ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ PHƯƠNG ANH
NHẬN THỨC CỦA VỊ THÀNH NIÊN VIỆT
NAM ĐỘ TUỔI 15- 17 VỀ BÌNH ĐẲNG
GIỚI VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Hữu Minh
Hà Nội – 2012
3
4
MỤC LỤC
Nội dung Trang
Lời cảm ơn
………………………………………………………………
3
Mục lục
…………… ……………………………………………………
4
Danh mục chữ cái viết tắt
…………… ………………………………
6
Danh mục các bảng …………… ……………………………………… 7
Danh mục các biểu đồ
…………… …………………………………
8
MỞ ĐẦU
…………… …………………………………………………
9
1. Lý do chọ đề tài 9
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 12
3. Câu hỏi nghiên cứu 12
4. Giả thuyết nghiên cứu 13
5. Khung lý thuyết 14
40
2.2. Nhận thức về bình đẳng giới trong phân công lao động gia đình
42
2.2.1. Nhận thức về bình đẳng giới trong công việc gia đình
……………
42
5
2.2.2. Nhận thức về bình đẳng giới trong hoạt động kinh tế
………
48
2.2.3. Nhận thức về bình đẳng giới trong hoạt động giao tiếp
……………
51
2.3. Nhận thức về bình đẳng giới trong quyền quyết định các vấn đề của gia đình
53
2.3.1. Nhận thức về quyền quyết định trong các vấn đề chi tiêu
……………
54
2.3.2. Nhận thức về quyền quyết định trong các hoạt động kinh tế
………
56
2.3.3. Nhận thức về bình đẳng giới trong quyền quyết định các hoạt động khác
59
Phụ lục
…………… …………………………………………………….
101
6 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CĐ
Cao đẳng
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Nơi ở của vị thành niên 39
Bảng 2.2: Trình độ học vấn của bố và mẹ vị thành niên (%) 40
Bảng 2.3: Nhận định về người thích hợp với các công việc gia đình (%) 45
Bảng 2.4: Người quyết định chính các chi tiêu trong gia đình (%) 53
Bảng 3.1: Tương quan giới tính vị thành niên và quan điểm về người quyết
định cuối cùng công việc (%) 65
Bảng 3.2: Tương quan giữa khu vực và nhận định người phù hợp với các công
việc (%) 69
Bảng 3.3: Nhận thức của vị thành niên về vai trò của vợ và chồng theo khu
vực và giới tính (%) 73
Bảng 3.4: Tương quan giữa học vấn của bố vị thành niên với nhận định công
việc phù hợp với từng đối tượng (%) 75
Bảng 3.5: Tương quan học vấn người mẹ và nhận định của vị thành niên về
người quyết định chính công việc (%) 77
Bảng 3.6: Ảnh hưởng của phân công lao động gia đình đến nhận thức của vị
thành niên về các công việc này (%) 80
Bảng 3.7: Tương quan giữa người quyết định cuối cùng công việc trong gia
đình và nhận thức của vị thành niên về các công việc tương ứng (%) 81
Bảng 3.8: Tương quan mức sống và nhận định về công việc thích hợp với
mỗi đối tượng (%) 83
Bảng 3.9: Tương quan Mức sống * Giới tính * Nhận định về công việc thích
hợp với mỗi đối tượng (%) 84
8
Bảng 3.10: Tương quan giữa Khu vực * Mức sống * Nhận định “người chồng
lo kiếm tiền là chủ yếu, vợ ở nhà chăm sóc con và làm nội trợ” (%) 85
Bảng 3.11: Tương quan Khu vực * Mức sống * Nhận thức của vị thành niên
của phụ nữ là mục tiêu đứng thứ 3 trong Bản Tuyên ngôn Thiên niên kỷ.
Trong thời gian qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận
trong nỗ lực giảm thiểu tình trạng bất bình đẳng về giới. Theo Báo cáo thực
hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (2005), giá trị chỉ số phát triển giới
(GDI) của Việt Nam tăng từ 0,668 năm 1998 lên 0,689 năm 2004 và thuộc
nhóm nước có thành tựu tốt trong khu vực về chỉ số phát triển giới [1; tr. 17].
Việc đẩy mạnh các hoạt động về giới đã tạo ra sự chuyển biến tích cực về
nhận thức cũng như hành động của xã hội trước những vấn đề bất bình đẳng
giới.
Tuy nhiên cuộc đấu tranh cho bình đẳng giới ở Việt Nam còn gặp nhiều
khó khăn và tình trạng bất bình đẳng giới là một trong những thách thức chính
về phát triển đối với Việt Nam. Trước hết, đó là những định kiến giới ở nhiều
tầng lớp xã hội coi trọng nam giới hơn phụ nữ. Các biểu hiện tập trung có thể
liệt kê như: thích sinh con trai hơn con gái, coi việc nội trợ, chăm sóc con cái
là của phụ nữ, khi chia tài sản thừa kế thường dành cho con trai nhiều hơn, ưu
tiên đầu tư vào con trai, coi nam giới là chủ hộ gia đình vì nam giới được xem
là người trụ cột, quyết định chính trong gia đình và thành thạo mọi việc xã hội
[1; tr. 38]. Nhìn chung, nhận thức về bình đẳng giới của một bộ phận không
nhỏ người dân còn hạn chế. Trong nhiều trường hợp, những quan niệm bất
bình đẳng giới được khái quát hoá và trở thành các chuẩn mực và giá trị xã
10
hội. Trong khi điều kiện kinh tế đang thay đổi nhanh chóng thì các chuẩn
mực, giá trị văn hoá liên quan đến vai trò giới dường như thay đổi rất chậm
chạp [49; tr.11]. Do đó, cuộc chiến đấu chống lại bất bình đẳng giới ở Việt
Nam đòi hỏi nỗ lực nhiều hơn trong việc nâng cao nhận thức người dân về
bình đẳng giới.
Vị thành niên là giai đoạn quá độ từ trẻ con sang người lớn, đây cũng là
giai đoạn diễn ra sự học tập, thích nghi và lựa chọn các giá trị, chuẩn mực một
cách mạnh mẽ. Quá trình nhận thức, hình thành nhân cách ở giai đoạn này giữ
vai trò quan trọng trong cuộc đời mỗi con người và chịu sự chi phối không
làm; nhận thức đối với bình đẳng giới còn ít được đề cập trong các công trình
nghiên cứu. Chính vì thế, tìm hiểu nhận thức của nhóm vị thành niên độ tuổi
từ 15- 17 về bình đẳng giới là hết sức cần thiết. Qua đó chúng ta biết được
thực trạng nhận thức của vị thành niên Việt Nam về bình đẳng giới và có định
hướng thích hợp trong việc nâng cao nhận thức về bình đẳng giới, góp phần
thay đổi nhận thức của người dân ngay từ khi còn trẻ, tạo nền tảng vững chắc
trong nhận thức về bình đẳng giới sau này. Đây cũng là việc quan trọng góp
phần vào nỗ lực cải thiện tình hình bất bình đẳng giới ở Việt Nam về mặt
nhận thức.
Trong khuôn khổ của luận văn cao học, tác giả chỉ giới hạn ở tìm hiểu
nhận thức của nhóm vị thành niên độ tuổi 15- 17 về bình đẳng giới trong cuộc
sống gia đình.
12
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
- Xác định nhận thức của nhóm vị thành niên độ tuổi từ 15- 17 về bình
đẳng giới trong cuộc sống gia đình hiện nay.
- Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức của vị thành niên
về bình đẳng giới trong cuộc sống gia đình.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu như: Nhận
thức, vị thành niên, giới, bình đẳng giới,… Trên cơ sở đó, bước đầu xây dựng
cơ sở lý thuyết cho vấn đề nghiên cứu.
- Tổng quan một số nghiên cứu có liên quan đến việc phân tích nhận
thức của vị thành niên về bình đẳng giới.
- Mô tả thực trạng nhận thức của nhóm vị thành niên từ 15- 17 tuổi ở
Việt Nam hiện nay về vấn đề bình đẳng giới. Cụ thể là: Nhận thức về bình
trong các công việc này so với nhóm còn lại. 14
5. Khung lý thuyết
Trong đó:
- Đặc điểm vị thành niên: Giới tính
- Đặc điểm gia đình: học vấn của cha mẹ, mức sống, mô hình phân
công lao động của cha mẹ, mô hình quyền quyết định của cha mẹ.
- Đặc điểm cộng đồng: Khu vực (nông thôn- đô thị)
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp luận
- Phương pháp luận chung: Tiếp cận từ quan điểm của chủ nghĩa Mác-
Lênin về các vấn đề giới (thông qua một số tác phẩm có liên quan như
“Nguồn gốc gia đình, chế độ tư hữu và Nhà nước”, “Tình cảnh giai cấp công
nhân Anh”, “Bản dự luật về ly hôn”). Đồng thời vận dụng tư tưởng Hồ Chí
Minh và những chính sách, văn bản pháp luật của nhà nước về bình đẳng giới.
Đặc điểm của vị
Công tác chọn mẫu được Tổng cục Thống kê tiến hành với sự tư vấn
của chuyên gia chọn mẫu của Bộ Gia đình, Dịch vụ Cộng đồng và Người bản
địa Úc (FaHCSIA). Thiết kế mẫu cuộc điều tra là một mẫu xác suất, chọn
theo tầng và chùm. Các địa bàn, hộ gia đình đc chọn theo phương pháp hệ
thống từ dàn mẫu chủ của Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam. Dàn mẫu
của Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam do chuyên gia của Ngân hàng
Thế giới và Tổng cục Thống kê thiết kế năm 2001. Dàn mẫu này có 3100 xã/
phường thuộc 64 tỉnh và thành phố, các xã/ phường được chọn theo xác suất
16
tỷ lệ với căn bậc hai của quy mô dân số. Tại mỗi xã/ phường được chọn, tiến
hành chọn ngẫu nhiên 3 địa bàn. Kết quả có 9300 hộ được chọn chính thức và
9300 hộ được chọn dự phòng. Trong đó có 2364 hộ thành thị và 6936 hộ nông
thôn. Mẫu Điều tra Quốc gia Gia đình Việt Nam đại diện chung cả nước, khu
vực thành thị/ nông thôn và 8 vùng.
Tuy nhiên nguồn số liệu chính được sử dụng trong luận văn là số liệu
từ cuộc điều tra đối với nhóm tuổi từ 15- 17 tuổi. Trong 9.300 hộ điều tra có
3.125 vị thành niên từ 15- 17 tuổi, trong đó số người được phỏng vấn là 2.452
người. Số liệu thu được được xử lý bằng chương trình SPSS. Các thông tin
chi tiết về Cuộc điều tra này có thể tham khảo trong Kết quả điều tra Gia
đình Việt Nam năm 2006 hoặc tham khảo trên website của Tổng cục Thống
kê .
6.2.2. Phương pháp phỏng vấn sâu
Đề tài tiến hành 8 cuộc phỏng vấn sâu để nắm bắt được quan điểm, suy
nghĩ của vị thành niên hiện nay về các vấn đề như phân công lao động gia
đình, mối quan hệ quyền lực giữa vợ và chồng trong các quyết định, đồng thời
tìm hiểu những yếu tố nào tác động đến những nhận thức của vị thành niên,
như mô hình phân công lao động và quyết định công việc trong gia đình,
khuôn mẫu truyền thống, khu vực sinh sống, sự ảnh hưởng của các nhóm bạn
bè, giáo dục của nhà trường,
7. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số khái niệm liên quan
1.1.1.1. Khái niệm vị thành niên
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), khái niệm “thanh thiếu niên” được
hiểu là độ tuổi từ 10- 24, trong đó “vị thành niên” được định nghĩa là thời kỳ
trong độ tuổi 10- 19 và “thanh niên” là nhóm tuổi từ 15- 24 [42; tr. 13].
Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc, vị thành niên là nhóm tuổi từ 10-
19.
Ở Việt Nam, vị thành niên là lứa tuổi từ 10 đến 18 tuổi. Thanh niên là
từ 16 - 24 tuổi. Trẻ em được luật pháp bảo vệ chăm sóc giáo dục là dưới 16
tuổi. Về mặt luật pháp vị thành niên là dưới 18 [29; tr.1].
Đối tượng của cuộc nghiên cứu này là vị thành niên trong độ tuổi từ 15-
17 vì những lý do sau: Đây là nhóm tuổi phù hợp nhất để tiến hành điều tra
(vì độ tuổi từ 15- 17 có thể được xem là tương đối lớn để trả lời các câu hỏi
được thiết kế trong bảng hỏi mà không cần sự có mặt của cha mẹ). Trong luận
văn này, thuật ngữ vị thành niên được dùng để chỉ nhóm tuổi từ 15- 17.
1.1.1.2. Khái niệm nhận thức
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, nhận thức là quá trình biện chứng
phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư
duy và không ngừng tiến gần đến khách thể. Sự nhận thức đi từ trực quan sinh
động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn. Con đường
nhận thức đó được thực hiện qua các giai đoạn từ thấp đến cao như sau:
19
- Nhận thức cảm tính: vận dụng cảm giác, tri giác, biểu tượng
- Nhận thức lý tính: vận dụng khái niệm, phán đoán, suy lý
- Nhận thức trở về thực tiễn, ở đây tri thức được kiểm nghiệm là đúng
hay sai. Do đó thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, là cơ sở động lực, mục đích
của nhận thức.
Mục đích cuối cùng của nhận thức không chỉ để giải thích thế giới mà
và phụ nữ, liên quan tới hàng loạt vấn đề thuộc về thể chế và xã hội chứ
không phải là mối quan hệ cá biệt giữa một nam giới hay phụ nữ nào [48;
tr.17]
Nói đến giới là nói đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy
định cho người nam và người nữ. Bao gồm việc phân chia lao động, các kiểu
phân chia nguồn lợi và và tương quan về địa vị xã hội của nam giới và nữ giới
trong một bối cảnh văn hoá xã hội cụ thể. Thuật ngữ giới đề cập đến những
đặc tính và cơ hội về mặt kinh tế, xã hội, văn hoá, tâm lý gắn với việc là phụ
nữ hay nam giới. Trong phần lớn các xã hội, là một người đàn ông hay là một
người phụ nữ không chỉ có các đặc điểm sinh học khác nhau mà còn phải đối
diện với những mong đợi khác nhau của xã hội về mặt ngoại hình, các cư xử,
tính cách và những công việc được cho là thích hợp với giới tính của người đó
[13; tr. 26].
- Bình đẳng giới:
21
Theo Từ điển Tiếng Việt, bình đẳng là sự ngang bằng nhau về địa vị và
quyền lợi [34; tr. 84].
Từ điển xã hội học, bình đẳng được hiểu trên hai bình diện có quan hệ
mật thiết với nhau: bình diện tự nhiên và bình diện xã hội. Trên bình diện tự
nhiên, bình đẳng không có nghĩa là mọi con người đều có những năng lực thể
chất và tinh thần hoàn toàn giống nhau. Các khảo sát khoa học cho thấy
những năng lực đó là khác nhau một cách bẩm sinh. Trên bình diện xã hội,
khái niệm bình đẳng bao hàm nhiều lĩnh vực khác nhau: bình đẳng chính trị,
bình đẳng kinh tế, bình đẳng chủng tộc và dân tộc, bình đẳng giới,… [48; tr.
21].
Theo Luật Bình đẳng giới, bình đẳng giới là nam và nữ có vị trí, vai trò
ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự
phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả
của sự phát triển đó.
Theo Công ước CEDAW, khái niệm bình đẳng giới được hiểu: Là tình
một bên là các đặc điểm xã hội luôn biến đổi, mặt khác, lý giải nguyên nhân
chủ yếu dẫn đến khoảng cách về vị trí và tiếng nói của phụ nữ trong gia đình
và xã hội. Quan trọng hơn cả là tự khái niệm này có thể vận dụng để xem xét
thực tế vị thế của người phụ nữ và nam giới trong gia đình và xã hội không
phải như một [2; tr.23].
Giới là mối quan hệ giữa nam và nữ và cách thức xây dựng mối quan
hệ đó trong xã hội. Giới được biểu hiện dưới các hình thức:
23
- Tính cách và phẩm chất: Tính cách và phẩm chất của mỗi giới do xã
hội cảm nhận và quy định. Xã hội đòi hỏi tính cách và phẩm chất của nam và
nữ khác nhau. Đó là chuẩn mực văn hóa xã hội có thể thay đổi theo thời gian,
hoàn cảnh văn hóa, chế độ chính trị Tính cách và phẩm chất giới được giáo
dục ngay từ khi còn nhỏ bởi gia đình, cha mẹ.
- Tư tưởng: Xã hội loài người là biểu hiện của những bất bình đẳng
mà bất bình đẳng về giới là một trong những bất bình đẳng tồn tại dai dẳng
nhất. Đó là sự bất bình đẳng từ trong nhận thức, tư tưởng của con người. Lý
thuyết về giới đòi hỏi sự trao quyền cho phụ nữ, nâng cao vị thế của phụ nữ.
Sự phân công lao động giữa nam và nữ, giữa cha mẹ và con cái, giữa
con trai và con gái trong gia đình là sự biểu hiện rõ nhất của vấn đề giới và
cũng là cách giáo dục gián tiếp cho trẻ.
Các vai trò giới là kết quả của quá trình xã hội hoá, của điều kiện kinh
tế- xã hội chứ không phải do những khác biệt về đặc điểm sinh học giữa nam
và nữ quyết định. Quan điểm của lý thuyết giới cho rằng các vai trò giới là do
các thiết chế xã hội quy định, vì vậy khi xã hội có sự biến đổi thì vai trò giới
cũng có những biến đổi tương ứng.
Áp dụng lý thuyết về giới trong nghiên cứu này sẽ cho ta thấy được
sự tác động của các yếu tố cá nhân, gia đình, nhà trường và xã hội đến quan
niệm, nhận thức của vị thành niên về bình đẳng giới. Theo đó, vị thành niên
chịu sự tác động từ chính khuôn mẫu trong gia đình, nhà trường, cộng đồng
xã hội, từ đó dẫn đến những quan niệm khác nhau trong các vấn đề như phân
bất bình đẳng giới cho họ. Do đó, cần thiết phải có sự thay đổi khuôn mẫu
25
giáo dục truyền thống sang khuôn mẫu hiện đại về giới. Vị thế của người phụ
nữ không phải là vị thế cố định mà là vị thế áp đặt đối với người phụ nữ. Để
thay đổi được vị thế này, sự thay đổi trong nhận thức của vị thành niên là sự
khởi đầu cần thiết. Chính vì thế, giáo dục giới cho vị thành niên là vấn đề đặc
biệt quan trọng.
Một số thuật ngữ cơ bản trong lý thuyết vai trò là thuật ngữ sự mong
đợi về vai trò và chuẩn mực, sự đánh giá vai trò và sự trừng phạt. Tuy nhiên
đây lại chính là những rào cản lớn để xoá bỏ đi những nhận thức mang tính
bất bình đẳng giới. Theo thuyết vai trò, nhiều sự khác biệt giới là sản phẩm
của các vai trò xã hội khác nhau được nam giới hoặc phụ nữ chiếm lĩnh.
Thuyết vai trò cũng nêu ra ý tưởng là các vai trò xã hội thường dẫn đến những
khuôn mẫu xã hội. Điều này gợi ý rằng có thể dần xoá bỏ những khuôn mẫu
giới không phù hợp bằng vào việc thay đổi các vai trò giới trong thực tế.
1.1.3. Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về
bình đẳng giới
1.1.3.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về bình đẳng giới
Ngay từ thế kỷ XIX, C. Mác và Ph. Ăngghen – các lãnh tụ thiên tài của
giai cấp vô sản toàn thế giới – đã chỉ ra rằng chế độ mẫu quyền bị lật đổ là sự
thất bại lịch sử có tính chất toàn thế giới của giới nữ.
Người ta thấy rằng sự giải phóng phụ nữ, quyền bình đẳng giữa nam
và nữ đều không thể có được và mãi mãi không thể có được, chừng nào mà
phụ nữ vẫn còn bị gạt ra ngoài lao động sản xuất của xã hội và còn phải bị bó
hẹp trong công việc riêng tư ở gia đình. Muốn thực hiện sự giải phóng phụ nữ
thì trước hết phải làm cho người phụ nữ có thể tham gia sản xuất trên một quy
mô xã hội rộng lớn và chỉ phải làm công việc trong nhà ít thôi. Điều đó chỉ có
thể thực hiện được với nền đại công nghiệp hiện đại là nền công nghiệp không
26
những chỉ thu nhận lao động của phụ nữ trên quy mô lớn, mà cũng nhất thiết