Ung thư tiền liệt tuyến
( Phần 1)
Tiền liệt tuyến là gì?
Tiền liệt tuyến là một cơ quan nằm ở bụng dưới hay cổ bàng quang (xem sơ
đồ). Là tuyến bao quanh đoạn đầu của niệu đạo. Niệu đạo dẫn nước tiểu từ bàng quang
ra đến đầu dương vật. Một chức năng của tiền liệt tuyến là giúp kiểm soát nước tiểu
bằng cách tạo áp lực trực tiếp đối với phần niệu đạo mà tiền liệt tuyến bao quanh. Một
chức năng khác của tiền liệt tuyến là sản xuất một số chất có trong tinh dịch như muối
khoáng và đường. Tinh dịch là chất dịch có chứa tinh trùng. Tuy nhiên tinh dịch còn
được sản xuất không phải hoàn toàn từ tiền liệt tuyến.( xem phần phẫu thuật điều trị
ung thư tiền liệt tuyến).
Ở nam giới còn trẻ, kích thước tiền liệt tuyến bằng như quả óc chó. Tuy nhiên
tiền liệt tuyến lớn lên theo tuổi . Tiền liệt tuyến to lên theo tuổi được gọi là phì đại tiền
liệt tuyến lành tính, bệnh này không phải là ung thư tiền liệt tuyến.Cả hai vấn đề phì
đại lành tính (hay gọi là u xơ ) tiền liệt tuyến và ung thư tiền liệt tuyến có thể là cùng
nguyên nhân của vấn đề ở người đàn ông lớn tuổi. Chẳng hạn tiền liệt tuyến lớn có thể
gây chèn ép hay gây ảnh hưởng đến chỗ thoát nước tiểu của bàng quang hay niệu đạo,
gây tiểu khó. Kết quả là tiểu lâu, lắt nhắt, tiểu phải rặn, tiểu nhiều lần, đặc biệt về ban
đêm hay đi tiểu.
Ung thư tiền liệt tuyến là gì?
Ung thư tiền liệt tuyến là khối u ác tính phát triển từ tế bào của tiền liệt tuyến.
Khối u thường phát triển chậm và kéo dài trong nhiều năm. Trong suốt thời gian này,
khối u thường có rất ít hoặc không có triệu chứng hoặc có biểu hiện triệu chứng (bất
thường khi khám bệnh).
Tuy nhiên, khi ung thư tiến triển, ung thư lớn lên và xâm lấn sang mô xung
quanh (lan rộng tai chỗ). Hơn nữa, ung thư cũng có thể di căn (lan xa hơn) đến các
vùng khác của cơ thể như xương, phổi, gan.Triệu chứng ở những nơi di căn đến
thường kết hợp với triệu chứng của ung thư TLT.
Tại sao ung thư tiền liệt tuyến lại quan trọng ?
Năm 1999, có 185.000 trường hợp ung thư tiền liệt tuyến mới được chẩn đoán
bị ung thư tiền liệt tuyến. Tất cả những chất hay độc tố trong môi trường hay từ chất
thải của ngành công nghiệp nặng có thể khởi phát bệnh ung thư tiền liệt tuyến. Tuy
nhiên nguyên nhân vẫn còn chưa rõ.
Triệu chứng của ung thư tiền liệt tuyến là gì?
Vào giai đoạn sớm, ung thư tiền liệt tuyến thường không gây ra triệu chứng
trong suốt vài năm. Ung thư tiền liệt tuyến thường được phát hiện đầu tiên bởi những
bất thường trong xét nghiệm máu (xét nghiệm chất PSA, xin xem bên dưới ) hoặc sờ
thấy một khối cứng ở tiền liệt tuyến. Trước tiên,theo thông lệ người bác sĩ sẽ dùng
ngón tay trỏ đưa vào trực tràng, qua đó mới sờ thấy được tiền liệt tuyến, tiền liệt tuyến
nằm trước trực tràng . Khi khối ung thư lớn gây chèn ép vào niệu đạo làm cho người
bệnh khó đi tiểu, tiểu lắt nhắt, phải rặn. Người bệnh có thể có cảm giác tiểu rát, tiểu ra
máu. Nếu khối ung thư tiền liệt tuyến tiếp tục phát triển có thể gây bí tiểu hoàn toàn,
làm cho người bệnh đau vùng bụng dưới, bàng quang căng to vì không thể đi tiểu
được.
Về sau, khối ung thư tiền liệt tuyến xâm lấn sang các cơ quan lân cận, hay đi xa
hơn đến các hạch bạch huyết vùng chậu. Khi đó ung thư có thể lan xa hơn( còn gọi là
di căn) đến các vùng khác của cơ thể.Bác sĩ khám trực tràng đôi lúc có thể phát hiện
được sự xâm lấn tại chỗ sang các mô lân cận. Ung thư này sờ thấy cứng, không di
động. Ung thư tiền liệt tuyến thường di căn đến các đốt sống thắt lưng thấp hay xương
chậu ( là xương tiếp nối với với phần thấp của xương sống với háng),là nguyên nhân
gây ra đau lưng hay đau vùng chậu. Ung thư có thể lan đến gan, phổi. Di căn ung thư
đến gan gây ra đau bụng và vàng da ( da nhuộm màu vàng) không phải là không gặp.
Ung thư di căn đến phổi gây ra đau ngực và ho.
Tầm soát bệnh ung thư tiền liệt tuyến như thế nào ?
Tầm soát ung thư tiền liệt tuyến là thực hiện thường xuyên, cách đều nhằm
phát hiện ung thư tiền liệt tuyến giai đoạn sớm. Nếu kết quả tầm soát bình thường, thì
coi như hiện tại không mắc bệnh. Nếu kết quả xét nghiệm có bất thường thì nghi ngờ
có bệnh , khi đó cần làm thêm một số xét nghiệm khác để chấn đoán ( cũng giúp chẩn
đoán phân biệt). Khi có một hoặc hai xét nghiệm tầm soát có bất thường thì ung thư
tiền liệt liệt tuyến được nghi ngờ trước tiên. Các thăm khám tầm soát này bao gồm
tinh trong vòng 48 giờ đôi khi có thể làm tăng lượng PSA. Mức dương tính giả thường
chỉ vào khoảng 4-10 nanogram/ml. Nhưng mức dương tính giả có thể tăng cao đến 25
hay 30 nanogram/ml. Tuy nhiên, ở mức tăng cao này, vẫn có thể cho phép, và cần thận
trọng giải thích vì ung thư tiền liệt tuyến cũng có mức tăng cao này. Các bệnh lý khác
không phải của tiền liệt tuyến, bệnh nhiễm trùng, thuốc, thức ăn, hút thuốc lá, uống
rượu không phải là nguyên nhân gây tăng lượng PSA giả tạo .
Khả năng phát hiện ung thư tiền liệt tuyến cùa xét nghiệm PSA (còn gọi là độ
nhạy cảm ) cao. Vì lý do này mà hầu hết bệnh nhân bị ung thư tiền liệt tuyến có mức
PSA tăng giới han hoặc tăng cao một cách bất thường.Khả năng của xét nghiệm để
loại trừ chẩn đoán khác ( gọi là độ đặc hiệu ) còn thấp, vì có những bệnh khác có thể
gây tăng lượng PSA trong máu một cách giả tạo.
Có sự cải tiến nào trong việc thực hiện xét nghiệm PSA không?
Mới đây, có một vài tiến bộ trong việc thực hiện xét nghiệm PSA trong máu.
Mục đích của cải tiến xét nghiệm là giúp bác sĩ có đánh giá tốt hơn về tăng PSA giới
hạn và tăng cao. Mục tiêu là xác định chính xác hơn nữa ai bị ung thư tiền liệt tuyến
và ai có tăng PSA giả tạo từ những bệnh khác nhau. Hay nói khác đi, mục đích của
những cải tiến này là làm tăng độ nhạy và độ đặc hiệu của xét nghiệm PSA.
Độ chuyên biệt của xét nghiệm PSA được xác định dựa vào tỷ lệ PSA tự do
trong máu . Các nghiên cứu cho thấy lượng PSA tự do trong máu có xu hướng kết hợp
với phì đại tiền liệt tuyến lành tính. Ngược lại, lượng PSA trong phì đại tiền liệt tuyến
có xu hướng giống với ung thư tiền liệt tuyến. Vì vậy tỷ lệ PSA cao nghi ngờ tăng giả
tạo và cần phải cân nhắc khi chẩn đoán ung thư tiền liệt tuyến . Ngược lại, sự tăng
PSA và giảm tỷ lệ PSA sẽ hướng đến ung thư tiền liệt tuyến.
Một số thay đổi khác mới đây của PSA dựa trên quan sát ở đàn ông, cho thấy
lượng PSA trong máu có thể tăng một cách bất thường mà lại không bị ung thư tiền
liệt tuyến. Do đó bác sĩ thường hay lựa chọn mối quan hệ giữa lứa tuổi-độ đặc hiệu của
xét nghiệm PSA để đánh giá giá trị giới hạn. Mối quan hệ lứa tuổi- độ đặc hiệu của
xét nghiệm, bình thường được điều chỉnh theo tuổi của người bệnh. Cho nên, mối quan
hệ lứa tuổi-độ đặc hiệu được coi như là bình thường khi lương PSA từ 0 đến 2,5
nanogram/ml ở đàn ông 40 tuổi, từ 0-3,5 nanogram/ml ở đàn ông 50 tuổi, từ 0 đến 4,5