Nhận thức của vị thành niên việt nam độ tuổi 15 17 về bình đẳng giới và các yếu tố tác động - Pdf 10


1
Nhận thức của vị thành niên Việt Nam độ tuổi
15- 17 về bình đẳng giới và các yếu tố
tác động

Trần Thị Phương

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Xã hội học
Chuyên ngành: Xã hội học; Mã số: 60 31 30
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Hữu Minh
Năm bảo vệ: 2012

Abstract. Làm rõ một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu như: Nhận thức,
vị thành niên, giới, bình đẳng giới,… Trên cơ sở đó, bước đầu xây dựng cơ sở lý
thuyết cho vấn đề nghiên cứu. Tổng quan một số nghiên cứu có liên quan đến việc
phân tích nhận thức của trẻ vị thành niên về bình đẳng giới. Mô tả thực trạng nhận
thức của nhóm vị thành niên từ 15- 17 tuổi ở Việt Nam hiện nay về vấn đề bình đẳng
giới. Cụ thể là: Nhận thức về bình đẳng giới trong cuộc sống gia đình (vai trò của
người vợ và người chồng, sự phân công lao động trong gia đình, mối quan hệ quyền
lực giữa vợ và chồng qua các quyết định…). Phân tích các nhân tố tác động đến nhận
thức của trẻ vị thành niên (từ 15- 17 tuổi) về bình đẳng giới. Cụ thể: Các nhân tố từ
phía bản thân vị thành niên (giới tính); các nhân tố gia đình (học vấn cha mẹ, nơi ở,
mức sống…).

Keywords. Xã hội học; Bình đẳng giới; Trẻ vị thanh niên

Content.

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

tố. Ngay từ gia đình, sự định hướng của cha mẹ về lối sống, chuẩn mực, học tập, lao
động- nghề nghiệp và trong cả sự đầu tư của cha mẹ đối với con cái cũng thường có sự
phân biệt tương đối rõ ràng về giới. Trong nhiều gia đình, công việc do trẻ em đảm
nhận thường có sự phân biệt rõ ràng theo vai trò giới. Chính yếu tố này có thể dẫn tới
nhận thức của các em về chuẩn mực cho từng giới trong phân công lao động gia đình.
Tuy nhiên, có thể thấy rằng các nghiên cứu xã hội học về thanh niên, vị thành
niên hiện nay chủ yếu tập trung vào các vấn đề có liên quan đến sức khoẻ sinh sản,
tình yêu, hôn nhân hay các vấn đề về học tập, lao động- việc làm; nhận thức đối với
bình đẳng giới còn ít được đề cập trong các công trình nghiên cứu. Chính vì thế, tìm
hiểu nhận thức của nhóm vị thành niên độ tuổi từ 15- 17 về bình đẳng giới là hết sức
cần thiết.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
- Xác định nhận thức của nhóm vị thành niên độ tuổi từ 15- 17 về bình đẳng
giới trong cuộc sống gia đình hiện nay.
- Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức của vị thành niên về bình
đẳng giới trong cuộc sống gia đình.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu như: Nhận thức, vị
thành niên, giới, bình đẳng giới,… Trên cơ sở đó, bước đầu xây dựng cơ sở lý thuyết
cho vấn đề nghiên cứu.
- Tổng quan một số nghiên cứu có liên quan đến việc phân tích nhận thức của vị
thành niên về bình đẳng giới.

3
- Mô tả thực trạng nhận thức của nhóm vị thành niên từ 15- 17 tuổi ở Việt Nam
hiện nay về vấn đề bình đẳng giới.
- Phân tích các nhân tố tác động đến nhận thức của vị thành niên (từ 15- 17
tuổi) về bình đẳng giới.
3. Câu hỏi nghiên cứu

niên Việt Nam hiện nay về bình đẳng giới, sự biến đổi trong nhận thức và các yếu tố
tác động đến nhận thức về bình đẳng giới của nhóm xã hội này. 4
5.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
5.2.1. Phương pháp phân tích số liệu thứ cấp
Đề tài “Nhận thức của vị thành niên Việt Nam độ tuổi 15 đến 17 về bình đẳng
giới và các yếu tố tác động” sử dụng phương pháp phân tích số liệu có sẵn từ Điều tra
Gia đình Việt Nam năm 2006 do Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Thống
kê, Viện Gia đình và Giới phối hợp thực hiện điều tra trên địa bàn 64 tỉnh/ thành phố
trong cả nước với tổng số mẫu là 9.300 hộ gia đình, chia ra làm 3 nhóm đối tượng:
nhóm từ 18 đến 60 tuổi, nhóm từ 61 tuổi trở lên và nhóm vị thành niên từ 15-17 tuổi.
Các thông tin chi tiết về Cuộc điều tra này có thể tham khảo trong Kết quả điều
tra Gia đình Việt Nam năm 2006 hoặc tham khảo trên website của Tổng cục Thống
kê .
5.2.2. Phương pháp phỏng vấn sâu
Đề tài tiến hành 8 cuộc phỏng vấn sâu để nắm bắt được quan điểm, suy nghĩ
của vị thành niên hiện nay về các vấn đề như phân công lao động gia đình, mối quan
hệ quyền lực giữa vợ và chồng trong các quyết định, đồng thời tìm hiểu những yếu tố
nào tác động đến những nhận thức của vị thành niên, như mô hình phân công lao động
và quyết định công việc trong gia đình, khuôn mẫu truyền thống, khu vực sinh sống,
sự ảnh hưởng của các nhóm bạn bè, giáo dục của nhà trường,
6. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nhận thức về bình đẳng giới của vị thành niên Việt
Nam độ tuổi từ 15 đến 17. Trong khuôn khổ của luận văn cao học, tác giả chỉ giới hạn
ở tìm hiểu nhận thức của nhóm vị thành niên độ tuổi 15- 17 về bình đẳng giới trong
cuộc sống gia đình.
- Khách thể nghiên cứu: Nhóm vị thành niên từ 15 đến 17 tuổi
- Phạm vi nghiên cứu:

được dùng để chỉ nhóm tuổi từ 15- 17.
1.1.1.2. Khái niệm nhận thức
Theo định nghĩa trong cuốn Từ điển hiện đại về Xã hội học, “Nhận thức là quá
trình trong đó cá nhân nhận biết và lý giải môi trường sống của mình. Nhận thức bao
gồm tất cả các quá trình mà nhờ nó cá nhân tìm được tri thức, bao gồm quá trình cảm
giác, tri giác, tư duy, ghi nhớ, tìm tòi, tưởng tượng, phán xét” [18; tr. 56].
Khái niệm nhận thức trong luận văn này được dùng với nghĩa là quá trình mà
nhóm vị thành niên hiểu biết ý nghĩa và giá trị về bình đẳng giới và tiếp nhận, học hỏi
được những tri thức khoa học về bình đẳng giới biểu hiện ở trình độ hiểu biết, tri thức
về bình đẳng giới. Từ góc độ xã hội học, khái niệm nhận thức nói đến quá trình nhận
thức về xã hội thông qua các tương tác xã hội, ví dụ nhận thức về bình đẳng giới qua
tương tác giữa các thành viên trong gia đình. Đó là sự hiểu biết của vị thành niên về
các quan niệm, giá trị, chuẩn mực liên quan đến mối quan hệ giữa nam giới và nữ giới
trong các khía cạnh của đời sống xã hội.
1.1.1.3. Khái niệm Bình đẳng giới
Theo Luật Bình đẳng giới, bình đẳng giới là nam và nữ có vị trí, vai trò ngang
nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của
cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó.
Trong đề tài luận văn này, chúng tôi sử dụng quan điểm về bình đẳng giới với
nhận thức giới, theo đó, bình đẳng giới là nam giới và nữ giới được tạo điều kiện tối đa
để phát huy khả năng của họ cũng như thụ hưởng các thành quả đó có tính tới những yếu
tố khác biệt tự nhiên giữa nam giới và nữ giới.
1.1.2. Những lý thuyết xã hội học vận dụng trong đề tài
1.1.2.1. Lý thuyết về Giới và Phát triển
Lý thuyết về Giới và Phát triển dựa trên quan niệm rằng sự khác biệt giữa nam
và nữ nhất thiết phải được giải thích bằng hai khái niệm đi liền nhưng có sự tách biệt

7
rõ ràng. Thứ nhất, đó là sự khác biệt về đặc điểm sinh học, còn gọi là giới tính, liên
quan chủ yếu đến vai trò sinh sản. Thứ hai là đặc điểm xã hội, còn gọi là giới, có liên

hiện đại về giới. Vị thế của người phụ nữ không phải là vị thế cố định mà là vị thế áp
đặt đối với người phụ nữ. Để thay đổi được vị thế này, sự thay đổi trong nhận thức của
vị thành niên là sự khởi đầu cần thiết. Chính vì thế, giáo dục giới cho vị thành niên là
vấn đề đặc biệt quan trọng.
Một số thuật ngữ cơ bản trong lý thuyết vai trò là thuật ngữ sự mong đợi về vai
trò và chuẩn mực, sự đánh giá vai trò và sự trừng phạt. Tuy nhiên đây lại chính là

8
những rào cản lớn để xoá bỏ đi những nhận thức mang tính bất bình đẳng giới. Theo
thuyết vai trò, nhiều sự khác biệt giới là sản phẩm của các vai trò xã hội khác nhau
được nam giới hoặc phụ nữ chiếm lĩnh. Thuyết vai trò cũng nêu ra ý tưởng là các vai
trò xã hội thường dẫn đến những khuôn mẫu xã hội. Điều này gợi ý rằng có thể dần
xoá bỏ những khuôn mẫu giới không phù hợp bằng vào việc thay đổi các vai trò giới
trong thực tế.

CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI CỦA VỊ
THÀNH NIÊN
2.1. Đặc điểm vị thành niên và các hộ gia đình trên địa bàn nghiên cứu
Nơi ở: Cuộc nghiên cứu tiến hành điều tra vị thành niên trên cả nước, trong đó
vị thành niên sống ở nông thôn chiếm tỉ lệ 78,2%, vị thành niên sống ở thành thị là
21,8%. Tỉ lệ này cũng tương ứng với tỉ lệ phân bố dân số nông thôn- đô thị ở nước ta
hiện nay.
Giới tính: Giới tính của vị thành niên tham gia phỏng vấn có sự phân bố tương
đối đồng đều cho cả hai giới, trong đó nữ vị thành niên là 1205 em (chiếm tỉ lệ 49,1%)
và nam vị thành niên là 1247 em (chiếm tỉ lệ 50,9%).
Độ tuổi: Trong 2452 em tham gia cuộc điều tra, vị thành niên 15 tuổi chiếm
27,7% số người được phỏng vấn, vị thành niên 16 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất là 38,9% và
vị thành niên 17 tuổi là 33,4%.
Mức sống: Luận văn phân tích mức sống thành 3 nhóm chính: Nhóm có mức
sống từ khá trở lên (gồm 2 nhóm giàu có, khá giả) có 303 em, chiếm tỉ lệ 12,4%;

Mặc dù vậy, lại có sự thay đổi rõ rệt khi tìm hiểu về người thích hợp với công
việc chăm sóc người già, người ốm. Tuy có sự chênh lệch đáng kể trong nhận định về
vai trò hai giới trong chăm sóc người già/ người ốm (tương ứng với nam là 2% và nữ
là 48,2%) nhưng tỷ lệ vị thành niên cho rằng chăm sóc người già, người ốm thích hợp
với cả hai giới (49,2%) cao hơn đáng kể so với các công việc khác như nội trợ (10%)
và chăm sóc trẻ em (19,2%).
Sự khác biệt này lại càng thể hiện rõ sự bất bình đẳng trong phân công lao động
gia đình giữa nam và nữ. Nếu như chăm sóc người già, người ốm là công việc phù hợp
với cả hai giới thì không có lý do gì để cho rằng chăm sóc trẻ em là công việc chủ yếu
phù hợp với phụ nữ. Như vậy không phải nam giới không làm được những công việc
chăm sóc trong gia đình, mà họ đã không nhìn nhận rằng đó cũng là trách nhiệm của
họ.
Tóm lại, theo quan điểm của nhiều vị thành niên hiện nay, phụ nữ là người
thích hợp hơn với những công việc trong gia đình như nội trợ, chăm sóc trẻ em, chăm
sóc người già ốm. Đặc trưng của phân công vai trò giới truyền thống trong gia đình là
người chồng giữ vai trò trụ cột về kinh tế, còn người vợ làm nội trợ.
2.2.2. Nhận thức về bình đẳng giới trong hoạt động kinh tế
Khi tìm hiểu quan điểm về người thích hợp với các công việc liên quan đến các
hoạt động tạo thu nhập, chúng ta thấy được vai trò chủ yếu của nam giới trong lĩnh vực
này, đồng thời cũng thấy ở đây sự phân công lao động theo giới rõ rệt. Cụ thể, 33,8%
vị thành niên cho rằng việc sản xuất, kinh doanh của hộ gia đình là phù hợp với nam
giới trong khi chỉ có 4% cho rằng đó là việc phù hợp với nữ giới.
Những số liệu này cho thấy, trên thực tế, dù người phụ nữ có đóng góp quan
trọng trong kinh tế gia đình nhưng theo quan niệm của nhiều người, vai trò này vẫn
chưa được thừa nhận đúng với đóng góp của họ.

10
Bên cạnh đó, có một vai trò ngầm dành cho phụ nữ đó là “quản lý đời sống
trong gia đình”, nữ giới chủ yếu phải đảm đương các công việc trong gia đình, do vậy,
họ cũng đồng thời là người giữ tiền để chủ động trong các sinh hoạt hằng ngày của gia

người chồng trong các nội dung chi tiêu khác nhau. Người vợ là người quyết định
trong các chi tiêu hằng ngày chiếm tỉ lệ tương đối cao (77%) nhưng tỉ lệ quyết định
trong các nội dung chi tiêu được cho là chi tiêu lớn như mua bán/ xây sửa nhà đất hay
mua các đồ đạc đắt tiền lại chiếm tỉ lệ rất thấp (tương ứng là 0,7% và 6%). Trong khi
đó, người chồng thì ngược lại, tỉ lệ vị thành niên cho rằng người chồng nên là người

11
quyết định các khoản chi tiêu lớn chiếm tỉ lệ cao hơn hẳn so với người vợ (tương ứng
là 36,2% và 19,4%).
Như vậy, trong quan điểm về phân công lao động gia đình, người phụ nữ được
cho là thích hợp với việc giữ tiền, nhưng điều này không tương ứng với quyền quyết
định các khoản chi tiêu lớn của gia đình. Trong khi những khoản chi tiêu hằng ngày-
được cho là không mấy quan trọng- thì vai trò quyết định lại được giao cho người phụ
nữ. Nhìn vào bảng số liệu trên, ngoài khoản chi tiêu hằng ngày thì trong các chi tiêu
lớn, tỉ lệ người chồng quyết định luôn cao hơn người vợ (như mua bán/ xây sửa nhà
đất tỉ lệ người chồng quyết định cao gấp 51,7 lần và mua các đồ đạc đắt tiền cao gấp
3,2 lần so với người vợ).
2.3.2. Nhận thức về quyền quyết định trong các hoạt động kinh tế
Khi tìm hiểu nhận thức về quyền quyết định trong các hoạt động kinh tế, số liệu
thu được cho thấy phụ nữ tiếp tục được coi là đóng vai trò mờ nhạt trong những hoạt
động này. Với các quyết định về sản xuất kinh doanh của hộ, có tới 40,3% vị thành
niên cho rằng nên do người đàn ông quyết định và 1,6% cho rằng nên là phụ nữ quyết
định.
Phân tích định tính cho thấy, trong quan niệm của nhiều vị thành niên, người bố
và người mẹ được mặc định cho một số khả năng sẵn có như người bố có tầm nhìn xa
trông rộng, gánh vác những công việc lớn, đóng vai trò là trụ cột, trong khi người mẹ
giữ vai trò là sợi dây liên kết mọi người trong gia đình, chỗ dựa tình cảm cho các
thành viên khác. Do đó, trong những quyết định làm ăn, người chồng, người nam giới
quyết định sẽ mang lại lợi ích lớn hơn.
Đối với các việc như vay vốn, sử dụng vốn vay, số vị thành niên cho rằng nên do cả

bình đẳng giới trong nhận thức của vị thành niên còn ở chỗ người phụ nữ có sự tham
gia đáng kể vào hoạt động kinh tế và đóng góp thu nhập cho gia đình nhưng điều này
không đồng nghĩa với việc họ được đánh giá cao hơn trong việc đưa ra các quyết định.
Kết quả này cho thấy vai trò của người phụ nữ trong hoạt động kinh tế vẫn chưa được
thừa nhận một cách đúng mức trong tương quan so với nam giới.

CHƢƠNG 3: CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NHẬN THỨC VỀ BÌNH ĐẲNG
GIỚI CỦA VỊ THÀNH NIÊN
3.1. Giới tính
Đối với nhận định về công việc thích hợp với nam giới hay nữ giới, tỉ lệ nữ vị
thành niên có xu hướng cho rằng các công việc đều thích hợp với cả nam và nữ cao hơn
so với nam vị thành niên cùng quan điểm. Cụ thể, trong khi có 64,1% nữ vị thành niên
cho rằng sản xuất kinh doanh là công việc thích hợp với cả nam và nữ thì chỉ có 58,5%
nam vị thành niên cùng quan điểm. Tương tự như vậy, trong các công việc khác như nội
trợ, chăm sóc trẻ em, giữ tiền, tiếp khách lạ, thay mặt gia đình giao tiếp với chính quyền,
tỉ lệ nữ giới cho rằng công việc đó thích hợp với cả hai giới luôn cao hơn nam vị thành
niên cùng quan điểm.
Sự khác biệt trên cho thấy, một bộ phận phụ nữ muốn được nam giới chia sẻ
nhiều hơn trong những công việc gắn với vai trò giới truyền thống của mình và ngược
lại, họ cũng muốn được chia sẻ với nam giới những công việc được coi là chỉ phù hợp
với nam giới. Tuy nhiên nhiều nam giới lại e ngại với cụm từ “bình đẳng giới” với sự
phân công lại lao động sẽ làm thiệt hại tới những lợi ích sẵn có của giới họ. Thay vì
gánh vác vai trò trụ cột, nay họ sẽ phải chia sẻ với phụ nữ những việc nội trợ mà ngay
từ khi còn bé, họ không được dạy để làm những việc đó.

13
Phỏng vấn sâu các đối tượng vị thành niên gợi ra rằng, trong khi nữ giới đang
nỗ lực tự cải thiện cuộc sống của họ thì nam giới vẫn còn e ngại trước những thay đổi
cần thiết để tiến tới xoá bỏ bất bình đẳng về giới. Không ít nam vị thành niên lo ngại
rằng xoá bỏ bất bình đẳng đồng nghĩa với việc tăng gánh nặng và trách nhiệm cho bản

chế quyền bình đẳng của phụ nữ nông thôn. Quan điểm này tiếp tục được duy trì trong
nhận thức của vị thành niên nông thôn.
Kết quả kiểm định Chi- Square Test cho thấy, ở khu vực đô thị có khác biệt
đáng kể giữa nữ và nam vị thành niên đối với nhận thức về vai trò của vợ và chồng

14
trong phân công lao động, trong khi đó sự khác biệt ở khu vực nông thôn là không
đáng kể.
Bảng số liệu cho thấy, khu vực thành thị, nữ giới có nhận thức chồng lo kiếm
tiền, vợ ở nhà làm nội trợ là 37,3%, trong khi đó nam giới bảo thủ hơn với 51,1% cùng
quan điểm. Trong khi đó, tỉ lệ này lại khá cân bằng ở khu vực nông thôn (không có
khác biệt giới tính giữa nam và nữ vị thành niên nông thôn và nhận thức bảo thủ là phổ
biến với nam là 59,9% và nữ là 55,7% cùng quan điểm).
3.3. Học vấn của cha mẹ
Tìm hiểu ảnh hưởng của học vấn cha mẹ đến nhận thức của con cái vị thành
niên về bình đẳng giới, kết quả phân tích định lượng cho thấy học vấn của người mẹ
có ảnh hưởng rõ ràng lên nhận thức của vị thành niên, học vấn của người bố cũng có
ảnh hưởng nhất định. Trình độ học vấn của cha mẹ vị thành niên cao hơn thì nhận thức
của vị thành niên về bình đẳng giới cũng tốt hơn.
Học vấn của người cha và người mẹ ở trình độ từ THCS trở lên không có sự
chênh lệch đáng kể trong nhận định của vị thành niên, nhưng ở trình độ học vấn tiểu
học và mù chữ, tỉ lệ vị thành niên có thành kiến giới cao hơn hẳn ở nhóm vị thành niên
có bố trình độ học vấn thấp so với nhóm vị thành niên có mẹ trình độ học vấn thấp.
Kiểm định P- value đạt ý nghĩa thống kê. Phải chăng người bố có học vấn thấp có
quan niệm về giới bảo thủ hơn người mẹ có học vấn thấp, dẫn đến sự ảnh hưởng của
họ đến nhận thức của con cái vị thành niên về các vấn đề này?
Tiếp tục tìm hiểu mối quan hệ giữa học vấn người bố với quan niệm về công
việc thích hợp với từng giới, kiểm định P- value cho các công việc: nội trợ, chăm sóc
trẻ em, chăm sóc người già/ người ốm, sản xuất kinh doanh hộ, giữ tiền, tiếp khách lạ
và thay mặt gia đình giao tiếp với chính quyền, chỉ có hai công việc nội trợ và chăm

thức của con vị thành niên trong việc phân công lao động gia đình cũng như vai trò, quyền
quyết định của người vợ và người chồng trong các công việc khác.
3.4. Phân công lao động trong gia đình và ngƣời quyết định chính các công
việc gia đình
Kết quả từ cuộc điều tra cho thấy có mối quan hệ giữa người làm chính các công
việc trong gia đình của vị thành niên với nhận thức của các em về người thích hợp với
từng loại công việc. Với những vị thành niên sống trong gia đình có sự phân công mang
tính chất khác biệt giới rõ ràng thì nhận thức về vai trò của từng giới cũng có xu hướng
duy trì khuôn mẫu đó. Trong khi đó, tỉ lệ vị thành niên trong những gia đình cả bố và mẹ
cùng chia sẻ công việc gia đình cho rằng các công việc này thích hợp với cả hai giới luôn
cao hơn nhóm vị thành niên còn lại.
Kiểm định mối quan hệ giữa nhận thức của vị thành niên về sự phù hợp theo giới
của công việc nội trợ và người làm chính công việc nội trợ trong gia đình vị thành niên
cho thấy khuôn mẫu hành vi trong phân công lao động gia đình có tác động rõ rệt lên nhận
thức của vị thành niên. Tỉ lệ vị thành niên sống trong gia đình mà mẹ vị thành niên đảm
nhận chính công việc nội trợ cho rằng nội trợ là công việc thích hợp với nữ giới cao nhất
(90,1%) và thích hợp với cả hai giới (9,4%) thấp nhất so với nhóm vị thành niên có bố
hoặc cả bố và mẹ cùng đảm nhận công việc nội trợ (tương ứng là 16,4% và 18,7%).
Những số liệu này cho thấy, trong những gia đình vị thành niên có bố đảm nhận công việc
nội trợ thì quan niệm của vị thành niên về việc cả hai vợ chồng cùng có trách nhiệm trong
công việc này cao hơn so với vị thành niên trong gia đình mẹ làm chính công việc nội trợ.
Như vậy, việc người đàn ông tham gia vào các công việc gia đình đã có tác động rất tích
cực đến nhận thức của vị thành niên về phân công lao động gia đình.

16
Bên cạnh đó, việc ai là người quyết định cuối cùng công việc trong gia đình cũng
có liên hệ chặt chẽ với nhận thức của vị thành niên về vấn đề này.
Trong quan niệm về quyết định mua bán/ xây sửa nhà đất, kết quả phân tích cho
thấy không có sự khác nhau đáng kể giữa hai nhóm vị thành niên- nhóm trong gia đình
chỉ có bố hoặc mẹ là người quyết định chính công việc này- nhưng lại có sự khác biệt của

những nước đang cố thoát khỏi bẫy đói nghèo phải đối mặt là thiếu kỹ năng và trình độ
nguồn lực để tạo ra bước chuyển đổi, trong đó bất bình đẳng giới là một trong những
nguyên nhân lớn nhất. Mối quan hệ hai chiều giữa bình đẳng giới và mức sống đã giúp

17
cho vị thành niên nhận thức được rằng tạo điều kiện cho nữ giới tham gia vào các hoạt
động tạo thu nhập cũng như sự tham gia của nam giới trong các công việc nội trợ gia đình
là bước tiến để cải thiện đời sống vật chất và tinh thần trong các gia đình.
Trong các quyết định về vay vốn và sử dụng vốn vay, tỉ lệ vị thành niên cho rằng
nên do cả hai vợ chồng cùng quyết định cao hơn so với việc mua bán/ xây sửa nhà đất hay
các quyết định về sản xuất kinh doanh hộ và tăng dần theo mức sống của gia đình vị thành
niên.
Kiểm định Chi- Square Test quan hệ giữa khu vực và mức sống với nhận thức của
vị thành niên về khuôn mẫu giới cho kết quả P < 0,05 ở khu vực thành thị, đạt ý nghĩa
thống kê. Kết quả này khẳng định nhận thức của vị thành niên chịu sự tác động từ cả hai
yếu tố khu vực và mức sống, thể hiện rõ ràng hơn ở nhóm vị thành niên khu vực thành thị.
Ở thành thị, tỉ lệ vị thành niên đồng ý với việc chồng lo kiếm tiền là chủ yếu, vợ chăm sóc
con cái và làm việc nhà thấp hơn ở tỉ lệ vị thành niên cùng quan điểm ở nông thôn và ở cả
hai khu vực, mức độ đồng ý giảm dần ở mức sống cao hơn.
Kết quả phân tích cho thấy vị thành niên nông thôn có suy nghĩ bảo thủ hơn trong
các nhận định về sự phân chia quyền lực trong gia đình so với vị thành niên thành thị và
hầu như không có sự khác biệt giữa các mức sống khác nhau ở nhóm vị thành niên này.
Có 61,6% vị thành niên ở mức sống khá, 61,7% vị thành niên mức sống trung bình và
56,8% vị thành niên ở mức sống nghèo và rất nghèo ở nông thôn cho rằng cả hai vợ
chồng nên cùng quyết định công việc sản xuất kinh doanh. Trong khi đó, ở khu vực thành
thị trong những gia đình khá giả, nhận thức của vị thành niên nhấn mạnh đến vai trò của
cả nam giới và nữ giới trong việc sản xuất kinh doanh chiếm tỉ lệ tương đối cao (72,6%)
và giảm dần ở mức sống thấp hơn (62,8% ở mức sống trung bình và 54,3% ở mức nghèo
và rất nghèo). Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, sự phân biệt về giới có xu hướng
diễn ra gay gắt nhất trong nhóm người nghèo [3; tr.12].

cao cho thấy người phụ nữ đã ngày càng đóng vai trò quan trọng trong các quyết định
tạo thu nhập của gia đình, nhưng chênh lệch giữa vợ và chồng còn lớn. Nhận thức của
nhóm vị thành niên về quyền quyết định trong các hoạt động kinh tế qua phân tích
Điều tra Gia đình Việt Nam 2006 không có sự khác biệt đáng kể so với kết quả nghiên
cứu trước đó, điều này cho thấy khuôn mẫu bất bình đẳng giới được lưu truyền và tiếp
nối qua các thế hệ khá bền vững.
Bên cạnh đó, các yếu tố thuộc về đặc điểm cá nhân, gia đình, môi trường sống
của vị thành niên có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhận thức của họ về bình đẳng giới.
Trước hết là yếu tố khu vực. Trong khi vị thành niên nông thôn tỏ ra bảo thủ trong các
quan điểm về vai trò, trách nhiệm của nam giới và nữ giới thì vị thành niên thành thị
lại có quan điểm cởi mở hơn về các vấn đề này. Giới tính cũng là yếu tố có tác động
đến nhận thức của vị thành niên. Tuy nhiên, sự khác biệt giới tính về nhận thức giới
thể hiện rõ ràng hơn ở khu vực thành thị. Còn ở khu vực nông thôn, một số định kiến
giới vẫn tồn tại và chi phối quan niệm của không ít vị thành niên. Nhiều nam giới vẫn
còn e ngại trước những thay đổi cần thiết để tiến tới xoá bỏ bất bình đẳng về giới.
Không ít nam vị thành niên lo ngại rằng xoá bỏ bất bình đẳng đồng nghĩa với việc tăng
gánh nặng và trách nhiệm cho bản thân, thậm chí sẽ hạn chế đi cơ hội của họ.
Ngoài ra, những quan điểm có tính bất bình đẳng giới cũng diễn ra gay gắt hơn
ở các nhóm vị thành niên có mức sống thấp hơn và vị thành niên trong những gia đình
có cha mẹ trình độ học vấn thấp. Trong khi đó, nhóm vị thành niên có cha mẹ trình độ
học vấn cao và trong các gia đình có sự chia sẻ công việc giữa vợ và chồng có nhận

19
thức bình đẳng hơn. Số liệu điều tra cho thấy, nhận thức của vị thành niên về bình
đẳng giới chịu ảnh hưởng sâu sắc từ gia đình. Trong những gia đình có sự phân chia
bình đẳng các công việc, từ việc nội trợ, chăm sóc người già, trẻ em cho tới các hoạt
động sản xuất kinh doanh của hộ, vị thành niên ở những gia đình này quan niệm công
bằng hơn qua tỉ lệ nhấn mạnh đến về vai trò cũng như quyền lực của cả nữ giới và nam
giới. Việc người đàn ông tham gia vào các công việc gia đình đã có tác động rất tích
cực đến nhận thức của vị thành niên về phân công lao động gia đình.

khả năng giải thích của các lý thuyết về giới và phát triển và lý thuyết vai trò xã hội. Các

20
nhóm vị thành niên chịu ảnh hưởng nhiều từ những chuẩn mực xã hội truyền thống có xu
hướng tiếp tục duy trì các vai trò giới truyền thống. Tuy nhiên, trong một số trường hợp,
sự tác động này cũng thể hiện khác nhau đối với nam và nữ. Theo lý thuyết vai trò xã hội,
vai trò xã hội được gán cho người phụ nữ và người nam giới ảnh hưởng đến nhận thức,
hành vi ứng xử của mỗi giới, nhưng kết quả thu được cho thấy trong khi nhận thức của
nam vị thành niên chịu sự ảnh hưởng bởi những khuôn mẫu vai trò truyền thống này thì
nữ vị thành niên lại cho thấy sự tiến bộ hơn trong nhận thức về vấn đề này.
Trong khi các phương tiện truyền thông, đặc biệt là các chương trình quảng cáo,
vẫn liên tục phát đi những nội dung mang các định kiến về giới thì việc tuyên truyền, phổ
biến rộng rãi cho các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là lứa tuổi vị thành niên những hiểu biết
cơ bản về giới và các vấn đề liên quan là thực sự cần thiết để tiến tới một xã hội công
bằng hơn.

References.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Việt Nam thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, Tháng 8-2005
2. Trần Thị Vân Anh, Nguyễn Hữu Minh (2008), Bình đẳng giới ở Việt Nam, NXB
Khoa học Xã hội, Hà Nội.
3. Báo cáo nghiên cứu chính sách của Ngân hàng Thế giới (2001), Đưa vấn đề giới
vào phát triển thông qua sự bình đẳng về quyền hạn, nguồn lực và tiếng nói, Nhà
xuất bản Văn hoá Thông tin, Hà Nội.
4. Barbara S. Mensch, Đặng Nguyên Anh, Wesley H. Clark (2000), Vị thành niên và
biến đổi xã hội ở Việt Nam, Báo cáo Nghiên cứu, Hà Nội.
5. Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam (2003), Từ điển
Bách khoa Việt Nam, tập 3, NXB Từ điển Bách Khoa, Hà Nội.
6. Trần Thị Hồng (2007), Khuôn mẫu giới trong gia đình hiện nay, Tạp chí Nghiên
cứu Gia đình và Giới, Số 4- 2007, tr. 17- 30.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status