Tài liệu Chương 9: Chăn nuôi bò thịt - Pdf 10

Trường ðại học Nông nghiệp 1 - Giáo trình Chăn nuôi Trâu Bò 221Chương 9
CHĂN NUÔI BÒ THỊT
Chương này chủ yếu nói về chăn nuôi bò theo hướng chuyên thịt, mặc dù trâu và các
loại bò khác (sữa, cày kéo) cũng ñóng góp một phần quan trọng trong tổng số lượng thịt bò
tiêu thụ hàng năm. Phần ñầu của chương trình bày một số quy luật phát triển của các mô
trong thân thịt nhằm làm cơ sở cho việc quyết ñịnh thời gian nuôi ñể ñạt ñược năng suất, chất
lượng thịt và hiệu quả kinh tế tối ưu. Tiếp theo là các chỉ tiêu ñánh giá và các nhân tố ảnh
hưởng tới năng suất và chất lượng thịt của bò. Phần kỹ thuật chăn nuôi nói về việc nuôi bê
trước vỗ béo và các phương pháp vỗ béo bò. Phân cuối của chương nói về các hình thức tổ
chức chăn nuôi và marketing sản phẩm thường ñược áp dụng trong ngành chăn nuôi bò thịt.
I. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC MÔ TRONG THÂN THỊT
1.1. Mô xương
Mô xương là phần không ăn ñược. Tỷ lệ của nó trong thân thịt cao làm giảm giá trị
của thân thịt. Trâu bò thịt có bộ xương phát triển quá kém hoặc quá thô ñều không tốt.
Theo tuổi thì khối lượng tuyệt ñối của bộ xương tăng lên nhưng tốc ñộ phát triển tương
ñối thì giảm xuống, và tỷ trọng của bộ xương trong thân thịt giảm. Trong thời kỳ phát triển
thì cường ñộ phát triển của xương trục mạnh hơn xương ngoại vi làm cho cơ thể phát triển
theo chiều dài nhanh hơn chiều rộng, chiều cao. Nếu tính theo khối lượng cơ thể thì khi sơ
sinh bộ xương chiếm 22,73%, 18 tháng là 11,7% và 5 năm là 9,9%. Như vậy trong giai ñoạn
từ sơ sinh ñến 18 tháng tuổi, ñặc biệt là trước 14 tháng tuổi thì xương sinh trưởng nhanh.
1.2. Mô cơ
Giá trị của thân thịt tăng lên khi tỷ lệ cơ trong ñó tăng. Trong cơ thể trâu bò sự phát
triển của hệ cơ có liên quan ñến sự phát triển của hệ xương. Trong thời kỳ thai hệ cơ tứ chi
phát triển mạnh, còn cơ xương trục phát triển chậm, còn thời kỳ ngoài thai thì ngược lại.
Nhìn chung hệ cơ phát triển nhất trong 6 tháng ñầu, sau ñó giảm dần và ñặc biệt là sau 18

II. NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG THỊT
2.1. Các chỉ tiêu ñánh giá năng suất và chất lượng thân thịt
a. Khối lượng bò
Bò thịt trước khi giết mổ phải ñể nhịn ñói 12-24 giờ. Cân khối lượng bò trước khi giết
mổ bằng các loại cân thích hợp. Trong trường hợp không có cân (hoặc khó cân) có thể xác
ñịnh khối lượng hơi của bò thông qua ño ñạc một số chiều ño (vòng ngực, dài thân chéo) rồi
tính toán theo một số công thức nhất ñịnh tuỳ theo giống và thể trạng của bò. Tuy nhiên, việc
xác ñịnh khối lượng bằng cách ño thường kèm theo sai số khá lớn.
b. Khối lượng và tỷ lệ thịt xẻ
Khối liượng thịt xẻ là khối lượng cơ thể bò sau khi ñã lọc da, bỏ ñầu (tại xương át lát),
phủ tạng (cơ quan tiêu hoá hô hấp, sinh dục vầ tiết niệu, tim) và bốn vó chân (từ gối trở
xuống).
Khối lượng thịt xẻ
Tỷ lệ thịt xẻ (%) = x 100
Khối lượng sống của bò
Những thành phần chính của thịt xẻ là xương, thịt và mỡ. Những nhân tố ảnh hưởng
ñến thành phần của thịt xẻ là tính biệt, giống và nuôi dưỡng.
Tỷ lệ thịt xẻ rất quan trọng ñối với sản xuất khi bán gia súc sống vì người mua cần biết
ñể ước tính khối lượng thịt xẻ từ khối lượng sống của cơ thể vật nuôi.
c. Khối lượng và tỷ lệ thịt tinh
Thịt tinh là khối lượng thịt ñược tách ra từ thịt xẻ. Khối lượng thịt tinh là phần có giá
trị cao nhất trong các thành phần của thịt xẻ.

Tổng khối lượng thịt tinh x 100
Tỷ lệ thịt tinh (%) =
Khối lượng sống của bò

Tổng khối lượng thịt tinh x 100
Tỷ lệ thịt tinh so với thịt xẻ (%) =
Khối lượng thịt xẻ

Tỷ lệ thịt loại 2 so với thịt xẻ (%) =
Khối lượng thịt xẻ Khối lượng thịt loại 2 x 100
Tỷ lệ thịt loại 2 so với tổng số thịt (%) =
Khối lượng thịt tinh

d. Khối lượng và tỷ lệ xương
Khối lượng xương của bò là khối lượng của xương ñược tách ra từ thịt xẻ.

Khối lượng xương x 100
Tỷ lệ xương (%) =
Khối lượng sống của bò

Khối lượng xương x 100
Tỷ lệ xương so với thịt xẻ (%) =
Khối lượng thịt xẻ
e. Khối lượng và tỷ lệ mỡ
Trường ðại học Nông nghiệp 1 - Giáo trình Chăn nuôi Trâu Bò 224

Mỡ bò ñược chia ra làm 3 phần: Mỡ bao ngoài phần thịt, dưới da, mỡ xen kẽ trong các
cơ và mỡ thành từng ñám trong phần bụng và phần ngực.
Người ta chỉ có thể tách ra ñược mỡ bao ngoài phần thịt và mỡ trong phần bụng và
ngực. Thu lại phần mỡ này và cân lên. ðó chính là khối lượng mỡ của bò.

Khối lượng mỡ x 100

3/4 chiÒu dµi
c¬ th¨n l−ng
Trường ðại học Nông nghiệp 1 - Giáo trình Chăn nuôi Trâu Bò 225

ðộ mềm thịt ñược ño bằng cách ño cơ học, cách này phỏng theo các hoạt ñộng của
miệng và răng. Các tiến bộ kỹ thuật ñều có thể ñược sử dụng ñể thực hiện ñược việc ño.

ðể
xác ñịnh ñộ mềm người ta có thể dùng một số phương pháp khác nhau. Sau ñây là một vài ví
dụ:
- Kiểm tra nhanh chóng bằng cách ấn ngón tay vào thịt. Thịt chất lượng cao khi ấn tay
có cảm giác mềm, sau khi bỏ tay ra thịt nhanh chóng trở về trạng thái cũ.
- Kiểm tra bằng phương pháp xác ñịnh nước nội dịch. Lấy một gam thịt tươi cắt khối
lập phương. ðặt mẫu trên tấm kính có giấy hút nước. Diện tích tấm kính 10 cm
2
, dầy 5 mm.
Sau ñó ñậy lên trên tấm kính có cùng kích cỡ trên, ñè lên tấm kính 1 quả cân có khối lượng 1
kg. Sau ñó ñể một giờ, nước trong thịt sẽ loang ra giấy lọc. ðo diện tích của nước thịt thấm
vào giấy lọc là phần nước nội dịch trong thịt. Nước nội dịch càng cao, thịt càng ngọt mềm.
- Cách ño ñộ mềm ñược sử dụng rộng rãi nhất hiện nay là thiết bị có tên là máy cắt lực
Warner-Bratzler. Máy này gồm một ñĩa thép trong chứa một hốc hình vuông. ðặt miếng thịt
vào trong hốc vuông, kéo cái ñĩa thép ra khỏi miếng thịt trong khi hai ñầu của miếng thịt ñược
giữ bằng các mẩu kim loại khác. Lực kéo ñĩa thép ra khỏi miếng thịt ñược ghi lại thành các
ñiểm trên ñồ thị (hình 9.3). Lúc ñầu lực này tăng lên do thiết bị kéo trên miếng thịt, sau ñó có
một ñiểm gẫy, ñiểm gẫy này ñược gọi là lực khởi ñầu (IY). Lực tiếp tục tăng lên cho tới khi
ñạt lực ñỉnh (PF). Tại ñiểm ñỉnh này, miếng thịt bị ñứt làm ñôi và lực sẽ bị tụt xuống.

Lùc
®
Ønh

(
PF
)

Lùc

Hình 9.3: Máy ño ñộ mềm của thịt Warner-Bratzler
Trường ðại học Nông nghiệp 1 - Giáo trình Chăn nuôi Trâu Bò 226

thịt ñược lâu hơn. ðộ pH trong cơ bắp của bò sống vào khoảng 7 (trung tính giống như nước). Thịt tốt có
ñộ pH dưới 5,8, ñiều này có nghĩa là thịt có nhiều axit hơn cơ bắp khi con vật còn sống.
Nếu ñộ pH thấp thì thịt sẽ mềm và cho phép bảo quản ñược lâu hơn. Do vậy, việc hạ ñộ pH của thịt
rất quan trọng vì sau ñó thịt cần tiếp tục ñược giữ thêm một thời gian. Làm lạnh nhanh thịt sẽ không hạ
ñược ñộ pH do ñã làm ngừng trao ñổi chất. Kích thích ñiện ñảm bảo cho ñộ pH hạ xuống dưới 5,8.
ðôi khi, trước lúc con vật bị giết, cơ không ñủ ñường. Không có ñủ ñường trong cơ, ñộ
pH không thể giảm xuống dưới 5,8 và thịt sẽ bị dai, có màu sẫm, khô và chắc. ðiều này sẽ
xảy ra khi bò bị tress trước lúc giết thịt. ðường có thể bị sử dụng hết khi con vật bị một stress
cấp tính, chẳng hạn khi nhốt chung các con vật khác ñàn vào với nhau hoặc con vật bị dồn
ñuổi. ðường cũng bị sử dụng hết khi con vật bị stres kéo dài, chẳng hạn khi vận chuyển
chúng, khi chúng gặp thời tiết quá nóng hoặc quá lạnh, bị mất nước. Khả năng bổ sung ñường
vào cơ bắp của bò rất chậm nên trước lúc giết thịt nếu con vật gặp bất cứ một stress nào thì

người tiêu dùng ở siêu thị hoặc ở tiệm ăn và ñề nghị mọi người ñiền các câu trả lời vào phiếu
ñiều tra. Phương pháp này chỉ thực hiện ñược khi có một số lượng mẫu ñủ lớn. Cách giải
quyết là huấn luyện một nhóm người sành ăn nếm thử. Cách giải quyết khác ñể ñánh giá cảm
quan là sử dụng một hội ñồng ñể kiểm tra mùi vị thịt gồm những người bình thường. Khi
kiểm tra thịt, họ có thể ñưa ra các ý kiến phân tán và các kết quả này ñược xử lý thống kê ñể
ñảm bảo mọi ý kiến ñều ñược tham gia vào việc ñánh giá. Mỗi mẫu thịt sẽ ñược một số người
kiểm tra, họ ñánh giá mùi vị thịt cùng với ñộ mềm và ñộ giữ nước, cuối cùng họ xem xét khả
năng chấp nhận.
e. Màu sắc của thịt
Thịt bò có chất lượng tốt là thịt bò có màu ñỏ hồng hoặc hồng nhạt tuỳ theo vị trí của
cơ. Thịt có màu ñỏ sẫm là thịt bò thải loại ñã già. Mỡ bò càng vàng sẫm bò càng nhiều tuổi.
Màu sắc của thịt thay ñổi theo ñộ axit trong thịt. Thịt có màu ñỏ sáng có ñộ pH thấp
hơn 6, thịt màu ñỏ sẫm có ñộ pH = 6,0 hoặc lớn hơn.
f. Thành phần hoá học của thịt
Có 2 chỉ tiêu quan trọng ñể ñánh giá chất lượng thịt là:
- Trytophan cao thì chất lượng thịt tốt.
- Oxyproline cao thì phẩm chất thịt kém.
2.3. Chất lượng thịt và thị hiếu ẩm thực
Chất lượng thịt bò còn ñược ñánh giá thông qua thị hiếu ẩm thực của người tiêu dùng.
Thị hiếu này thay ñổi giữa các nước, các khu vực khác nhau trên thế giới, thay ñổi theo thời
gian và tầng lớp giàu nghèo trong xã hội. Chính vì vậy mà người chăn nuôi phải tìm cách
(thông qua chọn giống, nuôi dưỡng và xác ñịnh tuổi giết thịt) nhằm tạo ra ñược sản phẩm phù
hợp với thị hiếu của người tiêu dùng của từng thị trường cụ thể. Người châu Âu và Australia
thích thịt bò mềm, màu ñỏ nhạt, ít mỡ, nên người ta thường giết thịt bò lúc còn tương ñối non
(15-18 tháng tuổi). Trái lại người tiêu dùng ở Nhật Bản và nhiều nước châu Á lại ưa chuộng
thịt bò có nhiều mỡ dắt và dậy mùi bò nên bò thường ñược giết thịt muộn hơn (3-4 tuổi).
Việt nam có hơn 80 triệu dân, là một thị trường tiêu thụ thịt bò nhiều tiềm năng. Người
Việt Nam có khẩu vị và thị hiếu riêng của mình. Do vậy khi phát triển ngành chăn nuôi bò thịt
cần chú ý ñến thị trường này và không nên áp ñặt các tiêu chuẩn chất lượng thịt bò của các thì
trường khác cho thị trường trong nước, trừ khi chăn nuôi bò thịt ñể xuất khẩu. Không nên lấy

cơ thể sớm.
- Bò kiêm dụng sữa thịt: như bò Red Sindhi, Brown Swiss v.v. Những bò này cũng có khả
năng tăng trọng khá cao (0,6-0,8 kg/ngày ñêm), phẩm chất thịt ngon, tỷ lệ thịt xẻ ñạt 59-60%.
- Bò sữa: như bò Holstein Friesian. Những bò này có sự phát triển cơ bắp kém, tỷ lệ thịt
xẻ thấp. Các giống bò sữa và kiêm dụng thường thích luỹ ít mỡ trong thân thịt mà mỡ chủ
yếu tích luỹ trong khoang bụng. Cơ bắp của nhưng gia súc này phát triển kém, tỷ lệ thịt xẻ
thấp.
- Trâu bò cày kéo: cơ bắp phát triển tốt, nhưng mỡ tích luỹ trong cơ thấp, thịt cứng và thô.
Tuy giống tuy ít ảnh hưởng trực tiếp tới tính ngon miệng của thịt nhưng ảnh hưởng này
lại có ý nghĩa. Cần chú ý là yếu tố giống chỉ gây ñược 5% mức biến ñộng của ñộ mềm thịt bò,
phần lớn mức biến ñộng là do các yếu tố khác. ðộ mềm của thịt có khả năng di truyền ñối với
bò nhiệt ñới, nghĩa là có thể chọn lọc ñể cải tiến ñộ mềm của thịt bò nhiệt ñới, nhưng ñiều này
không thực hiện ñược ñối với bò ôn ñới. Lai giống cũng ñã ñược chấp nhận ñể tăng tốc ñộ
sinh trưởng và chất lượng thịt.
3.3. Tính biệt và thiến
Thông thường ở các cơ sở chăn nuôi lấy thịt người ta giết thịt vào 15-18 tháng tuổi. Con
ñực thường có hoạt ñộng sinh dục vào 9-12 tháng tuổi. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng bê
ñực không thiến ñạt tốc ñộ sinh trưởng cao hơn, hiệu quả sử dụng thức ăn tốt hơn nên chi phí
thức ăn/kg tăng trọng thấp hơn so với ñực thiến. Tuy nhiên sự tích luỹ mỡ trong cơ bắp ở bê
ñực thiến cao hơn và sớm hơn bê ñực không thiến. Bê cái chậm lớn hơn bê dực cùng tuổi.
3.4. Nuôi dưỡng
Sức sản xuất thịt của bê trước tiên phụ thuộc vào mức ñộ dinh dưỡng. Có thể thấy mức
ñộ ảnh hưởng của các mức dinh dưỡng khác nhau ñến thành phần của các mô trong thân thịt
của bê qua kết quả thí nghiệm trong bảng 9.1. Mức ñộ dinh dưỡng cao thì tỷ lệ mỡ và cơ
Trường ðại học Nông nghiệp 1 - Giáo trình Chăn nuôi Trâu Bò 229

trong thân thịt cao, còn mô liên kết và xương giảm thấp. Mức dinh thấp làm giảm giá trị năng

bao gồm những bước sau ñây:
- Cai sữa bê trước khi chuyển ñi vỗ béo. Bước này làm giảm ñáng kể stress cho bê trong
quá trình cai sữa, vận chuyển và tân ñáo tại cơ sở vỗ béo. Bê ñược “cai sữa trên xe” rất dễ bị
ốm tại nơi vỗ béo hơn là bê ñược cai sữa trước khi chuyển ñi.
- Tiêm phòng khi bê còn theo mẹ và tiêm phòng tăng cường trước khi xuất khỏi trại.
- Chuẩn bị cho bê bước vào vỗ béo bằng cách giúp chúng làm quen với việc lấy thức ăn
từ máng và uống nước từ vòi.
Quan tâm chính của phương pháp này là giữ cho bê khoẻ mạnh và chuẩn bị cho chúng
bước vào vỗ béo ñược tốt. Thức ăn hạt trong thời kỳ cai sữa nên hạn chế tới mức tối thiểu. ðể
tập cho bê quen lấy thức ăn từ máng (như khi vỗ béo), cho cỏ khô dài vào trong máng trong
Trường ðại học Nông nghiệp 1 - Giáo trình Chăn nuôi Trâu Bò 230

4-7 ngày ñầu sau cai sữa. Trong thời gian này cung cấp thức ăn hạt chất lượng tốt hay thức ăn
bổ sung ñạm ở dưới cỏ khô. Mấu chốt là ở chỗ dùng thức ăn ngon miệng ñể làm cho bê ñến
với máng ăn. Không dùng các loại thức ăn lên men như cỏ ủ chua trong 4-7 ngày ñầu vì hầu
hết bê chưa quen với mùi của những thức ăn này. Không dùng thức ăn nghiền mịn vì như vậy
sẽ có nhiều bụi và tính ngọn miệng sẽ giảm. Thức ăn bột có thể dễ làm cho bê mắc các bệnh
hô hấp sau khi mới cai sữa.
Bê quen với uống nước từ ao, hồ, sông, suối có thể không biết uống nước từ vòi. Trong
trường hợp này nên ñể cho vòi nước chảy liên tục trong một thời gian ñể cho bê nghe tiếng
nước chảy. Âm thanh quen thuộc của tiếng nước chảy sẽ làm cho bê ñến với vòi nước.
Ưu ñiểm chính của phương pháp này là hạn chế ñược nguy cơ bệnh tật khi bê ñưa vào
vỗ béo nhờ việc cai sữa cẩn thận và tiêm phòng ñầy ñủ. Việc tập cho bê ăn quen trong máng
cũng làm cho bê bước vào chế ñộ vỗ béo ñược nhanh chóng. Tuy nhiên, một nhược ñiểm của
phương pháp này là giá bán bê loại này có thể cũng không cao hơn các loại bê khác mặc dù
ñã tốn nhiều công sức huấn luyện.
4.2. Nuôi bê qua ñông


231

cầu của thị trường về khối lượng bò, chất lượng thịt v.v. Thông thường thời gian vỗ béo là
60-90 ngày.
5.1. Các kiểu vỗ béo
Căn cứ vào ñối tượng ñưa vào vỗ béo có thể chia ra các kiểu vỗ béo như sau:
a. Vỗ béo bê lấy thịt trắng
ðây là kiểu vỗ béo bê sữa trước 3-4 tháng tuổi. Thông thường chỉ dùng bê ñực, ñặc biệt
là bê ñực hướng sữa. Nuôi bê chủ yếu bằng sữa nguyên và sữa thay thế. Mức sữa cung cấp
khoảng 12-16 lít/ngày nếu yêu cầu tăng trọng không dưới 1000 g/ngày. Nếu yêu cầu tăng
trọng thấp hơn một ít (không dưới 900g/ngày) thì bên cạnh sữa có thể cho ăn thêm cỏ khô,
thức ăn tinh và củ quả.
Hiện nay ở nước ta “bê thui” rất ñược ưa chuộng, nhưng bê thường ñược giết sớm mà
không qua vỗ béo nên không khai thác ñược hết tiềm năng cho thịt của bê. Hơn nữa, trong
chăn nuôi bò sữa, bê ñực thường ñược giết trong vòng tuần ñầu sau khi cho ăn hết sữa ñầu,
trong khi có thể vỗ béo thêm trong một thời gian trước khi giết thịt. Trong thời gian tới khi
nhu cầu và giá thịt bê tăng cao thì ñây có thể là một hướng phát triển quan trọng trong chăn
nuôi bò ở nước ta.
b. Vỗ béo bê sớm sau cai sữa
Bê ñược ñưa vào vỗ béo ngay sau khi cai sữa hay sau một thời gian huấn luyện 30-45
ngày. Hình thức này phù hợp cho những cơ sở vỗ béo thương phẩm hơn là các trang trại chăn
nuôi hỗn hợp. Bê thuộc các giống bò thịt có tầm vóc lớn hay bê ñực hướng sữa thích hợp với
kiểu vỗ béo này (không cần thời kỳ nuôi bê sinh trưởng kéo dài).
c. Vỗ béo bò non
ðối tượng vỗ béo phổ biến nhất hiện nay ở các nước là bê (cả ñực và cái) ở ñộ tuổi từ 1-
1,5 tuổi (bò non). Thức ăn tinh trong khẩu phần không dưới 30% giá trị năng lượng và có thể
tăng lên ở giai ñoạn cuối. Trước khi ñưa vào vỗ béo ñàn bê ñã trải qua một thời kỳ nuôi sinh
trưởng theo một trong các phương thức ñã trình bày trong các mục 4.2-4.4. Bê ñực hướng sữa
không làm giống cũng có thể vỗ béo trước khi giết thịt ở dộ tuổi này.

thiếu cơ xanh. Hiện nay ở các nước tiên tiến thức ăn ủ xanh thậm chí ñược sử dụng quanh
năm vì cho ăn thức ăn này lấy từ silo rất tiện lợi cho việc phối trộn với thức ăn tinh và thức
ăn bổ sung ñể tạo thành khẩu phần hoàn chỉnh (TMR) có thể phân phát dễ dàng thông qua
một hình thức cơ giới hoá hay tự ñộng hoá.
Thức ăn ủ xanh không cân bằng dinh dưỡng nên khi nuôi bò cần bổ sung thêm các
chất dinh dưỡng cần thiết. Là thức ăn thô có năng lượng tiêu hoá thấp nên nếu chỉ cho ăn
thức ăn ủ xanh sẽ không ñảm bảo ñược tốc ñộ sinh trưởng tối ưu cho bò thịt. Do vậy, một
lượng thức ăn tinh nhất ñịnh (25-30% hoặc cao hơn) phải cho ăn cùng ñể cung cấp ñủ năng
lượng cho nhu cầu sản xuất của bò. Khối lượng thức ăn ủ xanh trong khẩu phần phụ thuộc
chất lượng và hàm lượng axit hữu cơ trong ñó. Khẩu phần thích hợp chứa 50-65% thức ăn ủ
xanh. Nếu thức ăn ủ xanh chứa nhiều axit thì phải trung hoà bớt bằng dung dịch nước vôi
1,5-2%, hay dùng dung dịch ammoniac 25% với 12-14 lít/tấn. Ngoài ra, trong khẩu phần nên
có một lượng cỏ khô khoảng 5-15% (0,8-1kg/100kg P).
Thức ăn ủ xanh thường nghèo protein và ñường, do ñó ñể nâng cao hiệu quả sử dụng
thức ăn ủ xanh trong khẩu phần cần bổ sung thêm các thức ăn chứa nhiều N/protein và ñường
dễ tan. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng bổ sung urê trong khẩu phần ñược cân bằng tốt hoàn
toàn thoả mãn ñược nhu cầu protein của bò. Tuy nhiên, nếu kết hợp ñược bổ sụng NPN với
một nguồn protein thực thì bò sẽ cho năng suất tốt hơn với giá thành thoả ñáng khi vỗ béo bò
bằng thức ăn ủ xanh.
Khi vỗ béo bò bằng thức ăn ủ xanh cần bổ sung thêm vitamin A vì mặc dù trong thức ăn
ủ xanh có khá nhiều caroten nhưng khả năng chuyển hoá caroten thành vitamin A của bò thịt
không ñược tốt. Ngoài vitamin A không cần bổ sung thêm các loại vitamin khác nếu như bò
ñược chiếu sáng ñầy ñủ (Vitamin D ñược hình thành dưới da).
Khi vỗ béo bằng thức ăn ủ xanh cũng cần phải bổ sung các loại khoáng như canxi,
phốtpho, muối, lưu huỳnh, coban, sắt… Khoáng có thể bổ sung theo một tỷ lệ nhất ñịnh trong
khẩu phần hoặc cung cấp dưới dạng bò có thể ăn tuỳ thích. Một hỗn hợp khoáng tốt ñể bổ
sung cho ngô ủ xanh chứa 2 phần là dicanxiphốtphát và 1 phần là hỗn hợp các loại khoáng vi
lượng.
c. Vỗ béo bằng phụ phẩm
Hình thức này có thể áp dụng ở những nơi có công nghiệp chế biến:

Bò trước lúc giết thịt thường ñược chuyển (hay mua) về ñể vỗ béo ở một nơi tập trung.
Bò mới ñưa vào vỗ béo cần khoảng 2 tuần ñể thích nghi với môi trường mới. Có thể áp dụng
các biện pháp sau ñây ñể ốn ñịnh bò mới ñưa vào vỗ béo:
1. Nhốt tách riêng những bò mới ñưa vào vố béo nhằm không cho chúng ở cạnh những
con cũ ñã thích ứng rồi. Khi vỗ béo trong chuồng, ñàn bò vỗ béo thường ñược chia nhóm gồm
10 con cùng giới tính, cùng tuổi và khối lượng ở trong cùng ô chuồng. Nên tránh thay ñổi cấu
trúc ñàn vỗ béo hoặc di chuyển ñàn bò vỗ béo ñi chỗ khác vì mọi sự thay ñổi này ñều làm
giảm mức tăng trọng của ñàn bò.
2. Bò mới phải ñược nghỉ ngơi ở những khu vực khô ráo, sạch sẽ và không ñược nhốt bò
quá chật chội.
3. Trong thời gian này cần ñánh dấu, thiến (nếu chưa thiến trước ñó), kiểm tra sức khoẻ
cơ thể, tẩy giun sán, phun ve và tiêm phòng cho bò.
4. Nơi tiếp nhận bò nên làm dạng chuồng chỉ có mái che ñể bò có thể tự do chọn hoặc ở
dưới mái hay ở ngoài trời.
5. Cung cấp ñầy ñủ nước uống sạch có tác dụng cực kỳ quan trọng vì bò có xu hướng bị
mất nước sau thời gian vận chuyển dài.
6. Nếu chăn thả, nên áp dụng hệ thống chăn thả theo giờ ñối với bò mới vỗ béo. Nếu
nuôi nhốt thì thành phần thức ăn cho bò mới ñưa vào vỗ béo phải thay ñổi từ từ ñể ñạt tới
thành phần thức ăn vào thời ñiểm bắt ñầu vỗ béo. Khối lượng thức ăn có thể tăng lên từ từ khi
thể trạng và hình dáng của bò cho thấy bò không còn sụt cân nữa.
Trường ðại học Nông nghiệp 1 - Giáo trình Chăn nuôi Trâu Bò 234

b. Quản lý bò trong thời gian vỗ béo
- Xác ñịnh khối lượng bò và lượng thu nhận thức ăn
Khối lượng của từng con bò phải ñược xác ñịnh tại thời ñiểm bắt ñầu vỗ béo và ghi
chép lại hàng tháng cho ñến khi xuất bò ñi. Nếu thấy bò hơi giảm khối lượng hay tăng trọng ít
so với tháng trước thì phải khám kiểm tra xem bò có bị bệnh không, có bị ký sinh trùng

VI. CÁC MÔ HÌNH TỔ CHỨC CHĂN NUÔI BÒ THỊT
Các cơ sở (trang trại/nông hộ) chăn nuôi bò thịt có thể ñược tổ chức theo nhiều mô hình
khác nhau tuỳ theo các công ñoạn mà cơ sở ñó tham gia trong dây chuyển chăn nuôi bò thịt
(hình 9.5). Nhìn chung, các cơ sở chăn nuôi bò thịt thuộc một trong các nhóm mô hình tổ
chức chính như sau: (1) Chăn nuôi bò sinh sản, (2) Chăn nuôi bê sinh trưởng, (3) Chăn nuôi
bò vỗ béo và (4) Chăn nuôi tổng hợp (kết hợp nuôi cả bò sinh sản với nuôi bò lấy thịt).
Trường ðại học Nông nghiệp 1 - Giáo trình Chăn nuôi Trâu Bò 235

6.1. Mô hình chăn nuôi bò sinh sản (mẹ-con)
ðây là mô hình tổ chức chăn nuôi mà ở ñó có một ñàn bò sinh sản (thường gồm cả bò
ñực và bò cái) dùng ñể sản xuất bê cai sữa bán cho các cơ sở nuôi bê sinh trưởng hay bán cho
các cơ sở chăn nuôi bò sinh sản khác (dùng ñể thay thế ñàn bò giống).
Việc xây dựng một ñàn bò sinh sản là cả một chương trình lâu dài. Cơ sở chăn nuôi này
ñòi hỏi có nhiều ñất ñai. Hoạt ñộng chăn nuôi của các cơ sở này diễn ra quanh năm nên cần
phải ñảm bảo ñủ thức ăn, nước uống, chuồng trại cho ñàn bò trong suốt cả năm.

sữa

Bê ñực
sau cai sữa &
sinh trưởng
Bê cái
sau cai sưa &
sinh trưởng

VỖ BÉO
(3 tháng)
LÒ MỔ
BÁN GIỐNG

Trường ðại học Nông nghiệp 1 - Giáo trình Chăn nuôi Trâu Bò 236

Khi mục tiêu của cơ sở chăn nuôi là nuôi bò sinh sản có ñăng ký giống ñể sản xuất bê
giống thuần bán cho các cơ sở chăn nuôi bò sinh sản khác thì cần phải ñầu tư vốn lớn vào ñàn
bò giống thuần. Gây tạo một ñàn bò giống thuần có ñăng ký nghĩa là cả bò cái và bò ñực ñều
phải thuộc một giống bò thuần và ñược ñăng ký theo cùng một hệ thống quản lý giống quốc
gia. Người chăn nuôi phải theo dõi và ghi chép chính xác hồ sơ của bê và ñăng ký những con
bê thuần ñáp ứng ñược yêu cầu ñể bán cho các cơ sở chăn nuôi khác làm giống.
Nếu cơ sở muốn chăn nuôi bê ñực làm giống thì phải có chương trình chọn lọc dựa
trên những tính trạng kinh tế quan trọng như khả năng sinh sản, khả năng nuôi con, tính dễ ñẻ,
tốc ñộ sinh trưởng và chất lượng thân thịt. ðồng thời các cơ sở này cũng phải chọn lọc cẩn
thận bò cái ñể làm mẹ ñực giống.
b. Gây tạo ñàn bò sinh sản thương phẩm

ñoạn vỗ béo ñể có ñược sản phẩm ñáp ứng ñược yêu cầu của thị trường. Chính vì thế có một
số cơ sở thương phẩm ñầu tư chuyên vỗ béo bò. Bê/bò từ các cơ sở chăn nuôi bò sinh trưởng
Trường ðại học Nông nghiệp 1 - Giáo trình Chăn nuôi Trâu Bò 237

hay từ các cơ sở chăn nuôi bò sinh sản ñược mua về vỗ béo trong một thời gian ngắn (2-3
tháng) rồi bán ñể giết thịt.
6.4. Mô hình chăn nuôi tổng hợp
ðây là mô hình tổ chức chăn nuôi bò thịt mà ở ñó có cả ñàn bò sinh sản và ñàn bò nuôi
lấy thịt. Hầu hết bê sinh ra từ những ñàn bò sinh sản thương phẩm nhỏ ñều ñược bán sau khi
cai sữa. Tuy nhiên, ở những cơ sở chăn nuôi hỗn hợp này có một số cách thức khác như sau:
- Cai sữa bê và nuôi tiếp cho ñến 1 năm tuổi thì bán.
- Tập cho bê ăn sớm ngay trong thời gian bú sữa, sau cai sữa nuôi dưỡng ñầy ñủ và bán
lúc 12-15 tháng tuổi cho các cơ sở vỗ béo.
- Cai sữa bê rồi nuôi theo khẩu phần bê sinh trưởng (chăn thả hoặc nuôi nhốt tuỳ theo
hoàn cảnh), sau ñó ñưa vào vỗ béo trước khi giết thịt vào lúc 18-24 tháng tuổi.
VII. CÁC HÌNH THỨC MARKETING SẢN PHẨM CHĂN NUÔI BÒ THỊT
Khi tổ chức chăn nuôi bò thịt theo bất kỳ một mô hình nào thì người chăn nuôi cũng
phải có kế hoạch mua bán bò chi tiết nhằm thu ñược lợi nhuận cao nhất. Người chăn nuôi sẽ
nuôi bò thịt ñến một giai ñoạn mà chúng ñáp ứng ñược yêu cầu của người mua/thị trường thì
bán ñể thu ñược giá tốt nhất. Trên thế giới có nhiều phương thức mua bán bò khác nhau tuỳ
theo truyền thống, trình ñộ phát triển và hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước. Trong một nền kinh
tế ñịnh hướng thị trường như ở nước ta, có thể tham khảo các phương thức marketing sau ñây
ñể áp dụng.
7.1. Mua bán bò trực tiếp
ðây là phương thức mà người bán bò bán trực tiếp cho người mua bò mà không qua
một ñại lý hay người môi giới nào cả. Việc mua bán bò sống có thể diễn ra ngay trên trang
trại chăn nuôi, nơi thu gom hay một ñịa ñiểm không mang tính chất của một chợ mua bán.

(ñấu giá) xong, người mua sẽ tổ chức việc vận chuyển số bò mua ñược ñến một nhà máy chế
biến thịt, ñến nơi vỗ béo hay chuyển ñi xuất khẩu.
7.3. Mua bán theo hợp ñồng trước
ðây là phương thức mua bán bò theo sự thoả thuận trước giữa người chăn nuôi và
người mua bò dưới dạng hợp ñồng. Người bán bò chịu trách nhiệm cung cấp cho người mua
một số lượng bò cụ thể với khối lượng và một số ñiều kiện nhất ñịnh, vào một thời gian ñược
ấn ñịnh sẵn và theo giá ñược thoả thuận trước. Phương thức này giúp người chăn nuôi tránh
ñược rủi ro do biến ñộng giá cả theo thời gian. Tuy nhiên, giá ñã thoả thuận cũng có thể bị
chiết khấu nếu bò xuất bán không ñáp ứng ñược những yêu cầu như ñã thoả thuận trong hợp
ñồng. Một nhóm người chăn nuôi có thể hoạt ñộng cùng nhau như là một liên minh ñể ký hợp
ñồng với những người mua ñược ưa thích (xem phần dưới).
7.4. Bán lẻ sản phẩm thịt bò
Một số cơ sở chăn nuôi có thể xây dựng lò mổ và thiết bị chế biến/bao gói các sản
phẩm thịt bò riêng ñể bán lẻ trực tiếp cho người tiêu dùng. Người chăn nuôi thường phải tạo
ra một chợ ñịa phương hay cửa hàng khu vực ñể bán ở ñó những phần thịt hay sản phẩm thịt
bò ñặc sản của mình. Phương thức này ñòi hỏi có thời gian ñể tạo dựng và có thể ñòi hỏi phải
có nguồn cung cấp sản phẩm ổn ñình hàng năm hay theo mùa vụ. Người bán phải tuân thủ
những yêu cầu nhất ñịnh về kiểm dịch thú y và phải xin phép ñịa phương.
ðối với các sản phẩm thịt bò kiểu này, việc mua bán theo kiểu quan hệ. Bước ñầu tiên
trong quan hệ ñó là xác ñịnh ai là khách hàng của mình (không phải là bất cứ ai). Nguồn
khách hàng này bao gồm những người muốn có những sản phẩm ñặc biệt và nhu cầu của họ
phải là ưu tiên xem xét hàng ñầu trước khi sản xuất sản phẩm. Trước tiên thỉnh thoảng phải
trao ñổi với những khách hàng tiềm năng và tìm hiểu xem những ñặc tính nào của sản phẩm
thịt bò ñược họ ñánh giá cao - chất lượng tốt, giá thấp, tỷ lệ nạc cao, phân phối tại nhà, một số
phần nhất ñịnh của thân thịt, v.v… Xây dựng nhãn hiệu/bao gói và phương thức marketing ñể
có thể bao hàm ñược những yếu tố này và sau ñó giới thiệu với những khách hàng dự ñịnh.
Khi ñã hội tụ ñủ các ñiều kiện trên thì bắt ñầu xây dựng sản phẩm. ðây là cách tiết
kiệm nguồn lực, kể cả nguồn vốn có hạn. Xây dựng sản phẩm trước rồi mới tìm thị trường
cho nó thì vừa rủi ro lại vừa kém hiệu quả. Cần nhớ rằng “sản phẩm” ở ñây chứa ñựng nhiều
Trường ðại học Nông nghiệp 1 - Giáo trình Chăn nuôi Trâu Bò

thù ñịa lý, hay một mối quan tâm chung về tỷ lệ nạc chẳng hạn. Các liên minh này cho phép
cả người chăn nuôi bò sinh sản cũng có thể chia sẻ một cách bình ñẳng lợi nhuận tiềm tàng
thông qua việc duy trì quyền sở hữu và cải thiện sự ổn ñịnh của bò thịt qua việc nhóm những
gia súc cùng loại với nhau. Tuy nhiên, các liên minh không chịu trách nhiệm bảo ñảm lợi
nhuận. Chỉ những con bò ñáp ứng ñược yêu cầu chi tiết của thị trường sẽ ñược thưởng. Chăm
sóc nuôi dưỡng tốt chính là chìa khoá. Các liên minh có thể cung cấp thông tin phản hồi về
chất lượng thân thịt cho các nhà sản xuất.
7.6. Hợp tác xã tiêu thụ
Một dạng liên minh phổ biến trong ngành hàng bò thịt là hợp tác xã tiêu thụ. Một hợp
tác xã (HTX) như vậy là một tổ chức kinh doanh do người chăn nuôi làm chủ, hoạt ñộng theo
quy chế dân chủ và tuân thủ luật pháp. Các HTX có thể hoạt ñộng dưới dạng gom bò bán theo
những nhóm có các ñặc ñiểm riêng nhằm ñáp ứng ñược yêu cầu của khách hàng. Số lượng và
sự ñồng ñều của bò trong từng nhóm có ảnh hưởng lớn ñến giá cả bán bò. Do vậy các HTX
Trường ðại học Nông nghiệp 1 - Giáo trình Chăn nuôi Trâu Bò 240

dịch vị tiêu thụ bò sẽ rất có lợi cho những người chăn nuôi quy mô nhỏ. Tuy nhiên nó ñòi hỏi
những người chăn nuôi phải có sự cam kết nghiêm túc, có sự ñầu tư thêm về thời gian, công
sức và rõ ràng là phải sẵn sàng “hợp tác” với nhau. ðể cho các HTX hoạt ñộng ñược tốt thì
các ñiều quy ước phải chắc chắn, công bằng và ñược tuân thủ nghiêm. Phải có quy ước về tiêu
chuẩn chất lượng của nhóm; những xã viên nào có bò không ñáp ứng ñược tiêu chuẩn thì
không ñược phép bán qua HTX.
CÂU HỎI ÔN TẬP:
1. Trình bày quy luật phát triển các mô trong thân thịt và ứng dụng các quy luật này
trong chăn nuôi bò thịt?
2. Trình bày các chỉ tiêu ñánh giá năng suất thịt và chất lượng thân thịt.
3. Trình bày các chỉ tiêu ñánh giá chất lượng thịt của bò.
4. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng ñến năng suất và chất lượng thịt bò.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status