Tài liệu Đồ án tốt nghiệp "Phân tích tình hình xuất khẩu hạt điều của Việt Nam sang Mỹ 2007-7/2009" - Pdf 10

Chuyên đề ngoại thương
Đồ án tốt nghiệp
Phân tích tình hình xuất
khẩu hạt điều của Việt
Nam sang Mỹ 2007-
7/2009
GVHD: 1 SVTH: NGUYỄN TUẤN KIỆT
Chuyên đề ngoại thương
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 3
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
2.1 Mục tiêu chung 3
2.2 Mục tiêu cụ thể: 3
3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 4
4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
PHẦN NỘI DUNG 5
1. TỔNG QUAN VẾ XUẤT KHẨU HẠT ĐIỀU Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007-
7/2009 5
1.1 Sự xuất hiện ngành điều xuất khẩu ở Việt Nam 5
1.1.1 Giới thiệu cây điều 5
Là một loại cây thích hợp với nhiều loại đất, có khả năng chịu hạn tốt. Cây
điều có nhiều giá trị sử dụng nên nhiều người cho rằng cây điều vừa là cây công
nghiệp, vừa là cây thực phẩm và dược liệu.
1.1.2 Quá trình xuất hiện ngành xuất khẩu hạt điều ở Việt Nam . 5
1.2 Tình hình sản xuất hạt điều (2007- 7/2009). 6
1.3 Thị trường xuất khẩu hạt điều chủ yếu của Việt Nam 8
2. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HẠT ĐIỀU SANG HOA KỲ 2007 ĐẾN THÁNG
7/ 2009 VÀ NHỮNG THUẬN LỢI , KHÓ KHĂN 11
2.1 Tổng quan về nền kinh tế Hoa Kỳ 11

vẫn là thị trường tiêu thụ lớn nhất ( tiêu thụ trên 30% tổng lượng điều xuất
khẩu của Việt Nam).Tuy nhiên, ngành xuất khẩu này đã gặp không ít khó
khăn, đặc biệt trong thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới (WTO) vừa qua của
Việt Nam (2007) phải đối mặt với những thách thức và khó khăn của thế
giới và cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới tác động rất lớn vào ngành xuất
khẩu này. Vậy chúng ta cần phải làm gì để giữ vững vị trí của ngành này ?
Vì thế em chọn đề tài “Phân tích tình hình xuất khẩu hạt điều của Việt
Nam sang Mỹ 2007- 7/2009” để từ đó có thể đưa ra những giải pháp phát
triển tích cực cho ngành này ở thị trường khó tính Hoa Kỳ trong tương
lai.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu chung
Phân tích tình hình xuất khẩu hạt điều của Việt Nam sang Hoa Kỳ giai đoạn
2007- 7/2009. Đồng thời phân tích những thuân lợi và khó khăn. Từ đó đưa ra
những giải pháp thích hợp để phát triển ngành này.
2.2 Mục tiêu cụ thể:
(1) Phân tích tình hình sản xuất và tiêu thụ hạt điều Việt Nam giai đoạn 2007-
7/2009.
(2) Phân tích thực trạng xuất khẩu hạt điều Việt Nam sang Hoa Kỳ giai đoạn
2007- 7/2009 . Từ đó rút ra những thuận lợi và khó khăn.
GVHD: 3 SVTH: NGUYỄN TUẤN KIỆT
Chuyên đề ngoại thương
(3) Đưa ra một số giải pháp giúp ngành này phát triển bền vững trong tương lai
ở thị trường Mỹ.
3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
(1) Hiện nay việc sản xuất và xuất khẩu hạt điều của Việt Nam như thế nào?
(2) Việc sản xuất và xuất khẩu hạt điều có những thuận lợi và khó khăn gì?
(3) Thực trạng tiêu thụ ở Mỹ ra sao?
(4) Giải pháp nào cho việc sản xuất và xuất khẩu hạt điều để phát triển tốt hơn ở
thị trường khó tính Mỹ ?

phương khác.
Là một loại cây thích hợp với nhiều loại đất, có khả năng chịu hạn tốt. Cây
điều có nhiều giá trị sử dụng nên nhiều người cho rằng cây điều vừa là
cây công nghiệp, vừa là cây thực phẩm và dược liệu.
1.1.2 Quá trình xuất hiện ngành xuất khẩu hạt điều ở Việt Nam .
Lịch sử ngành điều bắt đầu từ những năm 80 của thế kỉ trước.Ngay từ những
năm 1980, Đảng và Nhà nước đã bước đầu có sự quan tâm đến cây điều, đặc biệt
là công nghệ chế biến điều xuất khẩu . Tuy nhiên thời kỳ này Việt Nam chủ yếu
là xuất khẩu hạt điều thô, giá trị kinh tế thấp, thường xuyên bị ép giá ở nước
ngoài.Phải đến năm 1990 ngành điều Việt Nam mới thực sự khởi sắc. Ngày
29/11/1990 Bộ trưởng Bộ NN và CN Thực phẩm đã có Quyết định số 346 /NN-
TCCB/QĐ v/v: thành lập Hiệp hội cây điều Việt Nam với tên giao dịch bằng
tiếng Anh: Vietnam Cashew Association (VINACAS).
GVHD: 5 SVTH: NGUYỄN TUẤN KIỆT
Chuyên đề ngoại thương
Năm 1992, hạt điều Việt Nam đã có mặt tại thị trường Trung Quốc . Và
bước vào thị trường Hoa Kỳ năm 1994. Năm 2000, Hiệp hội điều Việt Nam - Bộ
Nông Nghiệp và Phát Triển Nông thôn đã lập đề án chiến lược phát triển ngành
điều giai đoạn 10 năm từ 2000 – 2010. Ngành điều Việt Nam đang khởi sắc
nhưng bên cạnh gặp những khó khăn cần có sự quan tâm của nhà nước hơn nữa.
1.2 Tình hình sản xuất hạt điều (2007- 7/2009).
Bảng 1 : DIỆN TÍCH TRỒNG ĐIỀU VIỆT NAM (2007- 7/ 2009)
Năm 2007 2008 7/ 2009
Diện tích (ha) 437.000 421.498 400.000
Sản lượng (tấn) 400.000 350.000 150.000
Nguồn : Lao Động số 52 Ngày 10/03/2009
Năm 2006-2007 diện tích tăng do kỹ thuật và công nghệ mới trồng điều trên
vùng cát cũng đang mở ra triển vọng lớn lao cho việc mở rộng diện tích điều trên
diện rộng, những đồi trọc, những vùng đất trống, những trảng bạt ngàn ở Bình
Phước, Bình Dương, Bình Thuận, Ninh Thuận, Phú Yên, Đồng Nai, Đắc Lắc,

quốc tế ISO, 7 DN đạt tiêu chuẩn HACCP. Trước đó, ngành chế biến điều của
Việt Nam chủ yếu là tách vỏ và vỏ lụa bằng tay nên năng suất thấp, một số doanh
nghiệp có máy tách hạt nhưng cũng có tỷ lệ hao hụt cao. Nhưng từ giữa năm
2008, được sự hỗ trợ của VINACAS, máy bóc và tách vỏ lụa đã được chế biến
thành công với tỷ lệ sạch đến 87% và tỷ lệ hạt vỡ chỉ chiếm 6-7%. Hiện ngành
điều Việt Nam đang dẫn đầu về kỹ thuật chế biến so với các đối thủ cạnh tranh
như Ấn Độ và Brazil. Tuy vậy, việc chế biến hạt điều là sự kết hợp giữa máy
móc và lao động chân tay, nhưng hiện ngành đang thiếu lao động làm việc
nghiêm trọng. Đại bộ phận các cơ sở sản xuất điều của chúng ta ở mức vừa và
nhỏ, nhận gia công cho các doanh nghiệp xuất khẩu với quy mô lớn. Nhiều
doanh nghiệp nhỏ đã mạnh dạn đầu tư cơ cấu lại sản xuất, nhiều doanh nghiệp đã
đầu tư ở vùng sâu, vùng xa để tận dụng lao động nông nhàn thế nhưng hiệu quả
đạt được chưa cao.
GVHD: 7 SVTH: NGUYỄN TUẤN KIỆT
Chuyên đề ngoại thương
1.3 Thị trường xuất khẩu hạt điều chủ yếu của Việt Nam.
Bảng 2: CƠ CẤU THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CHỦ YẾU VIỆT NAM
(2007-7/ 2009)
Nguồn: http://thongtinthuongmaivietnam.vn
Nhìn chung, năm 2007 – 7/ 2009 thì thị trường nhập khẩu hạt điều ta được
mở rộng, số lượng thị trường ngày càng tăng và Hoa Kỳ , Hà Lan , Trung Quốc
, Australia là thị trường chủ yếu của Việt Nam. Năm 2007, tiếp tục lần thứ hai
Việt Nam đứng số 1 thế giới về xuất khẩu hạt điều, đồng thời đạt mức cao kỷ
lục về số lượng cũng như trị giá, trong năm 2007, hạt điều của nước ta được
xuất khẩu sang 78 Quốc Gia, tăng 10 quốc gia so với năm 2006. Trong đó,
xuất khẩu hạt điều năm 2007 tới thị trường Mỹ , Trung Quốc có xu hướng tăng
và, Australia lại giảm và Mỹ vẫn là nhà tiêu thụ số một của nước ta khoảng 53
ngàn tấn chiếm 32,5% thị phần chiếm thị phần cao nhất và cao hơn Hà Lan
18.5% và cao hơn Trung Quốc 18.8% chứng tỏ sức tiêu thụ thị trường này rất
mạnh và là thị trường chủ lực của ta , thứ hai là Quốc 26.072 tấn chiếm 13,7%

Nguồn: http://thongtinthuongmaivietnam.vn
GVHD: 9 SVTH: NGUYỄN TUẤN KIỆT
Chuyên đề ngoại thương
Đến năm 2008, cả nước xuất khẩu được 167 nghìn tấn hạt điều các loại với
trị giá 920 triệu USD, trong năm 2008, hạt điều của nước ta được xuất khẩu sang
83 thị trường và vùng lãnh thổ, tăng 5 thị trường so với năm 2007. Mỹ tiếp tục là
thị trường nhập khẩu điều lớn nhất của nước ta. Ngoài ra, các thị trường chủ chốt
khác như: Trung Quốc, Hà Lan, Australia , Anh, Nga, Canada tăng nhẹ về lượng
. Tuy nhiên về thị phần lại giảm so với trước nguyên nhân do tăng số thị trường
tiêu thụ hạt điều chiếm thị phần cao nhất vẫn là Mỹ 27% giảm 5,5% so năm
2007, xếp thứ 2 là thị trường Hà Lan, năm 2008 chiếm thị phần 12,9% cao hơn
so với Trung Quốc 12,6% nhưng thị phần cả hai nước điều giảm so với 2007.
Bảng 3: THỊ TRƯỜNG CHỦ YẾU XUẤT KHẨU ĐIỀU 7 THÁNG ĐẦU
NĂM 2009
Số TT Thị
trường
7 tháng năm 2009 7 tháng năm 2008
Lượng
(tấn)
Trị giá
(USD)
Lượng
(tấn)
Trị giá
(USD)
Tổng cộng 95.093 431.710.73
2
89.668 493.948.206
1. Hoa Kỳ 30.260 137.279.028
22.316 91.911.508

Cơ cấu kinh tế: Dịch vụ chiếm khoảng 80%, công nghiệp 18%, nông nghiệp
2%.
Một câu nói cách ngôn của các nhà kinh tế học là: “Khi nước Mỹ hắt xì hơi,
thì cả thế giới đều bị cảm lạnh”.
• Xếp thứ nhất về sản lượng kinh tế, còn gọi là tổng sản phẩm quốc nội
(GDP), đạt 13,13 nghìn tỷ đô-la Mỹ trong năm 2006. Với ít hơn 5% dân
số thế giới, khoảng 302 triệu người, nước Mỹ chiếm 20 đến 30% tổng
GDP của toàn thế giới. Riêng GDP của một bang – bang California - đạt
1,5 nghìn tỷ trong năm 2006, đã vượt quá GDP của tất cả các nước, chỉ trừ
8 nước, vào năm đó.
• Đứng đầu về tổng kim ngạch nhập khẩu, khoảng 2,2 nghìn tỷ đô-la Mỹ,
gấp 3 kim ngạch nhập khẩu của nước đứng thứ hai là Đức.
• Việt Nam và Hoa Kỳ thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 12/7/1995, trao
đổi Đại sứ đầu tiên vào tháng 7/1997, mở Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ tại
Thành phố Hồ Chí Minh và Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại San
Francisco vào tháng 11/1997. Năm 2000, Hiệp định Thương mại song
GVHD: 11 SVTH: NGUYỄN TUẤN KIỆT
Chuyên đề ngoại thương
phương Việt Nam- Hoa Kỳ được ký kết, hàng hóa Việt Nam bắt đầu có
mặt nhiều ở thị trường Hoa Kỳ và hạt điều Việt Nam được người Mỹ ưa
chuộng rất nhiều. Năm 2006 – 2008 Mỹ là thị trường tiêu thu hạt điều lớn
nhất cửa nước ta.
2.2 Thực trạng xuất khẩu hạt điều sang Mỹ (năm 2007 đến 7/ 2009)
Như chúng ta đã biết, Việt Nam là nước xuất khẩu nhân điều lớn nhất thế
giới và hiện là nước cung cấp hạt điều lớn nhất sang thị trường Hoa Kỳ (một thị
trường nhập khẩu lớn nhất thế giới). Theo thống kê của ngành nông nghiệp, tốc
độ tăng trưởng trong xuất khẩu hạt điều Việt Nam sang Mỹ đã đạt 25,12% so với
năm 2007 với kim ngạch đạt 249,57 triệu USD. Với những thành tích trên, hạt
điều trở thành mặt hàng đứng thứ 3 trong các mặt hàng Nông Lâm Thủy sản có
kim ngạch xuất khẩu lớn nhất sang Hoa Kỳ năm 2008. Và đồng thời với tốc độ

ngạch so với tháng 11/2007 nhưng lại tăng 46% về lượng, 74% về kim ngạch so
với tháng 12/2006, hạt điều VN nổi tiếng thế giới về hương vị thơm ngon, màu
sắc tự nhiên, không nhiễm dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Bởi vậy, giá xuất
khẩu hạt điều của VN cũng khá cao (4.300USD/Mt, tăng 7% so năm 2006).
.
Biểu đồ 4: KIM NGẠCH XUẤT KHẨU HẠT ĐIỀU SANG HOA KỲ TRONG
NĂM 2008 (TRIỆU USD)
GVHD: 13 SVTH: NGUYỄN TUẤN KIỆT
Chuyên đề ngoại thương
Nguồn: AGROdata
Năm 2008, Việt Nam đã vượt qua Ấn Độ trở thành nước cung cấp điều lớn
nhất sang thị trường Hoa Kỳ nói riêng và thế giới nói chung. Xuất khẩu hạt điều
của Việt Nam vào Hoa Kỳ chiếm 33,29% tổng kim ngạch nhập khẩu hạt điều của
quốc gia này. Theo thống kê, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu điều của Việt Nam
sang Hoa Kỳ năm 2008 đạt 25,12% với kim ngạch 249,57 triệu USD chiếm 27%
thị phần giảm đi 5,5%. Nhìn chung xuất khẩu hạt điều sang Mỹ có sự tăng
trưởng không đồng đều , tháng 2 là tháng có trị giá xuất khẩu thấp nhất 6,5 triệu
USD. Tuy nhiên từ tháng 2 đến tháng 7 có sự tăng đột biến cao nhất là tháng 7 trị
giá là 37,08 triệu USD, nguyên nhân của tăng trưởng đột biến do cả giá và nhu
cầu nhập khẩu hạt điều của Hoa Kỳ từ Việt Nam tăng nhanh trong 7 tháng đầu
năm, giá điều nhập khẩu vào Hoa Kỳ tăng 32,74% và nhu cầu nhập khẩu tăng
14,1% so với cùng kỳ năm 2007. Với kim ngạch xuất khẩu đạt gần 250 triệu
USD hạt điều trở thành mặt hàng đứng thứ 3 trong các mặt hàng Nông Lâm
Thủy sản có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất sang Hoa Kỳ năm 2008. Và đồng thời
với tốc độ tăng trưởng khá tốt (25,12%), hạt điều cũng lọt vào top 15 các mặt
hàng có tăng trưởng nhập khẩu sang Hoa Kỳ lớn nhất năm 2008. Tuy nhiên, tốc
GVHD: 14 SVTH: NGUYỄN TUẤN KIỆT
Chuyên đề ngoại thương
độ tăng trưởng xuất khẩu điều sang thị trường này đã bắt đầu có dấu hiệu suy
giảm dần vào những tháng cuối năm 2008.

Thiếu nguyên liệu: Sụt giảm diện tích sản xuất là do giá vật tư nông nghiệp
những năm gần đây tăng cao trong khi giá mua hạt điều lại giảm xuống khá
thấp làm cho nhiều hộ trồng điều bị lỗ nặng. Một nguyên nhân nữa là năm nay
thời tiết lạnh hơn kèm theo nhiều sương muối làm cho cây điều khó ra hoa kết
trái, sâu bệnh nhiều, ảnh hưởng lớn đến năng suất làm giảm sản lượng ảnh
hưởng nguồn nguyên liệu đầu vào các danh nghiệp. Hiện nay, ngành điều đang
nhập khẩu 1/3 nguyên liệu nhưng rất khó có thể bù đắp nguồn nguyên liệu bằng
cách nhập khẩu điều thô, do năm nay không chỉ Việt Nam mà các nước trồng
điều trên thế giới đều mất mùa, sản lượng chỉ bằng 50-60% so với những vụ
trước, thêm vào phải chịu lãi suất ngân hàng và tính bấp bênh của giá cả
thị trường. Trước tình hình thiếu nguyên liệu trầm trọng, để đảm bảo xuất khẩu,
ngành điều phải nhập khẩu hạt điệu từ nhiều nguồn. Theo Vinacas, mỗi năm
chúng ta phải nhập khẩu bình quân trên dưới 100 triệu USD hạt điều thô để
phục vụ chế biến hạt điều xuất khẩu. Tình trạng nhập khẩu quá nhiều khiến
người trồng điều bị thiệt mà doanh nghiệp cũng chẳng sung sướng gì hơn vì giá
hạt điều thô nhập khẩu cũng đang tăng cao, đẩy chi phí sản xuất lên cao hơn.
Ngành điều còn thiếu sự liên kết 4 nhà: nông, khoa học, quản lý và doanh
nghiệp.
Chất lượng hạt điều kém: Hoa Kỳ là đất nước đa chủng tộc vì thế trong tiêu
dùng thị trường này rất khó tính, thêm vào đó đây là quốc gia tập hợp lực lượng
sành điệu nhất thế giới nên trong việc tiêu dùng hàng ngày họ càng chú trọng
chất lượng hàng hóa hơn.Vì thế ta phải chú trọng nâng cao chất lượng hạt điều.
Tuy nhiên, đến thời điểm này, ước tính cả nước có trên 200 doanh chế biến hạt
điều, nhưng mới chỉ có 20 doanh đạt ISO 9001:2000 và HACCP. Chề biến hạt
điều còn manh mún, thiết bị thô sơ, công tác chế biến của Việt Nam vẫn còn
nặng về làm thủ công, hai công đoạn khó khăn nhất là cắt vỏ cứng và bóc vỏ lụa
nặng nề và tốn nhiều nhân công nhất nhưng đến giờ vẫn chưa nhập công nghệ để
cải tiến. Khâu thu mua hạt điều chưa được điều hành quản lý tốt. Tình trạng gian
dối như đem ngâm nước hạt điều để tăng trọng, hái điều non, trộn tạp chất, ngâm
nước vẫn còn phổ biến. Quy trình chăm sóc không đúng quy trình kỹ thuật nên

nợ. Doanh nghiệp chế biến điều còn tìm cách dùng keo 502 để… dán hạt điều vỡ. Lô hàng đưa
ra nước ngoài, bị nhà nhập khẩu từ chối nhận hàng, hàng bỏ tại cảng, mất mát, hao hụt
Những thiệt hại vật chất do cách làm ăn mất uy tín một số danh nghiệp ảnh hưởng uy tín cả
ngành xuất khẩu điều của ta nếu còn diễn ra tình trạng đó, chắc chắn không chỉ Hoa Kỳ mà còn
nhiều quốc gia khác sẽ dần giảm nhập khẩu điều từ Việt Nam để chọn các nhà cung cấp uy tín
hơn.
GVHD: 18 SVTH: NGUYỄN TUẤN KIỆT
Chuyên đề ngoại thương
Thêm vào đó, nguyên nhân khách quan khiến ngành hạt điều gặp khó là do kinh tế Hoa Kỳ
khủng hoảng dẫn tới giảm trong nhu cầu tiêu dùng hạt điều của người dân Hoa Kỳ, giá hàng
hóa thế giới nói chung giảm làm giảm kim ngạch xuất khẩu trong bối cảnh tiêu dùng cũng giảm,
hạt điều chỉ là loại thực phẩm dùng để “ăn chơi”. Người dân sẵn sàng cắt bớt nhu cầu tiêu
dùng mặt hàng này khi cần thắt chặt chi tiêu.
2.4 Cơ hội và thách thức của ngành xuất khẩu hạt điều Việt Nam trong
thời gian tới
2.4.1 Cơ hội của ngành xuất khẩu hạt điều Việt Nam
Với lợi thế là nước xuất khẩu điều đứng đầu thế giới, hạt điều Việt Nam đã
có tiếng vang và chiếm lĩnh được phần lớn thị trường Hoa Kỳ. Thế nên, các
doanh nghiệp xuất khẩu hạt điều của chúng ta đã có đà để phát triển. Bên cạnh
đó, nền kinh tế thế giới năm 2009 đang có dấu hiệu khôi phục trở lại, các doanh
nghiệp Việt Nam phải biết nắm lấy thời cơ, giữ vững thị phần ở thị trường này và
tăng cường quản bá sản phẩm của ngành.
Theo ý kiến nhận định của một số chuyên gia thì nguyên liệu điều của Việt
Nam rất tốt, thổ nhưỡng đất đai phù hợp để cây điều phát triển tốt, cho năng suất
và chất lượng cao. Thậm chí đã có một số khách hàng trên thế giới yêu cầu hàng
điều xuất phải ghi rõ xuất xứ từ Việt Nam. Hơn nữa, hiện nay Việt Nam đã có
những nhà máy lớn đáp ứng đủ tiêu chuẩn ISO để cạnh tranh được với nước
ngoài. Thị phần xuất khẩu của những nhà máy này chiếm 25% trên tổng thị phần
xuất khẩu điều của cả nước. Những yếu tố này đã tạo ra áp lực đủ lớn để các
nước xuất khẩu khác như Ấn Độ và Brazil phải quan tâm và đồng ý về nguyên

khẩu loại nông sản đặc biệt này. Chỉ một sợi tóc, tạp chất, hay mẫu sơn lẫn vào
sản phẩm; lập tức, cả lô hàng sẽ bị trả lại ngay. Rồi phải bồi thường, tốn kém chi
phí vận chuyển, lưu kho, tiền phạt… .
3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỂ GIỮ VỮNG VỊ TRÍ NGÀNH NÀY
Ở THỊ TRƯỜNG HOA KỲ
3.1 Giải pháp nâng cao sản lượng cây điều
Nâng cao năng suất : chọn ra những giống tốt nhất phù hợp với từng vùng
trồng và phải thay thế cây trồng hạt bằng cây ghép. Tăng đầu tư thâm canh, mở
rộng diện tích những nơi có điều kiện, thay thế giống điều cũ bằng các giống mới
cao sản và chất lượng cao nhằm đáp ứng đủ nguyên liệu cho nghành chế biến
trong nước.
Chuyển đổi mạnh từ trồng trọt và chế biến phân tán, quy mô nhỏ sang sản xuất
hàng hóa theo hướng công nghiệp và bán công nghiệp trên cơ sở quy hoạch vùng
sản xuất tập trung. Phát triển ngành điều gắn kết chặt chẽ, đồng bộ từ khâu sản
xuất- thu mua- chế biến- bảo quản- tiêu thụ, đồng thời ứng dụng nhanh các tiến
GVHD: 20 SVTH: NGUYỄN TUẤN KIỆT
Chuyên đề ngoại thương
bộ khoa học kỹ thuật về giống, kỹ thuật canh tác, quy trình công nghệ để nâng
cao năng suất, chất lượng sản phẩm.
Liên kết chặt chẽ giữa nhà khoa học và người dân trồng điều. Các trung tâm
khuyến nông thường xuyên tiếp xúc trức tiếp người nông dân để truyền đạt
hướng dẫn,áp dụng những kĩ thuật tiên tiến trong sản xuất, xây dựng quy trình
trồng, chăm sóc theo hướng thâm canh phù hợp điều kiện thời tiết, đất đai, tập
quán canh tác của các vùng miền và xây dựng mô hình trình diễn để chuyển giao
kỹ thuật cho nông dân.
Đối với diện tích điều trên đất rừng sản xuất thì thực hiện theo chế độ khoán,
cho thuê đất nông nghiệp và rừng theo chủ trương của Chính phủ để người nhận
khoán có điều kiện đầu tư thâm canh. Đối với diện tích điều trồng trên đất rừng
phòng hộ thì tiếp tục khoán cho các hộ bảo vệ và hỗ trợ đầu tư thâm canh tăng
năng suất, cũng như tăng khả năng phòng hộ của rừng trồng.

nghiên cứu khoa học về cây điều, các chương trình khuyến nông, khuyến công
phát triển ngành điều…
Khoa học công nghệ: Nhà nước hỗ trợ khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ, khu
vực tiểu thủ công nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng, giá trị gia
tăng, sức cạnh tranh của sản phẩm, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và mở
rộng xuất khẩu. Tăng cường giao lưu hợp tác quốc tế học hỏi thành tựu khoa học
của nước bạn Xây dựng và phát triển có trọng điểm một số ngành công nghiệp
công nghệ cao; phát triển công nghiệp công nghệ thông tin - truyền thông, công
nghiệp công nghệ sinh học trở thành các ngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng
nhanh, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu trong nước, góp phần tăng kim ngạch
xuất khẩu của ngành.
Thương hiệu và uy tín: Cần đẩy mạnh xúc tiến quảng cáo,nâng cao chất lượng
sản phẩm,chú ý đến việc tạo thương hiệu riêng, mới hơn cho ngành điều Việt
Nam, phải giữ uy tín trong giao hàng. Luôn đề cao chữ tín với khách hàng. Khi
đã ký hợp đồng giao hàng, dù giá cả có thay đổi như thế nào, công ty vẫn tuân
thủ giá hợp đồng đã ký từ ban đầu. Giảm dần các cơ sở chế biến nhỏ bằng cách
lập các công ty, tập đoàn có tiềm lực tài chính mạnh, trình độ công nghệ cao,
thương hiệu mạnh để tham gia thị trường thế giới. Căn cứ nhu cầu thị trường, các
nhà máy nên đầu tư phát triển chế biến sâu, đa dạng hóa sản phẩm, tạo nên sự
phát triển bền vững. Phấn đấu đến 2010 có khoảng 20% nhân điều được chế biến
ra các sản phẩm ăn trực tiếp (nhân điều rang muối, chiên bơ, bánh kẹo nhân
GVHD: 22 SVTH: NGUYỄN TUẤN KIỆT
Chuyên đề ngoại thương
điều…), sản xuất các sản phẩm chế biến từ quả điều (rượu, nước giải khát…),
dầu điều cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu.
Các doanh nghiệp hạt điều Việt Nam cần có những cán bộ am hiểu về luật
pháp Hoa Kỳ để tránh những tranh chấp thương mại trong quá trình xuất khẩu.
Đồng thời, tiến hành tốt công tác dự báo thị trường trong tương lai.

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

• Chính Phủ không ngừng điều tiết nền kinh tế, không được chủ quan với sự
biến động của thế giới vì ảnh hưởng lớn đến xuất khẩu của Việt Nam cũng
như xuất khẩu hạt điều.
GVHD: 24 SVTH: NGUYỄN TUẤN KIỆT
Chuyên đề ngoại thương
• Trong xuất khẩu phải quan tâm nhu cầu thị hiếu của khách hàng làm cho
họ ngày càng hài lòng với những sản phẩm điều của Việt Nam, để họ biết
rằng hạt điều của Việt Nam là một sản phẩm không thể thiếu trong bữa ăn
hàng ngày.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hồ Sĩ Hưng, Nguyễn Việt Hưng (2003). Cẩm nang xâm nhập thị trường
Mỹ/ Hà Nội: NXB Thống kê.
GVHD: 25 SVTH: NGUYỄN TUẤN KIỆT


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status