Ung thư tế bào gan
( Phần 1)
Ung thư tế bào gan (HCC) là gì ?
Ung thư tế bào gan là ung thư xuất phát từ gan. Nó còn được gọi là ung thư gan
nguyên phát hoặc ung thư gan. Gan được cấu tạo từ nhiều loại tế bào khác nhau ( ví dụ
tế bào ống mật, mạch máu và những tế bào dự trữ mỡ). Tuy nhiên, 80% mô gan là do
tế bào gan tạo nên. Vì vậy, ung thư gan nguyên phát chủ yếu (>90-95%) xuất phát từ
tế bào gan và được gọi là ung thư tế bào gan hoặc carcinoma.
Tuy nhiên, khi bệnh nhân hoặc thầy thuốc nói ung thư gan thì điều đó cũng có
thể là ung thư gan do ung thư từ nơi khác lan tới ( như là đại tràng, dạ dày, tụy tạng,
tuyến vú và phổi ). Đặc biệt hơn, loại ung thư gan này được gọi là bệnh (ung thư) gan
do di căn hoặc ung thư gan do di căn (ung thư gan thứ phát) hoặc ung thư tế bào gan
(ung thư gan nguyên phát) chủ đề của bài viết này là ung thư tế bào gan mà tôi sẽ xem
nó như là HCC.
Tầm quan trọng của HCC như thế nào ?
HCC là ung thư đứng hàng thứ 5 trong tất cả các loại ung thư thường gặp nhất
trên thế giới. Về vấn đề ung thư gây tử vong thì HCC làm chết hầu hết bệnh nhân
trong vòng một năm sau khi mắc bệnh. Năm 1990, theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới dự
đoán có khoảng 430.000 trường hợp bị HCC mới trên thế giới và một con số tương tự
bệnh nhân chết do bệnh này. Khoảng ¾ số trường hợp HCC được tìm thấy ở Đông
Nam Á ( Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Triều Tiên và Nhật Bản). HCC cũng
thường thường gặp ở vùng hạ sa mạc Sahara Phi Châu ( Mozambique và Nam Phi).
Tần suất HCC ở Đông Nam Á và vùng hạ sa mạc Saharan Phi Châu là hơn 20
trường hợp trên 100.000 dân số. Trái lại, tần suất HCC ở Bắc Mỹ và Tây Âu thì thấp
hơn nhiều, ít hơn 5/100000 dân số. Tuy nhiên, tần suất HCC trong số những thổ dân ở
Alaska thì được so với tần suất ở Đông Nam Á. Hơn nữa, những dữ liệu gần đây cho
thấy rằng tần suất HCC ở Mỹ nói chung đang gia tăng. Sự gia tăng này là do viêm gan
siêu vi C mạn tính mắc phải và do nhiễm độc gan mà gây ra HCC.
Dịch tễ học của ung thư tế bào gan ?
học đã gây ra được HCC trên chuột này mà trước đó chuột này không có nguy cơ bị
HCC (chuột biến đổi gen là chuột được tiêm vào chất gen mới, lạ).
HBV gây ra HCC như thế nào? Ở những bệnh nhân bị cả HBV và HCC, những
chất liệu di truyền của HBV thường được tìm thấy trong gen của tế bào ung thư. Do
đó, người ta nghĩ rằng có một vùng đặc biệt của bộ gen HBV (mã di truyền ) đã xâm
nhập vào gen của tế bào gan. Chất gen của HBV này có thể phá huỷ chất gen bình
thường của tế bào gan và làm cho tế bào gan trở nên bị ung thư.
Điều quan trọng của HCC là thường kèm với HBV mạn tính mắc phải ở những
vùng mà HBV gặp không nhiều như Mỹ, thì HCC tương đối không thường gặp. Lý do
cho biết điều này là hầu hết những người bị HBV mạn mắc phải thường bị nhiễm lúc
đã trưởng thành. Tuy nhiên, HCC cũng có thể gặp ở những người trưởng thành bị
HBV mạn, nếu có thêm những yếu tố nguy cơ khác như : nghiện rượu mạn, hoặc
nhiễm đồng thời HCV mạn.
Viêm gan siêu vi C.
Nhiễm siêu vi C ( HCV) cũng liên quan tới sự tiến triển của HCC. Thật ra, ở
Nhật, HCV chiếm trên 75% trường hợp bị HCC. Giống như HBV, đa số bệnh nhân
HCC bị HCV đã kèm với xơ gan. Trong một vài nghiên cứu tiền cứu và hồi cứu của
bệnh cảnh tự nhiên viêm gan siêu vi C, trung bình thời gian tiến triển HCC là khoảng
28 năm sau khi bị nhiểm HCV. Bệnh nhân bị nhiễm siêu vi C mà tiến triển tới xơ gan
rồi thì khoảng 8-10 năm sau HCC xảy ra. Một vài nghiên cứu tiền cứu ở Châu Âu cho
thấy rằng tần suất hàng năm của HCC ở bệnh nhân xơ gan do HCV thay đổi từ 1,4-
2,5% mỗi năm.
Ở những bệnh nhân bị HCV, những yếu tố nguy cơ tiến triển tới HCC bao gồm
sự hiện diện của xơ gan, tuổi cao, giới nam, sự gia tăng alpha-fetoprotein cơ bản ( là
dấu hiệu ung thư trong máu), nghiện rượu, đồng nhiễm với HBV. Vài nghiên cứu gần
đây cho thấy rằng HCV genotype 1b ( là genotype thường gặp ở Mỹ) có thể là một yếu
tố nguy cơ, nhưng những nghiên cứu mới hơn thì không ủng hộ ý kiến này.
Cách mà HCV gây ra HCC thì chưa được rõ. Không giống như HBV, chất liệu
di truyền của HCV thì không xâm nhập trực tiếp vào chất liệu di truyền của tế bào gan.
Tuy nhiên, người ta biết rằng xơ gan do bất cứ nguyên nhân nào cũng là một yếu tố
Thuốc và hóa chất
Không có loại thuốc nào gây ra HCC cả, nhưng những hormon sinh dục nữ
(estrogen) và những hormon gây phát triển cơ bắp có thể dẫn đến adenoma gan.
Những khối u lành tính ở gan có thể tiềm tàng trở thành ác tính (ung thư). Vì vậy, ở
một vài trường hợp adenoma gan có thể tiến triển thành ung thư gan.
Một vài loại hóa chất thường liên quan tới một số ung thư gan. Ví dụ,
thorotrast, một loại thuốc cản quang có thể gây ung thư mạch máu ở gan gọi là
angiosarcoma gan. Viryl chloride, một hợp chất dùng trong công nghiệp nhựa, cũng có
thể gây ra angiosarcoma sau nhiều năm tiếp xúc.
Bệnh ứ sắt
HCC sẽ tiến triển trên 30% ở bệnh nhân bị ứ sắt có tính di truyền. Những bệnh
nhân bị bệnh này là yếu tố nguy cơ cao nhất bị xơ gan, không may, khi xơ gan được
hình thành thì hiệu quả của việc thảy trừ sắt sẽ không giảm được nguy cơ tiến triển tới
HCC.
Xơ gan
Hầu hết những loại xơ gan thường làm gia tăng nguy cơ bị HCC. Thêm vào đó,
những tình trạng được mô tả ở trên (viêm gan B, viêm gan C, rượu, và ứ sắt ), thiếu
alpha1-antitrypsin, những tình trạng di truyền gây khí phế thủng và xơ gan có thể dẫn
tới HCC. Ung thư gan có thể tiến triển mạnh hơn khi kèm với sự gia tăng tyrosin/máu
có tính di truyền, đó là tình trạng bất thường về sinh hóa lúc nhỏ mà có thể sớm dẫn tới
xơ gan.
Có một vài nguyên nhân gây xơ gan ít liên quan tới HCC hơn một số nguyên
nhân khác. Ví dụ, HCC hiếm khi thấy ở bệnh nhân xơ gan do bệnh Wilson (bất thường
về chuyển hóa đồng) hoặc viêm xơ hóa đường mật nguyên phát (sẹo và hẹp đường ống
mật). Người ta cũng nghĩ rằng HCC cũng hiếm khi tìm thấy ở bệnh nhân xơ gan ứ mật
nguyên phát (PBC). Tuy nhiên, những nghiên cứu gần đây cho thấy rằng, tần suất
HCC ở bệnh nhân PBC được so với những loại khác của xơ gan.
Những triệu chứng của HCC là gì ?
Những triệu chứng khởi đầu của HCC thì rất thay đổi. Ở nhiều nước nơi mà
HCC rất thường gặp nhìn chung ung thư phát hiện ra là ở giai đoạn trễ của bệnh rồi. Ở
thể vàng da đột ngột do khối u ăn vào đường mật. Vàng da xuất hiện trong trường hợp
này là do cả khối u bị bong tróc ra và chảy máu tạo cục máu đông làm tắc nghẽn ống
mật.
Trong HCC tiến triển, khối u có thể lan từ chỗ ban đầu tới những mô lân cận
hoặc theo dòng máu tới bất cứ nơi nào trong cơ thể (di căn xa). Tại chỗ, HCC có thể
xâm lấn vào tĩnh mạch dẫn máu tới gan (tĩnh mạch gan). Khối u có thể làm tắc tĩnh
mạch này và nó sẽ dẫn tới xung huyết gan. Xung huyết xảy ra là do khối u làm tắc tĩnh
mạch, do đó máu không ra khỏi gan được (bình thường máu và gan thông qua tĩnh
mạch gan ) và ra khỏi gan vào tĩnh mạch chủ dưới, là một tĩnh mạch lớn nhất dẫn máu
về tim. Ở những bệnh nhân Phi Châu, khối u thường làm tắc nghẽn tĩnh mạch chủ dưới
đều làm cho gan sưng to và hình thành nên báng bụng. Ở một số bệnh nhân, đã được
thấy rõ, khối ung thư có thể xâm lấn vào tĩnh mạch cửa và dẫn tới tĩnh mạch thực
quản dãn.
Đối với những trường hợp di căn xa, HCC thường di căn tới phổi là do tế bào
ung thư đi theo dòng máu tới. Thông thường, bệnh nhân không có triệu chứng của di
căn phổi, bệnh chỉ được phát hiện bằng chụp X quang thông thường. Hiếm gặp hơn,
trong những trường hợp tiến triển, HCC có thể di căn tới xương và não.