Đồ án tốt nghiệp
APEC - Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á
Thái Bình Dương
1
Mục lục
LỜI MỞ ĐẦU 3
B.NỘI DUNG 4
I. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN 4
II) TÔN CHỈ HOẠT ĐỘNG 12
III. CƠ CẤU TỔ CHỨC 14
IV. QUÁ TRÌNH RA NHẬP APEC VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM 26
V. VIỆT NAM – APEC CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG DOANH
NGHIỆP 34
2
APEC - DIỄN ĐÀN HỢP TÁC KINH TẾ
CHÂU Á THÁI BÌNH DƯƠNG
LỜI MỞ ĐẦU
Cho tới nay, Việt Nam đã là thành viên chính thức của Diễn đàn Hợp tác
Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) được 12 năm. Trong những năm qua,
Việt Nam đã chủ động, tích cực tham gia các chương trình hợp tác thương mại,
đầu tư trong APEC, mở rộng quan hệ với từng thành viên. Năm 2006, Việt Nam
trở thành nước chủ nhà của APEC với việc tổ chức trên 100 Hội nghị, hội thảo từ
cấp chuyên viên đến cấp Bộ trưởng để chuẩn bị cho Hội nghị các nhà Lãnh đạo
Kinh tế APEC được tổ chức vào tháng 11/2006.
Để có thể chủ động hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng theo đường lối của.Đảng
và Nhà nước, đồng thời giúp các doanh nghiệp khai thác các cơ hội kinh
doanh từ việc đăng cai tổ chức APEC 2006, chúng ta đã và đang từng bước khẳng
định vị thế của mình trên trường quốc tế nói chung và trên diễn đàn nói riêng.
Để thấy được tầm quan trọng và ảnh hưỏng của APEC tới các nền kinh tế của
thế giới và đặc biệt là các nền kinh tế thành viên trong diễn đàn ta lần lượt đi tìm hiểu
sơ bộ về cơ cấu tổ chức cũng như hoạt động của diễn đàn.
trong khu vực cũng như thúc đẩy ý tưởng thành lập APEC.
- Vào cuối những năm 1980, một số quan chức chính phủ Nhật Bản, đặc biệt Bộ
trưởng Bộ Thương mại và Công nghiệp (MITI) lúc đó là Hajime Tamura, đã gợi ý
4
thành lập một diễn đàn hợp tác có tính chất kỹ thuật về các vấn đề kinh tế khu vực.
Mỹ lúc đầu tỏ ra ít quan tâm đến gợi ý này vì đang tập trung thúc đẩy tiến triển của
vòng đàm phán U-ru-goay của GATT và hình thành Khu vực Mậu dịch Tự do Bắc
Mỹ (NAFTA), trong khi chính phủ Công Đảng của Thủ tướng Bob Hawke ở Ôt-
xtrây-lia lúc đó đã nhận thức được tầm quan trọng thiết yếu của mối quan hệ kinh tế,
thương mại với châu Á đối với Ôt-xtrây-lia nên đã kịp thời nắm bắt và thúc đẩy ý
tưởng về một diễn đàn hợp tác kinh tế.
- Tháng 1 năm 1989, tại Xê-un, Hàn Quốc, Thủ tướng Bob Hawke đã nêu ý
tưởng về việc thành lập một Diễn đàn tư vấn kinh tế cấp Bộ trưởng ở châu Á - Thái
Bình Dương với mục đích phối hợp hoạt đjộng của các chính phủ nhằm đẩy mạnh
phát triển kinh tế ở khu vực và hỗ trợ hệ thống thương mại đa phương. Australia, Nhật
Bản, Malaysia, Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines, Singapore, Brunei, New Zealand,
Indonesia, Canada và Mỹ đã ủng hộ sáng kiến này. Tháng 11 năm 1989, các Bộ
trưởng Ngoại giao và Kinh tế của các nước nói trên đã họp tại Can-bê-ra, Ôt-xtrây-lia
quyết định chính thức thành lập APEC.
- Sau đó, APEC kết nạp thêm Trung Quốc, Hồng Công và Đài Loan (với tên gọi
theo tiếng Anh là Chinese Taipei) vào tháng 11 năm 1991; Mexico, Papua New Ghine
tháng 11 năm 1993; Chile tháng 11 năm 1994 và tạm ngừng thời hạn xét kết nạp
thành viên trong ba năm. Đến tháng 11 năm 1998, APEC kết nạp thêm ba thành viên
mới là Peru, Liên bang Nga và Việt Nam, đồng thời quyết định tạm ngừng thời hạn
xem xét kết nạp thành viên mới trong mười năm để củng cố tổ chức.
- Đến nay APEC đã có 21 nước thành viên, bao gồm cả hai khu vực kinh tế
mạnh và năng động nhất thế giới: khu vực Đông Á và khu vực Bắc Mỹ (gồm Mỹ, Ca-
na-đa và Mê-hi-cô) với những nét đặc thù và vô cùng đa dạng về chính trị, xã hội,
kinh tế và văn hóa. Chỉ trong mười năm đầu tồn tại và phát triển, các nền kinh tế
thành viên APEC đã đóng góp gần 70% cho sự tăng trưởng chung của nền kinh tế
Hàn Quốc Seoul
4.
10–11 tháng 9
năm 1992
Thái Lan Bangkok
5.
19–20 tháng 11
năm 1993
Hoa Kỳ Seattle
6.
15 tháng 11 năm
1994
Indonesia Bogor
7.
19 tháng 11 năm
1995
Nhật Bản Osaka
8.
25 tháng 11 năm
1996
Philippines
Manila /
Subic
9.
24–25 tháng 11
năm 1997
Canada Vancouver
10.
17–18 tháng 11
năm 1998
17.
18–19 tháng 11
năm 2005
Hàn Quốc Busan />18.
18-19 tháng 11
năm 2006
Việt Nam Hà Nội
19.
Tháng 11 năm
2007
Úc Sydney />20.
Tháng 11 năm
2008
Peru Lima />21.
Tháng 11 năm
2009
Singapore Singapore />22.
Tháng 11 năm
2010
Nhật Bản Yokohama
23. 2011 Hoa Kỳ Honolulu
24. 2012 Nga
Đảo
Russky
3.2 Đặc điểm của các nền kinh tế thành viên khi gia nhập
1. Australia
- Tốc độ tăng GDP nhỉnh hơn một chút so với Mỹ, Đức, Pháp. Xếp hạng 3 trên
thế giới về tốc độ phát triển con người năm 2007, tài khoản hiện tại âm hơn 7% GDP.
Phát triển ở mức trung bình 3.6% mỗi năm cho hơn 15 năm. Trong thập kỷ vừa qua,
nước có nền kinh tế công nghiệp, tài chính, thương mại, dịch vụ, khoa học kỹ thuật
lớn đứng thứ hai trên thế giới (chỉ sau Mỹ). Nhưng trong những năm 1997-1998, Nhật
Bản lại gặp khó khăn lớn, tập trung vào các bê bối trong hệ thống ngân hàng và thị
trường địa ốc.
- Khu vực các doanh nghiệp bị ảnh hưởng nghiêm trọng hơn do tính cứng nhắc
trong cơ cấu công ty và thị trường lao động. Sau đó, Nhật Bản xúc tiến 6 chương trình
cải cách lớn; trong đó có cải cách cơ cấu kinh tế, giảm thâm hụt ngân sách, cải cách
khu vực tài chính và sắp xếp lại cơ cấu Chính phủ Dù diễn ra chậm, nhưng cải cách
đang đi dần vào quỹ đạo, trở thành xu thế không thể đảo ngược ở Nhật Bản và gần
đây đã đem lại kết quả đáng khích lệ.
8
- Cán cân thương mại dư thừa và dự trữ ngoại tệ hiện đứng hàng đầu thế giới,
nên nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài rất nhiều. Nhật Bản là nước có nhiều tập đoàn tài
chính, ngân hàng đứng hàng đầu thế giới. Mặc dù vậy, Nhật Bản có 2 vấn đề dài hạn
chính cần được giải quyết sớm là mật độ dân cư quá cao và xu thế lão hoá của dân cư
đang tăng lên.
5. Hàn Quốc
- Bắt đầu từ thập niên 60 của thế kỷ XX, kinh tế Hàn Quốc bắt đầu phát triển với
tốc độ nhanh, đến giữa thập niên 80 đã trở thành nước công nghiệp phát triển mới
(NICS). Đặc điểm của nền kinh tế Hàn Quốc là một nền kinh tế thị trường nhưng sự
điều tiết của Nhà nước đóng vai trò quan trọng.
- Tháng 2-2003, Tổng thống Rô Mu Hiên công bố chính sách và mục tiêu kinh tế
mới: về lâu dài, xây dựng ổn định và thịnh vượng trên bán đảo Triều Tiên; biến Hàn
Quốc thành một trung tâm kinh doanh của khu vực Đông Bắc Á; đổi mới quản lý
chính phủ; tăng quyền lực cho chính quyền địa phương; cân bằng sự phát triển giữa
các khu vực địa lý, xây dựng hệ thống phúc lợi tập thể với việc giảm bớt khoảng cách
giàu nghèo; cải cách chế độ lao động; cải cách khu vực nông nghiệp - thủy hải sản;
lấy khoa học và kỹ thuật là trọng tâm; xây dựng thủ đô hành chính mới.
6. Philippines
- Philippines là một nền kinh tế kết hợp giữa nông nghiệp, công nghiệp nhẹ và
hết thuộc khu vực năng lượng từng mang lại gần một nửa lợi nhuận về thuế và giá trị
xuất khẩu. Quá trình tái quốc hữu hóa nền kinh tế Nga tuy có gây tâm lý lo ngại cho
một số người; nhưng cho tới nay vẫn không gây ra tác động tiêu cực nào đối với tăng
trưởng kinh tế Nga cũng như việc các nhà đầu tư phương Tây đang quay trở lại đầu tư
vào Nga.
- Chính phủ LB Nga thông qua Chương trình phát triển kinh tế - xã hội trung
hạn 2006-2008, hướng mạnh vào 4 trọng điểm ưu tiên trong các lĩnh vực y tế, giáo
dục, nhà ở và phát triển nông thôn với tổng số vốn đầu tư của Nhà nước 160 tỷ Rúp,
cùng với những giải pháp tăng thu nhập cho người lao động. Sức mua của người dân
tăng, thị trường tiêu dùng sôi động và các nhà phân tích kinh tế đã nói đến sự bùng nổ
tiêu dùng ở Nga.
8. Singapore
10
- Singapore có nền kinh tế thị trường tự do, Chính phủ nắm vai trò chủ đạo. Là
một trong những nền kinh tế thịnh vượng nhất thế giới, Xingapo trở thành đầu mối
giao lưu thương mại quốc tế quan trọng (cảng biển Singapore là một trong những
cảng biển trọng tải lớn tấp nập nhất thế giới). Sau giai đoạn chịu ảnh hưởng nặng nề
của suy thoái kinh tế toàn cầu từ năm 2001-2003, GDP thực tế năm 2004 của
Singapore tăng mức kỷ lục 8%. Chính phủ đang cố gắng hướng đến việc xây dựng
một nền kinh tế ít bị tác động bởi những biến động bên ngoài và trở thành trung tâm
tài chính và công nghệ cao của Đông Nam Á.
9. Thái Lan
- Thái Lan là một nước nông nghiệp truyền thống. Bắt đầu từ năm 1960, Thái
Lan thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội lần thứ nhất và đến nay là kế hoạch
lần thứ chín. Những năm 1970, nước này thực hiện chính sách 'hướng xuất khẩu':
ASEAN, Mỹ, Nhật, Châu Âu là thị trường xuất khẩu chính của Thái Lan. Ngành công
nghiệp và dịch vụ đã dần dần đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế và vai trò của
nông nghiệp giảm dần.
- Từ 1988 đến năm 1995, kinh tế Thái Lan đạt tốc độ tăng trưởng cao từ 8% đến
10%. Nhưng đến năm 1996 tăng trưởng kinh tế giảm xuống còn 5,9% và sau đó là
tỷ trọng nông nghiệp năm 1998 chiếm 43,6%, đến năm 2005 còn 20,5%; tỷ trọng dịch
vụ năm 1998 chiếm 33,1%, đến năm 2005 tăng lên 38,5%. Các thành phần kinh tế
cùng phát triển. Hiện nay, kinh tế Nhà nước đóng góp 8% GDP; kinh tế tư nhân chiếm
37,7% GDP; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 15% GDP. Rất nhiều khu công
nghiệp mới, đô thị mới mọc lên. Hạ tầng cơ sở phát triển mạnh; bộ mặt nông thôn và
đô thị thay đổi hàng ngày, hàng giờ. Hàng hóa phong phú, thị trường nhộn nhịp.
II) TÔN CHỈ HOẠT ĐỘNG
- Các thành viên APEC thuộc nhiều khu vực và trình độ phát triển kinh tế khác
nhau. Việc các quốc gia này cùng hợp tác nhằm duy trì và phát triển kinh tế đã phản
ánh xu hướng cùng tiến tới một mục tiêu chung, bất chấp những khác biệt về kinh tế,
chính trị và điạ lý. Trong tuyên bố Seoul 1991, các thành viên đã nhất trí về các mục
tiêu cụ thể cuả APEC, bao gồm:
- Thứ nhất, thúc đẩy sự tự do hóa thương mại và đầu tư giữa các nước thành viên
thuộc APEC bằng cách các nước sẽ tự nguyện đưa ra chương trình cắt giảm thuế quan và
12
các biện pháp phi thuế, lịch trình cắt giảm muộn nhất là năm 2010 đối với nước công
nghiệp phát triển, năm 2020 đối với các nước chậm và đang phát triển.
- Thứ hai, tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại và đầu tư phát triển. Các nước
thành viên thuộc APEC thực hiện cuộc cải cách hành chính theo những tiêu chuẩn
chung nhằm thống nhất và công khai thủ tục xuất nhập khẩu, đơn giản hóa thủ tục đầu
tư, thủ tục hải quan tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại và đầu tư phát
triển.
- Thứ ba, đẩy mạnh hợp tác kinh tế và kỹ thuật trên 15 lĩnh vực: Phát triển nguồn
nhân lực; Khoa học kỹ thuật ứng dụng trong công nghiệp; Hỗ trợ phát triển doanh
nghiệp vừa và nhỏ; Hỗ trợ đầu tư để phát triển hạ tầng cơ sở về kinh tế, năng lượng;
Vận tải viễn thông và thông tin; Phát triển du lịch; Tạo cơ sở dữ liệu thông tin cho
hoạt động đầu tư và thương mại; Hợp tác nghiên cứu năng lượng mới; Hợp tác bảo
tồn nguồn tài nguyên biển, thúc đẩy nghề cá và kỹ thuật nông nghiệp
Hoạt động của APEC dựa trên 9 nguyên tắc sau:
+ Toàn diện: Tiến trình tự do hoá và thuận lợi hoá trong APEC sẽ được triển khai
"Cuộc họp của chúng ta phản ánh sự nổi lên của một tiếng nói mới cho khu vực châu
Á - Thái Bình Dương trong các vấn đề quốc tế".
- Để tăng cường hơn nữa cam kết ở cấp Lãnh đạo cao nhất của các thành viên
đối với các mục tiêu và tiến trình của APEC, kể từ năm 1993, các thành viên APEC
đã nhất trí tổ chức Hội nghị các nhà Lãnh đạo Kinh tế APEC mỗi năm một lần vào dịp
cuối năm, năm 2003 là Hội nghị lần thứ 11 được tổ chức tại Băng-cốc, Thái Lan vào
tháng 10. Việc lập ra cơ chế Hội nghị Cấp cao thường niên với tư cách là cơ quan
quyết định chính sách cao nhất của APEC đánh dấu một bước tiến quan trọng trong sự
phát triển của APEC.
b. Hội nghị liên Bộ trưởng Ngoại giao - Kinh tế APEC
- Hội nghị Bộ trưởng APEC họp lần đầu tiên tại Can-bê-ra, Ôt-xtrây-lia tháng 11
năm 1989 với sự tham gia của các Bộ trưởng Ngoại giao và Bộ trưởng Kinh tế của 12
nền kinh tế thành viên. Hội nghị Bộ trưởng được tổ chức hàng năm theo nguyên tắc
luân phiên giữa các nước thành viên APEC. Thành viên đăng cai tổ chức Hội nghị Bộ
trưởng hàng năm sẽ giữ ghế Chủ tịch Hội nghị.
14
- Hội nghị Bộ trưởng APEC quyết định phương hướng hoạt động của APEC và
ấn định thời gian thực hiện chương trình hành động cho năm sau. Các quyết định của
Hội nghị được thể hiện trong Tuyên bố chung, bao gồm:
- Quyết định về các vấn đề tổ chức: xác định mục tiêu, nguyên tắc hoạt động của
APEC; thành lập các uỷ ban, hội đồng ; thành lập quỹ APEC và qui định tỷ lệ đóng
góp của các thành viên; vấn đề kết nạp thành viên mới.
Quyết định nguyên tắc, mục tiêu, nội dung các chương trình hoạt động và
đánh giá tiến trình hợp tác của APEC cũng như công tác của các Uỷ ban, các Nhóm
công tác và các Nhóm đặc trách.
Xem xét , đánh giá việc thực hiện các sáng kiến của Hội nghị Cấp cao Không
chính thức.
Thông qua dự thảo chương trình hành động về tự do hóa thương mại và đầu tư,
sau đó đệ trình lên Hội nghị Cấp cao xem xét và quyết định cuối cùng.
2. Cấp làm việc
mại và Đầu tư nhóm họp ba lần và đây đã thực sự trở thành một diễn đàn hiệu quả đối
với các nền kinh tế thành viên để trao đổi các vấn đề về thương mại và chính sách.
c. Uỷ ban SOM về Hợp tác Kinh tế-Kỹ thuật
- Tiểu ban SOM về Hợp tác Kinh tế-Kỹ thuật (ESC) được thành lập năm 1998
nhằm hỗ trợ Hội nghị Quan chức Cao cấp (SOM) trong việc phối hợp và quản lý các
hoạt động hợp tác kinh tế-kỹ thuật (ECOTECH) và triển khai các sáng kiến hợp tác
trong lĩnh vực này của các nền kinh tế thành viên APEC. Mới đầu đây chỉ là Tiểu ban
về ECOTECH, năm 2002 đổi tên thành Uỷ ban SOM về Hợp tác Kinh tế-Kỹ thuật
(ESC). Bằng việc thúc đẩy hợp tác và xác định những lĩnh vực ưu tiên trong khuôn
khổ hợp tác ECOTECH, Uỷ ban SOM về Hợp tác Kinh tế-Kỹ thuật cùng với các diễn
đàn khác trong APEC giữ vai trò quan trọng đối với việc thực hiện các mục tiêu tăng
trưởng kinh tế và phát triển bền vững của APEC.
- Tại Hội nghị các Quan chức Cao cấp tháng 2 năm 2003, các thành viên APEC
đã nhất trí thông qua bốn lĩnh vực ưu tiên của ECOTECH trong thời gian tới là: Hội
nhập vào nền kinh tế toàn cầu; Xây dựng năng lực chống khủng bố; Đẩy mạnh và
phát triển kinh tế tri thức và Giải quyết những tác động xấu của Toàn cầu hóa.
- Muốn thúc đẩy hợp tác trong khuôn khổ ECOTECH cần có sự hỗ trợ đắc lực
của các thể chế tài chính, bởi vậy Uỷ ban SOM về Hợp tác Kinh tế-Kỹ thuật đang tiến
hành nghiên cứu cách thức để APEC có thể tăng cường hợp tác cùng có lợi với các tổ
chức tài chính quốc tế cũng như các tổ chức quốc tế khác trong lĩnh vực Hợp tác Kinh
tế-Kỹ thuật, đặc biệt là hợp tác về chuyên gia kỹ thuật và xây dựng năng lực giữa các
thành viên APEC; đồng thời không ngừng tăng cường phối hợp giữa Uỷ ban SOM về
Hợp tác Kinh tế-Kỹ thuật với các diễn đàn khác của APEC.
d. Uỷ ban Kinh tế
- Uỷ ban Kinh tế (EC) được thành lập tại Hội nghị Bộ trưởng APEC lần thứ sáu
tháng 11 năm 1994 để thực hiện việc nghiên cứu các xu hướng và vấn đề kinh tế
16
thông qua các chỉ số kinh tế cơ bản. Uỷ ban Kinh tế là một diễn đàn thúc đẩy đối thoại
giữa các nền kinh tế thành viên về các vấn đề kinh tế, dự báo, xu hướng kinh tế trong
khu vực để tạo ra một khung cảnh rộng hơn cho sự hợp tác trong APEC. Hoạt động
trong APEC đang có bốn mức phí đóng góp: đứng đầu là Mỹ và Nhật Bản, đóng góp
tới 18% tổng ngân quỹ; tiếp đến là Xinh-ga-po, Hồng Công, Niu Di-lân đóng 2,75%;
17
xếp hàng thứ ba là Trung Quốc, Ôt-xtrây-lia, Ca-na-đa, Mê-hi-cô, Hàn Quốc, Đài
Loan, Liên bang Nga; đóng góp mức thấp nhất là Chi-lê, Ma-lai-xia, Thái Lan, Phi-
líp-pin, Bru-nây, In-đô-nê-xia, Pa-pua Niu Ghi-nê, Pê-ru, Việt Nam, mỗi thành viên
đóng góp 1,5% ngân quỹ. Cho đến nay, Quỹ chung của APEC gồm ba khoản chính:
(i) Chi phí hành chính cho hoạt động của APEC, cụ thể là chi phí cho hoạt động của
Ban Thư ký; (ii) Chi phí cho các dự án của APEC; (iii) Quỹ đặc biệt để thúc đẩy Tự
do hóa và Thuận lợi hóa Thương mại và Đầu tư trong APEC, quỹ này do Nhật Bản
đóng góp (năm 1995, Nhật Bản cam kết sẽ đóng góp 10 tỷ yên để hỗ trợ cho việc thúc
đẩy Tự do hóa và Thuận lợi hóa Thương mại và Đầu tư).
f. Các Nhóm công tác
- Các Nhóm công tác có chức năng thực hiện nhiệm vụ do các nhà Lãnh đạo, Bộ
trưởng và quan chức cao cấp giao cho. Cho tới nay trong APEC đã lập ra 11 Nhóm
công tác phụ trách các lĩnh vực sau: Hợp tác Kỹ thuật Nông nghiệp, Năng lượng,
Nghề cá, Phát triển Nguồn nhân lực, Khoa học và công nghệ, Bảo vệ tài nguyên biển,
Doanh nghiệp vừa và nhỏ, Thông tin và Viễn thông, Du lịch, Xúc tiến thương mại,
Vận tải. Phần lớn hoạt động của các Nhóm là khảo sát tiềm năng phát triển và thúc
đẩy sự tăng trưởng trong các lĩnh vực do từng Nhóm phụ trách. Thông qua các hoạt
động này, các thành viên APEC xây dựng những mối liên hệ thực sự giữa các đại diện
chính giới, giới doanh nghiệp và học giả.
- Hoạt động của các Uỷ ban chuyên đề, các Nhóm đặc trách của SOM và các
Nhóm công tác là nền tảng chủ yếu của diễn đàn APEC. Thực tế, đây là những diễn
đàn nhỏ để các thành viên thảo luận, tư vấn chính sách và hợp tác trên các lĩnh vực cụ
thể. Những nghiên cứu của các Nhóm đặc trách, các chương trình hợp tác do các
Nhóm công tác soạn thảo là cơ sở chủ yếu để Hội nghị Bộ trưởng đưa ra các quyết
định liên quan đến phương hướng hoạt động của APEC.
g. Các Nhóm đặc trách của SOM
- Bên cạnh các Nhóm công tác, Hội nghị Quan chức Cao cấp (SOM) đã lập ra
chính cho các hoạt động khủng bố; tăng cường an ninh mạng; sáng kiến an ninh năng
lượng; và bảo vệ sức khoẻ cộng đồng.
3. Ban thư ký APEC
- Hội nghị Bộ trưởng APEC lần thứ tư ở Băng Cốc năm 1992 nhận thấy cần
phải có một cơ chế giúp việc hiệu quả để hỗ trợ và phối hợp các hoạt động trong
APEC nhằm tăng cường vai trò và hiệu quả của APEC trong xúc tiến hợp tác kinh tế
khu vực, đã nhất trí thành lập Ban Thư ký APEC, đặt trụ sở tại Xinh-ga-po, và lập một
quỹ chung của APEC.
- Ban Thư ký APEC đứng đầu là một Giám đốc Điều hành, do nước giữ ghế
Chủ tịch APEC cử với thời hạn một năm. Một phó giám đốc điều hành do nước sẽ giữ
chức Chủ tịch APEC vào năm tiếp theo cử. Đây là các quan chức của Chính phủ
mang hàm Đại sứ. Ngoài ra, Ban Thư ký APEC hiện có khoảng 20 Giám đốc chương
19
trình do các nền kinh tế thành viên tiến cử, 25 nhân viên chuyên nghiệp (cũng được
biệt phái từ các nước thành viên) và các nhân viên phục vụ.
- Ban Thư ký làm việc dưới sự chỉ đạo của Hội nghị Quan chức cao cấp và có
quan hệ thông tin trực tiếp thường xuyên với các thành viên, các Uỷ ban, các Nhóm
công tác và các Nhóm đặc trách của APEC. Mới đây, Ban Thư ký APEC quyết định
nâng cấp trang Mạng (website) của mình nhằm giới thiệu về APEC, giúp cho việc tiếp
cận các thông tin về hoạt động của APEC được dễ dàng hơn.
- Ban Thư ký APEC giữ vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển của APEC,
có chức năng tư vấn, hỗ trợ kỹ thuật, phối hợp các hoạt động của APEC; điều hành
ngân sách hàng năm của APEC; cũng như quản lý thông tin và các dịch vụ thông tin
tuyên truyền. Từ năm 1993, do vấn đề tài chính và ngân sách trở nên phức tạp, chức
năng điều hành tài chính được chuyển giao cho Uỷ ban Ngân sách và Quản lý.
Ban Thư ký APEC đồng thời là cơ quan chủ chốt trong việc quản lý các dự án
của APEC. Hiện Ban Thư ký APEC đang hỗ trợ các nền kinh tế thành viên và các
diễn đàn trong khuôn khổ APEC quản lý hơn 230 dự án lấy kinh phí từ quỹ của APEC
4.Hội nghị thường niên
Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao không chính thức : 6–7 tháng 11năm 1989 tại,
kế hoạch hành động riêng (IAP).
Hội nghị APEC 4 : 25 tháng 11 năm 1996 tại Manila, Philippin.
APEC thông qua kế hoạch hành động Manila (Manila Action Plan - MAPA),
với các biện pháp tự do hoá và thuận lợi hoá thương mại và đầu tư nhằm đạt được các
mục tiêu Bogo và kế hoạch hành động cá nhân (IAP) và tập thể (CAP) được tập hợp
lại với các bước đi cụ thể và cách thức các nền kinh tế đạt được các mục tiêu về tự do
thương mại được đề ra tại Hội nghị Bogo.
Hội nghị APEC 5 : 24–25 tháng 11 năm 1997 tại Vancouver, Canada.
APEC xây dựng “Tầm nhìn thế kỉ XXI”, thông qua đề nghị về tự do hoá lĩnh
vực tự nguyện sớm (Early Voluntary Sedtoral Liberalization - EVSL) hơn 2 năm so
với mục tiêu Bogo trong 15 lĩnh vực và quyết định cập nhật hàng năm các Kế hoạch
hành động riêng của từng nền kinh tế thành viên.
Hội nghị APEC 6 : 17–18 tháng 11 năm 1998 tại Kuala Lumpur, Malaixia.
CÁc nền kinh tế APEC chỉ nhất trí được về 9 lĩnh vực đầu tiên trong 15 lĩnh
vực của kế hoạch EVSL và tìm kiếm thoả thuận với các nước không phải thành viên
APEC trong WTO về vấn đề này. Hội nghị kết nạp thêm ba thành viên mới là Peru,
Liên bang Nga và Việt Nam, đồng thời quyết định tạm ngừng thời hạn xem xét kết
nạp thành viên mới trong mười năm.
Hội nghị APEC 7 : 12–13 tháng 9 năm 1999 tại Auckland, New Zealand.
21
APEC cam kết giảm bớt các thủ tục giấy tờ trong hoạt động thương mại đối với
các nền kinh tế phát triển vào năm 2005 và các nền kinh tế đang phát triển vào năm
2010. APEC cũng thông qua kế hoạch thẻ thông hành dành cho doanh nhân (Business
Travel Card) và thoả thuận công nhận lẫn nhau về các thiết bị điện tử và Cơ cấu thúc
đẩy sự tham gia của phụ nữ trong APEC. Hội nghị tán thành vòng đàm phán mới của
WTO bắt đầu từ năm 2000 và kéo dài 3 năm, ủng hộ các thành viên APEC chưa phải
là thành viên của WTO sớm gia nhập tổ chức này.
Hội nghị APEC 8 : 15–16 tháng 11 năm 2000 tại Bandar Seri Begawan, Brunei.
APEC thiết lập kế hoạch hành động điện tử riêng (e-IAP), đưa ra các thông tin
về IAPs trên mạng và cam kết thực hiện kế hoạch hành động xây dựng Nền kinh tế
APEC cũng khẳng định sự cần thiết phải cải thiện tình hình an ninh trong khu vực
châu Á- Thái Bình Dương. Các thành viên APEC đã được sự nhất trí cao về các hành
động nhằm ngăn chặn các mối đe doạ khủng bố do hệ thống tên lử vác vai
(MANPADS), phối hợp tốt hơn các hoạt động chống khủng bố và thực hiện Kế hoạch
hành động của APEC về chống dịch SARS và sáng kiến về an ninh y tế.
Hội nghị APEC 12 : 20–21 tháng 11 năm 2004 tại Santiago de Chile, Chile.
Các nhà lãnh đạo kinh tế APEC đã thông qua chương trình nghị sự thực hiện
các cải cách mang tính cơ cấu (APEC Leaders’ Agenda to Implement Structural
Refom - LAISR), trong đó nêu ra những ưu tiên mà các nền kinh tế APEC cần đạt
được trong việc thúc đẩy các cải cách cơ cấu trong tương lai. Đồng thời các nhà lãnh
đạo kinh tế APEC đã đưa ra một tuyên bố mạnh mẽ để ủng hộ các tiến bộ đạt được
trong Vòng đàm phán Doha của WTO về Chương trình nghị sự về phát triển và đặt ra
thời hạn để đạt được bước đột phá trong các cuộc thương lượng là Cuộc họp cấp Bộ
trưởng lần thứ 6 của WTO tháng 12 năm 2005 tổ chức tại Hongkong.
APEC thông qua các biện pháp tốt nhất để thực hiện các Hiệp định thương mại
khu vực ( RTAs) và các Hiệp định thương mại tự do (FTAs), Sáng kiến Sangtiago về
thương mại mở rộng và Khuôn khổ về bí mật thông tin. APEC cũng nhắc lại quyết
tâm của mình trong việc đối phó với mối đe doạ khủng bố, đồng thời đưa ra cam kết
chính trị đẻ chống tham nhũng và đảm bảo sự minh bạch đồng thời thông qua một loạt
các hành động cụ thể để thực hiện mục tiêu này.
Hội nghị APEC 13 : 18–19 tháng 11 năm 2005 tại Busan, Hàn Quốc.
Chủ đề: "Hướng tới một cộng đồng: đối phó thách thức, tạo ra thay đổi" .
APEC thông qua lộ trình Busan, hoàn thành Bản kiểm điểm giữa kì và thấy rằng
APEC vẫn đang tiến đến việc thực hiện các mục tiêu Bogo, tuy rằng cần phải cập nhật
cho phù hợp với tình hình hiện tại, và Khuôn khổ bí mật thông tin trong APEC. Các
nhà lãnh đạo kinh tế APEC cũng đưa ra tuyên bố độc lập ủng hộ việc kết thúc thành
công Hội nghị lần thứ 6 cấp Bộ trưởng của WTO tại Hongkong và thống nhất với việc
23
đối phó với các mối đe doạ dịch bệnh và tiếp tục cuộc chiến chống khủng bố vì nguy
cơ này có thể gây ra sự bất ổn kinh tế sâu sắc đối với toàn khu vực.
24
(1) Khủng hoảng tài chính toàn cầu;
(2) Đối phó với việc tăng giá lương thực và hàng hóa;
(3) Vòng đàm phán Doha;
(4) Hội nhập kinh tế khu vực;
(5) Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp;
(6) Biến đổi khí hậu
(7) An ninh con người.
Theo nhận định, đây là kì hội nghị quy mô nhất từ trước đến nay. Trong khuôn khổ
Hội nghị APEC 2008, Hội nghị lần thứ 4 Hội đồng tư vấn doanh nghiệp APEC
(ABAC) cũng diễn ra từ 17-20/11/2008 tại thủ đô Lima, Peru. Các đại biểu ABAC
đại diện cho 21 quốc gia thành viên APEC đưa ra các khuyến nghị cho các nguyên thủ
của thành viên APEC nhằm hướng tới việc đạt được một khu vực tự do thương mại
trong khuôn khổ các thành viên APEC.
Cuộc gặp thượng đỉnh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) của Diễn đàn
hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương diễn ra vào ngày 17/11 nhằm tìm ra các
giải pháp để giúp SME đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế và toàn cầu.
Với chủ đề “Các cơ hội và thách thức đối với SME trong khuôn khổ APEC”, hội nghị
thượng đỉnh SME tập hợp hơn 800 đại diện doanh nghiệp nhỏ và vừa khu vực châu Á
- Thái Bình Dương cùng thảo luận và thiết lập một bước tiến tích cực nhằm giúp SME
giải quyết tình hình khó khăn tài chính hiện nay. Một trong các trọng điểm được quan
tâm là giảm chi phí buôn bán giao dịch cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Bên cạnh
đó, Hội nghị SME cũng làm cho lãnh đạo các doanh nghiệp hiểu rằng thị trường của
họ là không biên giới và tầm quan trọng của việc sử dụng công nghệ tiến hành kinh
doanh với các thị trường nước ngoài vì đó là công cụ thúc đẩy hoạt động kinh doanh.
Tại APEC 2008, một số hội nghị quan trọng khác cũng diễn ra như Hội nghị các tổng
giám đốc tập đoàn hàng đầu thế giới, Diễn đàn đầu tư vào Peru
Hội nghị APEC 17 : Tháng 11 năm 2009 tại Singapore.
Ngày 14/01/2009, Singapore đã công bố chủ đề của năm APEC 2009 sẽ diễn ra
tại Singapore là “Phát triển bền vững, Liên kết khu vực” (Sustaining Growth,