class="bi x0 y0 w1 h1"
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN.
I. THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN.
1. Khái niệm.
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra hoạt động giao dịch, mua
bán các loại chứng khoán được tiến hành bởi những đối tượng khác
nhau theo quy định của pháp luật.
2. Phân loại.
a. Căn cứ theo tính chất pháp lý
Thị trường chứng khoán chính thức hay còn gọi là Sở giao dịch
chứng khoán là nơi mua bán loại chứng khoán được niêm yết có địa điểm
và thời biểu mua bán rõ rệt, giá cả được xác định theo hình thức đấu giá
hoặc đấu lệnh.
Thị trường chứng khoán phi chính thức hay còn gọi là thị trường
OTC là nơi mua bán chứng khoán bên ngoài Sở giao dịch, không có ngày
giờ nghỉ hay thủ tục quyết định mà do thoả thuận giữa người mua và
người bán.
Thị trường chứng khoán chính thức có giá trị như “bộ mặt” thị
trường chứng khoán quốc gia, các bộ phận thị trường khác thể hiện sự đa
dạng của các giao dịch có thể lựa chọn. Hàng hoá của thị trường tập trung
cũng là những hàng hoá có thể đánh giá có chất lượng hơn so với hàng
hoá của thị trường khác, do tính có tổ chức của nó; điều đó cũng có nghĩa
sự an toàn hay rủi ro, cơ hội kiếm lời là khác nhau trong các giao dịch
trên thị trường.
b. Căn cứ vào quá trình luân chuyển chứng khoán
Thị trường phát hành hay còn gọi là thị trường sơ cấp là nơi các
chứng khoán được phát hành lần đầu bởi các nhà phát hành được bán cho
các nhà đầu tư.
Thị trường thứ cấp diễn ra các giao dịch chứng khoán chưa được
thanh toá. Bộ phận thị trường này không làm tăng nguồn vốn mới cho
Việc định giá chứng khoán trên thị trường phụ thuộc hoàn toàn vào
các nhà trung gian môi giới. Mỗi nhà trung gian môi giới định giá mỗi
loại chứng khoán tại một thời điểm tuỳ theo sự xét đoán và tùy vào số
cung cầu chứng khoán có trên thị trường. Việc định giá chứng khoán
được thực hiện thông qua cuộc thương lượng giữa những người trung
gian môi giới cần mua và cần bán. Giá cả được xác định khi hai bên đã
thống nhất. Tất cả các thành viên có liên quan trên thị trường không ai có
thể can thiệp vào sự tác động qua lại của số cung cầu chứng khoán trên
thị trường và cũng không ai có quyền định giá chứng khoán một cách độc
đoán. Vì thế thị trường chứng khoán được coi là thị trường tự do nhất
trong các thị trường.
c. Nguyên tắc công khai hoá.
Tất cả các hoạt động trên thị trường chứng khoán đều được công
khai hoá về các loại chứng khoán được đưa ra mua bán trên thị trường,
cũng như tình hình tài chính về kết quả kinh doanh của công ty phát hành
và số lượng chứng khoán và giá cả từng loại đều được công khai trên thị
trường và trong các báo cáo. Khi kết thúc một cuộc giao dịch số lượng
chứng khoán được mua bán, giá cả từng loại đều được lập tức thông bán
ngay. Nguyên tắc này nhằm đảm bảo quyền lợi cho người mua và người
bán chứng khoán không bị hớ trong mua bán chứng khoán và người mua
chứng khoán dễ dàng chọn loại chứng khoán theo sở thích của mình.
4. Hàng hóa của thị trường chứng khoán
4.1 Khái niệm
Chứng khoán là những giấy tờ có giá xác định số vốn đầu tư và nó
xác nhận quyền đòi nợ hay quyền sở hữu về tài sản, bao gồm những điều
kiện về thu nhập trong một khoảng thời gian nào đó và có khả năng
chuyển nhượng.
4.2 Phân loại và đặc điểm
a. Căn cứ theo tiêu thức pháp lý
Chứng khoán vô danh là loại chứng khoán không ghi rõ họ tên chủ
Phân loại
Căn cứ vào hình thức phát hành
- Trái phiếu vô danh
- Trái phiếu kí danh
Căn cứ vào chủ thể phát hành
- Trái phiếu chính phủ
- Trái phiếu dài hạn kho bạc (treasury bonds)
- Trái phiếu đô thị (municipal bonds)
- Công trái nhà nước (state bonds):
- Trái phiếu công ty (corporate bonds)
Căn cứ vào lợi tức trái phiếu
- Trái phiếu có lãi suất ổn định (level coupon bond)
- Trái phiếu chiết khấu (zero coupon bonds)
- Trái phiếu lãi suất thả nổi (floating rate bond)
4.2.2 Cổ phiếu
Cổ phiếu là những giấy tờ có giá xác định số vốn đầu tư và nó xác
nhận quyền sở hữu về tài sản và những điều kiện về thu nhập trong một
khoảng thời gian nào đó và có khả năng chuyển nhượng. Có hai loại cổ
phiếu là cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi.
4.2.2.1 Cổ phiếu thường
Cổ phiếu thường là cổ phiếu không có thời gian đáo hạn, không có
thu nhập ổn định mà thu nhập của nó phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh
doanh hay chính sách chi trả cổ tức của công ty. Cổ phiếu thường có khả
năng chuyển nhượng dễ dàng. Người nắm giữ cổ phiếu thường có quyền
tham gia bầu cử vào Hội đồng quản trị nhưng không được ưu tiên trong
phân chia lợi nhuận cũng như thanh lý tài sản khi công ty phá sản. Ngoài
ra cổ phiếu thường còn đem lại quyền đặt mua cổ phiếu mới cho các cổ
đông.
4.2.2.2 Cổ phiếu ưu đãi
Cổ phiếu ưu đãi là loại cổ phiếu có sự ưu tiên hơn cổ phiếu thường
định trong tương lai với một mức giá được ấn định vào ngày hôm nay.
Hợp đồng tương lai được niêm yết trên sở giao dịch, nó xoá bỏ rủi ro tín
dụng vì nó được công ty thanh toán bù trừ phục vụ như là một trung gian
trong tất cả các giao dịch. Người bán và người mua đều bán mua qua
công ty thanh toán bù trừ. Hợp đồng tương lai đều được tiêu chuẩn hoấ
về việc giao nhận một khối lượng cụ thể của một hàng hoá cụ thể đáp
ứng các tiêu chuẩn chất lượng tối thiểu, theo một thời hạn được ấn định
trước. Hợp đồng tương lai còn được chuyển giao theo giá thị trường tức
là bất kỳ món lợi nào cũng được giao nhận hàng ngày. Cụ thể là nếu giá
của hàng hoá cơ sở biến động khác với giá đã thoả thuận (giá thực hiện
hợp đồng) thì bên bị thiệt hại do sự thay đổi giá này phải trả tiền cho bên
được lợi từ sự thay đổi giá đó. Việc thanh toán như thế được tiến hành
hàng ngày
5. Chức năng và vai trò của thị trường chứng khoán.
5.1 Chức năng cơ bản của thị trường chứng khoán
Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
- Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
- Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán
- Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp
- Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách vĩ mô
5.2 Vai trò của thị trường chứng khoán
5.2.1 Đối với nền kinh tế vĩ mô nói chung
Chứng khoán và thị trường chứng khoán tồn tại như một tất yếu
khách quan của nền kinh tế thị trường và giữ vai trò đặc biệt quan trọng
đối với nền kinh tế.
Xuất phát từ nguồn gốc ra đời của chứng khoán và thị trường chứng
khoán, có thể khẳng định, thị trường chứng khoán là công cụ quan trọng
trong việc huy động vốn trung và dài hạn.
Trường chứng khoán còn là công cụ thực hiện chính sách tài chính
tiền tệ quốc gia và các chính sách vĩ mô khác.
của cả nền kinh tế một cách tổng hợp và chính xác (kể cả giá trị hữu hình
và vô hình) thông qua chỉ số giá chứng khoán trên thị trường. Từ đó tạo
ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm.
Thị trường chứng khoán còn là nơi giúp các tập đoàn ra mắt công
chúng. Thị trường chứng khoán chính là nơi quảng cáo ít chi phí về bản
thân doanh nghiệp.
c. Đối với nhà đầu tư.
Thị trường chứng khoán là nơi mà các nhà đầu tư có thể dễ dàng tìm
kiếm các cơ hội đầu tư để đa dạng hoá đầu tư, giảm thiểu rủi ro trong đầu
tư.
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG GIAO DỊCH
CHỨNG KHOÁN CHÍNH THỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
1. Về cơ quan quản lý thị trường chứng khoán.
Xuất phát từ vai trò Nhà nước xã hội chủ nghĩa, từ đặc điểm của nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nhà nước có
vị trí, vai trò rất quan trọng, mặc dù có những hình thái biểu hiện cụ thể
khác nhau trong giai đoạn hiện nay. Đối với thị trường chứng khoán,
nguyên tắc thực hiện sự can thiệp của Nhà nước cũng được thể hiện rất rõ
ràng tại các văn bản pháp luật điều chỉnh trực tiếp thị trường. Nghị định
số 75/CP ngày 28/11/1996 đã cho ra đời một cơ quan quản lý chức năng
riệng đối với thị trường chứng khoán Việt Nam. Văn bản này xác định rõ
mô hình, vị trí, chức năng nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước về
chức khoán.
Đối với Việt Nam, Uỷ ban chứng khoán Nhà nước đã được thành
lập để quản lý và giám sát thúc đẩy cho thị trường phát triển theo định
hướng XHCN và bảo vệ quyền lợi cho các nhà đâu tư. Đây là bước đi
đúng phù hợp với điều kiện của Việt Nam và xu hướng quốc tế.
2. Về sở giao dịch chứng khoán.
Đối với Việt Nam, Sở giao dịch chứng khoán sẽ do Nhà nước sử
Nhà nước đã và đang thành lập phát triển Sở giao dịch chứng khoán tập
trung cho tất cả các chứng khoán (kể cả công ty và và nhỏ) có đủ điều
kiện niêm yết, hay không đủ điều kiện niêm yết được mua bán tại Sở giao
dịch chứng khoán. Tuy nhiên, việc giao dịch những chứng khoán của
công ty lớn (đủ điều kiện niêm yết) tách biệt với khu vực giao dịch những
chứng khoán của những công ty vừa và nhỏ không đủ điều kiện niêm yết.
Hiện nay ngoài hai sở giao dịch chứng khoán lớn là Hà Nội và TP
Hồ Chí Minh còn có thị trường chứng khoán phi chính thức hay còn gọi
là thị trường OTC là nơi mua bán chứng khoán bên ngoài Sở giao dịch,
không có ngày giờ nghỉ hay thủ tục quyết định mà do thoả thuận giữa
người mua và người bán Hiện nay đang có hơn 3.600 doanh nghiệp (DN)
còn lại hiện đang giao dịch cổ phiếu trên thị trường tự do với việc trao
đổi, mua/bán cổ phiếu chưa chịu sự điều chỉnh bởi những quy định pháp
lý.
4. Hệ thống giao dịch.
Việt Nam đang áp dụng hệ thống ghép lệnh. Hệ thống này đơn giản
cho phép có được giá cả, cạnh tranh tốt nhất nên đang được nhiều nước
mới nổi áp dụng. ở Việt Nam trong thời gian đầu khi thị trường chưa phát
triển, khối lượng giao dịch còn nhỏ, nên áp dụng phương thức ghép lệnh
từng đợt để giảm bớt sự biến động của giá cả.
Trong điều kiện chi phí cho hệ thống tự động hoá ngày càng có xu
hướng giảm thì Việt Nam cần thiết và sử dụng chương trình tự động hoá
ngay từ đầu. Nếu bắt đầu bằng giao dịch thủ công, sau đó lại thay thế
bằng hệ thống tự động thì sẽ tốn kém. Để tiết kiệm chi phí cho thời gian
đầu ở Việt Nam chỉ lắp đặt thiết bị với công suất xử lý thấp. Các thiết bị
lắp đặt ở trạng thái mở để khi khối lượng giao dịch tăng lên có thể lắp đặt
thêm nhằm mổ rộng công suất xử lý của hệ thống.
Ngày 12/1/2009, Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội chính thức triển
khai giao dịch trực tuyến. Ngày 8/2/2010, Sở Giao dịch Chứng khoán Hà
Nội chính thức triển khai giao dịch trực tuyến
chênh lệch giá mua bán cổ phiếu.
Nhà đầu tư cổ phiếu khi tham gia tích cực mua đi bán lại cổ phiếu để
kiếm lợi nhuận chênh lệch giá, lúc đó họ trở thành những người kinh
doanh chứng khoán. Người kinh doanh chứng khoán ít quan tâm đến mặt
lợi nhuận thứ nhất và thứ hai như đã đề cập. Người kinh doanh chứng
khoán sẽ mua vào khi có dấu hiệu giá lên, sẽ bán ra khi có dấu hiệu giá
cổ phiếu hạ. Do đó hoạt động của nhà kinh doanh chứng khoán gắn liền
với hoạt động đầu cơ chứng khoán. Đầu cơ chứng khoán được công nhận
thì thị trường chứng khoán mới hoạt động sôi nổi liên tục.
Nhìn chung thị trường chứng khoán (TTCK) phải chấp nhận đầu
cơ.Nhưng có những hành động đầu cơ bị cấm. Những hành động đầu cơ
bị cấm đó là:
Tính chất: Là hành động nhằm tạo ra sức ép lớn về quan hệ cung cầu
một loại chứng khoán nào đó trên thị trường dẫn đến hình thành một giá
chứng khoán không giống với giá tồn tại bình thường, có lợi cho người
đầu cơ, gây thiệt hại cho những người khác.
Mục tiêu: Tạo nên một giá giả tạo nhằm: tìm cách nâng giá lên rồi
bán tống bán tháo số chứng khoán cho người mua; giữ giá ổn định ở một
mức cao hơn giá thực tế của nó để bán (cao hơn giá trị thực tế của cổ
phiếu); và tìm cách giảm giá xuống rồi mua chứng khoán về càng nhiều
càng tốt.
Các hành động đầu cơ, đầu cơ được thực hiện bằng nhiều thủ đoạn
khác nhau, trong đó có các loại chính sau đây: Bán giả, thu hút và hùn
vốn.
Bán giả: Là những hành động có giao dịch mua bán chứng khoán
nhưng không có việc chuyển giao sở hữu chứng khoán. Đó là hành động
hai người đâu cơ bày ra những vụ giao dịch, họ đưa ra một giá khác biệt
với chiều hướng diễn biến của thị trường mà cả hai đều chấp thuận nhưng
không có việc thanh toán chứng khoán và tiền. Một loại hành động khác:
một người đầu cơ đưa ra những lệnh phối hợp cho hai người môi giới,
ngoài thì hiện nay hầu như tình trạng này không còn. Lý giải về điều này,
một nhà đầu tư có thâm niên cho biết, do quan điểm đầu tư khác nhau,
nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức lượng vốn lớn và mục tiêu dài hạn hơn
thì chọn CP blue-chips là thích hợp. Trong khi đó các nhà đầu tư trong
nước đa số là cá nhân thì vốn ít, thích đầu tư ngắn hạn theo kiểu lướt
sóng nên sau một thời gian nắm giữ CP blue-chips không đạt hiệu quả thì
sẽ bán ra
b. Mua bán nội gián.
Mua bán nội gián là việc một cá nhân nào đó lợi dụng vị trí công
việc của mình, nắm được những thông tin nội bộ của đơn vị phát hành để
mua hoặc bán cổ phiếu của đơn vị đó một cách không bình thường nhằm
thu lợi cho mình và làm ảnh hưởng tới giá của cổ phiếu trên thị trường.
Đây là hành vi phi đạo đức thương mại và bị cấm ở các nước.
Tại VN, giao dịch nội gián không phải là vấn đề mới nhưng vẫn luôn
nóng bỏng với mức độ ngày càng nghiêm trọng
Việc Ủy ban Chứng khoán nhà nước (UBCKNN) vừa công bố xử
phạt 3 nhà đầu tư (NĐT) cá nhân tổng cộng 165 triệu đồng vì giao dịch nội
gián lại dấy lên mối lo về vấn đề này trên thị trường.
Đó là trường hợp của bà Đào Thị Kiều, cổ đông nội bộ (chính xác là vợ
của ông Nguyễn Tiến Dũng - Tổng giám đốc kiêm thành viên HĐQT) của
CTCP Tập đoàn khoáng sản Hamico (KSH). Đây không phải là vụ xử phạt
đầu tiên về giao dịch nội gián trên thị trường chứng khoán. Đầu tháng
12.2009, UBCKNN cũng công bố xử phạt ông Trần Công Phước - là nhân
viên của CTCP phát triển nhà Thủ Đức (TDH) và ông Phạm Quốc Thắng
50 triệu đồng/người vì đã sử dụng thông tin nội bộ về việc TDH phát hành
CP thưởng theo tỷ lệ 2:1 để mua bán Theo tính toán, giao dịch nội gián
kiểu này đã mang lại một khoản lợi nhuận lớn cho những người tham gia,
các nhà đầu tư Chịu phạt nhỏ nhưng thu lợi lớn. Số tiền bị xử phạt thì chỉ
là "hạt muối bỏ biển", không đủ sức để răn đe chứ chưa nói đến ngăn chặn.
Đó hẳn là một nguy cơ lớn nếu không tìm được giải pháp hữu hiệu ngăn
hại cho nhà đầu tư.
c. Phao tin đồn không chính xác hay thông tin lệch lạc.
Đây là việc đưa ra các thông tin sai sự thật về tình hình tài chính,
tình hình nội bộ của công ty hay về môi trường kinh doanh của công ty
nhằm tăng hay giảm giá cổ phiếu để thu lợi nhuận cho cá nhân.
Việc đưa tin đồn sai sự thật không mới nhưng tác động của nó lại hết sức
lớn. Nó tác động mạnh mẽ đến tâm lí đầu tư, thị truờng lên hay xuống luôn
luôn gắn liền với sự kỳ vọng hoặc phản ứng của công chúng đầu tư đối với
những tin vĩ mô nhất định. Sự điều chỉnh thất thường của sàn chứng khoán
Việt Nam cho thấy đây là một trong những thị trường không ổn định nhất
thế giới trong vài năm qua.
Thị truờng - index càng tăng, tin đồn càng nhiều, đó là kinh nghiệm
của những ai chơi cổ phiếu lâu năm. Và như vòng luẩn quẩn, tin đồn đó lại
giúp đẩy giá cổ phiếu đi lên hơn nữa, đẩy index lên hơn nữa.
Việc nhà môi giới cung cấp thông tin phân tích cho khách hàng, bao
gồm cả những thông tin xác thực cũng như những "tin đồn" trên thị
trường đã trở thành hiện tượng bình thường đối với nhà đầu tư. Thậm chí,
đây còn là nhu cầu thiết thực đối với một số nhà đầu tư lướt sóng, họ sẵn
sàng trả tiền để được nghe những tin đồn một cách nhanh nhất. Trên một
số diễn đàn, rất nhiều phân tích đánh giá thị trường được dựa trên những
"tin đồn" như một cơ sở để nhà đầu tư ra quyết định mua bán. Những tin
đồn được quan tâm nhất hiện nay là nhóm nhà đầu tư lớn này đang
"đánh" mã XYZ, công ty ABC chuẩn bị công bố lợi nhuận đột biến… Có
thể những thông tin ban đầu là chính xác nhưng sau đó thì không biết đâu
mà lường.
d. Mua bán cổ phiếu ngầm.
Mua bán cổ phiếu ngầm là việc mua bán không qua thị trường chứng
khoán. Điều này có thể gây áp lực cho các nhà đầu tư khác đưa tới việc
khống chế hay thay thế lãnh đạo.
Mua bán“ngầm” bất lợi cho nhà đầu tư nhỏ. Sang tháng năm 2010,
mang lại cho nhà đầu tư may mắn tới 50% lợi nhuận, nhưng khi sang cổ
phiếu làm giá khác, nó cũng lại lấy đi rất nhanh khoản lợi nhuận kiếm
được trước đó, thậm chí, khi không kiểm soát được, nhà đầu tư lao vào cổ
phiếu sau với nguồn vốn lớn hơn nên tỷ lệ thua lỗ lại nặng hơn. Câu
chuyện PVA và VTV là một minh chứng.Không phải ai cũng luôn may
mắn với cổ phiếu làm giá, trừ các VIP, những người đang làm chủ “cuộc
chơi."
Thị trường chứng khoán Việt Nam sau 9 - 10 năm hình thành của
TTCK Việt Nam mới chỉ qua giai đoạn sơ khởi. Còn so với những kỳ vọng
vào sự phát triển lâu dài của thể chế thị trường bậc cao này trong nền kinh
tế Việt Nam thì mọi thành công cũng mới bắt đầu, điểm khởi đầu nào cũng
đầy những khó khăn, bỡ ngỡ.Hoạt động của sàn giao dịch còn gặp nhiều
khó khăn không tránh khỏi.
Ở Việt Nam do thị trường chứng khoán nước ta ra đời muộn cho nên
còn thiếu nhiều đội ngũ có kiến thức sâu về thị trường chứng khoán để
công tác tốt trong việc quản lý Nhà nước, trong công tác kinh doanh chứng
khoán, tư vấn kinh doanh chứng khoán và sẵn sàng chấp nhận rủi ro tham
gia thị trường. Mặt khác khi tham gia đầu tư chứng khoán các nhà đầu tư
cần trang bị cho mình các kiến thức cần thiết và tỉnh táo tiếp nhận những
thông tin đa chiều và có lựa chọn đúng đắn đầu tư hợp lí. Có không ít các
kinh nghiệm từ các chuyên gia được công khai nhưng vận dụng ra sao lựa
chọn thế nào và cơ chế pháp lí tính cạnh tranh công bằng công khai …là
một câu hỏi lớn đối với bất kỳ nhà đầu tư dù lớn hay nhỏ.
e. Việc thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của Sở GDCK
Bảo đảm hoạt động giao dịch chứng khoán trên thị trường được tiến
hành công khai, công bằng, minh bạch và hiệu quả. ở nước ngoài thì hoạt
động tự doanh phải tách rời hoạt động môi giới, ngoài ra phải công bố
hàng ngày. Định kỳ hàng tháng, các Sở GDCK sẽ công bố cái báo cáo gọi
đơn giản là monthly report, nhưng trong đó sẽ có công bố những ai tham
gia TTCK: ngân hàng, bảo hiểm, quỹ đầu tư, chứng khoán…, tất nhiên là
dịch gây thiệt hại cho thành viên giao dịch, trừ trường hợp bất khả
kháng.Nhưng phiên giao dịch sáng 31/5/2010, tôi và rất nhiều NĐT khác
hoảng hốt khi thấy bảng điện tử trên sàn Hà Nội gần như trắng trơn, hầu
hết chỉ xuất hiện các lệnh bán mà rất ít lệnh mua. Rất nhiều người lo lắng
không hiểu chuyện gì đã xảy ra. Do trước đó, cả hai sàn chứng khoán đã có
vài phiên tăng liên tiếp nên rất nhiều người nghĩ ngay đến việc bán cổ
phiếu chốt lời để tránh một phiên điều chỉnh sâu. Một số nhà đầu tư đặt
lệnh bán cổ phiếu nhưng chờ rất lâu không thấy lệnh xuất hiện. Các nhân
viên môi giới cũng không cho biết thông tin cụ thể nào càng khiến NĐT
hoang mang. Do giao dịch liên tục nên việc khớp lệnh trên sàn Hà Nội sớm
hơn sàn TP. HCM nên tác động dây chuyền là nhiều NĐT lo lắng đặt lệnh
bán trên sàn HOSE với giá thấp ngay trong đợt mở cửa. Đến 9h20, sự cố
này mới được HNX thông báo trên website của Sở. Sau đó, đại diện HNX
cũng đã lên truyền hình cho biết đây là sự cố nhỏ và xin lỗi NĐT. Vị này
cũng cho biết có 87 CTCK thực hiện giao dịch trực tuyến trong tổng số
hơn 100 CTCK bị ảnh hưởng. Sau khi khắc phục xong thì chỉ có khoảng
40 CTCK thực hiện được giao dịch trực tuyến bình thường.
Một sự cố được cho là nhỏ thì có thể bỏ qua. Nhưng những ảnh hưởng và
hậu quả lớn của nó gây ra liệu có thể dễ dàng khắc phục? Những NĐT nhỏ
lẻ biết kêu ai khi “sự cố nhỏ” này ảnh hưởng ngay đến túi tiền của bản
thân? Câu hỏi đặt ra là, phải chăng quy trình quản lý và vận hành giao dịch
tại HNX chưa được chuẩn hoá? Đáng lẽ ngay khi gặp sự cố, hệ thống dự
phòng phải được khởi động và thay thế trong thời gian ngắn nhất để tránh
tổn thất lớn. Đồng thời, khi xảy ra sự cố HNX phải có thông báo tức thời
đến các thành viên, NĐT trên mọi phương tiện có thể để tránh những sự
hiểu lầm, những đồn đoán không chính xác. Đây không phải là lần đầu tiên
thị trường gặp sự cố. Trong gần 10 năm hoạt động, cả hai Sở đều đã có
những "sự cố nhỏ" như trên, nhưng hình như sau mỗi sự cố qua đi là lại bị
lãng quên TTCK là một thị trường rất nhạy cảm, chỉ cần những sự cố
nhỏ như trên cũng có thể khiến một số lượng lớn tiền của một bộ phận
Uỷ ban chứng khoán Nhà nước là cơ quan nhà nước quản lý thống
nhất, nhằm tạo điều kiện cho thị trường hoạt động thông suốt, hiệu quả và an
toàn.
Việt Nam sẽ xây dựng một thị trường chứng khoán có tổ chức, hoạt
động công bằng, hiệu quả an toàn, bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư, phù hợp
với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của đất nước, từng bước hội nhập với
thị trường chứng khoán của các nước trong khu vực và thế giới.
Việt Nam sẽ xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán từ qui
mô nhỏ đến qui mô lớn, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện phù hợp với
điều kiện và tình hình cụ thể của đất nước.
II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM.
Thị trường chứng khoán là phong vũ biểu của nền kinh tế, các mối
quan hệ về huy động và luân chuyển vốn trên thị trường chứng khoán
được hình thành và biến đổi trên cơ sở phản ánh của các điều kiện kinh tế
vĩ mô. Chính vì vậy, các chính sách nhằm đảm bảo tính vững chắc và ổn
định của nền kinh tế có tầm quan trọng rất lớn đối với sự phát triển của
thị trường chứng khoán.
Sự ổn định kinh tế vĩ mô và sự nhất quán trong chiến lược phát triển,
vai trò của hệ thống quản lý có tính chất quyết định đối với sự thành bại
của một thị trường. Vì vậy, chúng ta cần sớm xem xét các văn bản pháp
quy hiện hành để điều chỉnh một cách đồng bộ, phù hợp các mâu thuẫn
trong các văn bản pháp qui đó. Điều thực sự cần thiết khi soạn ra các văn
bản pháp qui là các cơ quan quản lý nên tham khảo ý kiến của các công ty
phát hành, các công ty chứng khoán hay của các chuyên gia trên lĩnh vực
chứng khoán.
Sự phát triển thị trường chứng khoán và chương trình cổ phần hoá
có mối quan hệ mật thiết với nhau. Do đó, cần đẩy nhanh tốc độ cổ phần
hoá để lựa chọn một số doanh nghiệp có thể phát hành cổ phiếu và trái
phiếu. Để đẩy nhanh tốc độ cổ phần hoá thì chúng ta cần phải có các văn
nhân dân nhằm tăng trưởng mức tiết kiệm trong dân cư. Thực hiện chính
sách dần dần mở cửa thị trường một cách thích hợp để khuyến khích đầu
tư nước ngoài, việc phát triển hệ thống trung gian tài chính hoạt động trên
thị trường chứng khoán, hệ thống giám sát có hiệu quả, tăng cường phổ
biến, phổ cập kiến thức về thị trường chứng khoán. Thêm vào đó, cần
phải xúc tiến nhanh việc thành lập thị trường phi chính thức và thị trường
chứng khoán tại Hà nội hay các trái phiếu cần có lãi suất hẫp dẫn hơn lãi
suất tiền gửi tiết kiệm.
Các cơ quan chức năng Nhà nước phải quản lý chặt chẽ các tiêu
chuẩn phát hành, đảm bảo chứng khoán phát hành phải là chứng khoán có
chất lượng, ban hành chế độ kế toán, kiểm toán thống nhất để nâng cao
chất lượng của các thông tin về thị trường chứng khoán trên thị trường,
tạo điều kiện cho các nhà đầu tư có thể hiểu được các thông tin đó và ra
quyết định đầu tư chính xác. Thực hiện chế độ công bố thông tin bắt
buộc, xử lý nghiêm minh các vi phạm trong phát hành và giao dịch chứng
khoán.
Nhà nước cần có chính sách tạo nguồn nhân lực cho thị trường
chứng khoán qua việc mở các lớp đào tạo tại các trường, trên truyền hình,
đài, báo về các kiến thức từ cơ bản đến chuyên sâu về chứng khoán và thị
trường chứng khoán. Trong hoạt động đó, chúng ta có thể lựa chọn những
người có tài thực sự để tạo điều kiện phát triển và hoàn thiện thị trường
chứng khoán.
Về niêm yết, chúng ta cho phép phát hành và niêm yết giao dịch
chứng khoán. Trong giai đoạn đầu việc “gộp” hai nội dung trên thành một
hoạt động nhiêm yết tại Việt Nam là cần thiết và phù hợp, bởi lẽ thị
trường ban đầu còn ở quy mô nhỏ, sơ khai, số lượng chứng khoán được
giao dịch còn khiêm tốn nên chúng ta hoàn toàn có thể kiểm soát được
diễn biến thị trường; mặt khác, quy định như vậy cũng tạo điều kiện cho
nhà phát hành giảm bớt thủ tục, chi phí về thời gian và tiền bạc. Để niêm
yết được chứng khoán, các doanh nghiệp cần phải có đủ điều kiện, trong