học sinh THPT được khảo sát TĐG bản thân
chưa có ý thức trong hoạt động học tập của mình”, có 54% học sinh cho rằng
mình là người chăm chỉ, nghiêm túc trong học tập, 46% học sinh chỉ học khi
bố mẹ và thầy cô yêu cầu, nhắc nhở. Đồng thời, các em cũng tự đánh giá là
“kết quả học tập của mình còn chưa tốt, chưa đúng với kỳ vọng của bản thân”
[22; tr. 115 – 119]. Bên cạnh đó, có sự khác biệt về TĐG kết quả học tập giữa
2 khách thể thuộc 2 địa bàn nghiên cứu: học sinh THPT ở Hà Nội TĐG đã đạt
được kết quả học tập như mong muốn cao hơn học sinh ở Tuyên Quang
(77.2% ở Hà Nội và 60.2% ở Tuyên Quang). Tác giả cũng chỉ ra rằng, đa số
học sinh THPT có cái Tôi hiện thực là người sống lương thiện, người tốt, có
trách nhiệm bản thân, có lý tưởng và sống theo chuẩn mực của nhà trường và
xã hội [22; tr. 133].
Tiểu kết: Qua một số nghiên cứu trong nước về TĐG, chúng tôi nhận
thấy các tác giả đã đề cập đến vấn đề TĐG dưới nhiều khía cạnh khác nhau
liên quan đến nhận thức, cảm xúc về bản thân và ý thức về bản ngã…
Các tác giả tập trung nghiên cứu ở các lứa tuổi như: tuổi mẫu giáo, học
sinh trung học cơ sở hay nghiên cứu ở thanh niên sinh viên…nhằm mục đích
chỉ ra những đặc trưng TĐG của từng lứa tuổi. Trong đó TĐG ở lứa tuổi
không tốt đối với bản thân”.
Đồng quan điểm trên, tác giả Vũ Dũng cho rằng, cá nhân đánh giá
chính mình, đánh giá những năng lực, phẩm chất và vị trí của mình so với
những người khác. Giá trị mà cá nhân gán cho mình hoặc cho những phẩm
chất riêng biệt của mình được gọi là tự đánh giá.
Theo các tác giả: Nguyễn Thạc, Phạm Thành Nghị, “TĐG của nhân
cách thể hiện thái độ đối với bản thân và kết quả sự biểu hiện các thuộc tính
nhân cách và năng lực trong hoạt động, giao tiếp và tự giáo dục. TĐG là kết
quả đánh giá từ bên ngoài hình thành nên lòng tự trọng của cá nhân (…) TĐG
chung của nhân cách có thể phân ra các đánh giá từng phần như TĐG về các
phẩm chất trí tuệ, giao tiếp và xúc cảm…” [28; tr. 48 - 49].
18
Trong đề tài “Nghiên cứu sự tự đánh giá của học sinh Trung học cơ sở
ở Hà Nội”, Đỗ Ngọc Khanh đã định nghĩa: Tự đánh giá là một hình thức phát
triển cao của tự ý thức, là sự đánh giá tổng thể của một cá nhân về các giá trị
bản thân với tư cách là một con người trong hoạt động và giao tiếp với những
người khác.
Kế thừa những thành tựu nghiên cứu về TĐG của các tác giả đi trước,
Vũ Thị Nho đã đưa ra định nghĩa về TĐG, đăng trên Tạp chí tâm lý học số
3/1998. Tác giả cho rằng: "TĐG là một hoạt động nhận thức đặc biệt của con
người, trong đó đối tượng nhận thức chính là bản thân chủ thể, là quá trình
chủ thể thu thập, xử lý thông tin về chính mình chỉ ra được mức độ giá trị
nhân cách tồn tại ở bản thân từ đó có thái độ, hành động, hoạt động phù hợp
nhằm tự điều chỉnh, tự giáo dục để hoàn thiện và phát triển".
Định nghĩa này đã chỉ ra được:
- TĐG là một hoạt động có đối tượng: nếu đối tượng của đánh giá là
hiện thực khách quan tồn tại ngoài chủ thể thì đối tượng của TĐG chính là cái
Tôi, cái bản ngã của chủ thể.
- Để đánh giá được chủ thể phải tiến hành hoạt động nhận thức: thu
nhân cách [37; tr. 964].
Như vậy, TĐG là điều kiện bên trong cần thiết của tự điều khiển, điều
chỉnh hành vi của con người. TĐG là một phẩm chất ở nhân cách có trình độ
phát triển cao, có vai trò quan trọng trong việc tự giáo dục, tự hoàn thiện bản
thân. TĐG không phải là cái "vốn có, cái tự có" mà là sản phẩm của quá trình
sống, hoạt động, học tập của chủ thể với nhóm và cộng đồng. Cá nhân chỉ
thực sự trưởng thành khi có năng lực TĐG đúng về bản thân và người khác.
1.2.1.2. Cấu trúc của tự đánh giá
- Nhận thức về bản thân
Là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý, nhận thức là cơ sở của
hành động của con người: cá nhân nhận thức về thế giới khách quan và nhận
thức về chính bản thân mình. Quá trình nhận thức trải qua các giai đoạn từ
20
thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Nhận thức phản ánh năng lực và sự
phát triển nhân cách của cá nhân.
Năng lực TĐG của mỗi người cũng trải qua các mức độ khác nhau, gắn
liền với quá trình phát triển nhận thức ngày càng cao như: việc lĩnh hội ngôn
ngữ, những quy tắc, chuẩn mực xã hội… Theo S.Franz “dưới góc độ nhận
thức luận thì tự đánh giá là một dạng đặc biệt của hoạt động tự nhận thức. Đó
là nhận thức của cá nhân về mức độ biểu hiện của các hiện tượng tâm lý, của
phương thức thái độ… đang tồn tại ở bản thân” [dẫn theo 6; tr. 25]. S.Franz
đã chỉ ra một quá trình nhận thức đầy đủ dẫn đến TĐG bao gồm 4 bước:
- Đầu tiên, cá nhân tiếp nhận thông tin về bản thân. Đây là bước mở
đầu của một quá trình tự ý thức, TĐG mà một sự kiện hay một tình huống nào
đó xuất hiện trong quá trình hoạt động, giao tiếp dẫn đến sự chuyển hướng
chú ý của cá nhân đến những đặc điểm của bản thân.
- Thứ hai, cá nhân xử lý thông tin và xác định các hiện tượng cơ thể,
tâm lý và những thái độ đang tồn tại ở bản thân. Ở đây, dấu ấn chủ quan của
cá nhân ảnh hưởng đến TĐG được thể hiện rõ.