Tài liệu Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái mắn đẻ sai con -Chương 4 doc - Pdf 87

32
Chơng IV
NUÔI DỡNG Và CHĂM SóC
LợN Nái, LợN CON
I. Nuôi DƯỡNG và CHăm sóC LợN NáI siNH SảN
Nuôi dỡng có tính chất quyết định đến năng suất, nhất là nuôi nái sinh sản, bảo đảm đủ dinh
dỡng khi có chửa và lúc nuôi con. Còn phải theo hớng sản xuất của mỗi giống lợn khác
nhau, để có biện pháp nuôi dỡng hợp lý.
1. Lợn cái tơ
Giai đoạn nuôi để lợn phát triển theo hớng giữ làm giống là không nuôi béo.
Lợn có khối lợng từ 25 - 55kg, nhu cầu năng lợng cần tới 4000 - 4500 Kcal, lợn từ 55 -
80kg cần 7000 Kcal.
Nếu một kg hỗn hợp có năng lợng từ 2800-3000 Kcal, lợn có khối lợng 25-55kg cho ăn
ngày 15-18kg lợn có khối lợng 55-80kg cho ăn mỗi ngày 2kg. Tỷ lệ đạm tiêu hóa trong 1kg
thức ăn hỗn hợp là 14% ở loại 25-55kg, 13% ở loại 55-80kg.
2. Lợn nái chửa
Yêu cầu chính của giai đoạn nuôi này cần đảm bảo đủ dinh dỡng để bào thai phát triển, đồng
thời cho sinh trởng của lợn mẹ đẻ lứa đầu, do cơ thể còn tăng trởng.
Lợn nái chửa cần đợc chăm sóc chu đáo, tránh va chạm và không vận chuyển xa, dễ gây xảy
thai.
Trớc khi đẻ 2 tuần, chuyển lợn sang ô nuôi lợn đẻ và nuôi con.
Tẩy giun sán nhằm tránh lây từ mẹ sang con.
Trớc khi đẻ 1 tuần, giảm thức ăn đạm để phòng bệnh sng vú do căng sữa sau khi đẻ.
Lợn chửa cần hạn chế thức ăn nhiều tinh bột và cho thêm rau xanh. Ăn rau nhằm bổ sung
một số nguyên tố cho lợn nái, đồng thời tăng độ choán trong dạ dày để lợn không có cảm giác
đói. Cần tăng chất khoáng và vitamin để lợn chuyển hóa tốt thức ăn và phòng táo bón.
Thời gian lợn chửa kỳ 1, cho ăn hạn chế (60-70% khẩu phần hàng ngày), kéo dài 90 ngày, sau
đó cho ăn đầy đủ theo quy định.
Đối với lợn nái tơ chửa lần đầu dới 24 tháng tuổi, có thể tăng khẩu phần lên 10-15%, vì
ngoài việc nuôi bào thai còn cho sự phát triển cơ thể của lợn nái.
Lợn nái chửa cho uống hàng ngày 6-8 lít nớc sạch.

hết nhau, chăm sóc nái và đàn con.
Nhau thờng ra sau khi đẻ con cuối cùng 15-20 phút. Không để lợn mẹ ăn nhau ảnh hởng
đến tiết sữa.
c. Chăm sóc lợn nái sau khi đẻ
Sau khi ra nhau dùng nớc ấm rửa sạch vú và âm hộ.
Thay rơm ớt ẩm bằng rơm mới khô cho nái nằm.
Cho uống đầy đủ nớc sạch có pha ít muối vì sau khi đẻ lợn thờng khát do mất máu.
Để tránh bệnh sng vú cho lợn mẹ ăn cháo trong 1-2 ngày đầu. Cho thêm rau tơi non phòng
táo bón.
Sau 3 ngày cho lợn nái ăn thức ăn theo

quy định để đảm bảo sản xuất sữa nuôi con.
Hàng ngày theo dõi lợn nái có bị viêm tử cung, âm hộ có mủ chảy ra không?
Nếu bị viêm vú thì vú sng đỏ, nóng cần đo nhiệt độ hàng ngày sau khi đẻ 2-3 ngày.
34
4. Sự tiết sữa của lợn
Sữa đầu:
Sữa đầu là sữa lợn mẹ tiết 2-3 ngày đầu sau khi đẻ. Sữa đầu có đủ chất dinh dỡng
và và kháng thể chống bệnh cho lợn con do mẹ truyền qua sữa.
Lợn con phải đợc bú sữa đầu của chính mẹ nó. Nếu muốn chuyển lợn con sơ sinh từ lợn mẹ
này sang lợn mẹ khác nuôi, cần để cho đàn con đợc bú sữa đầu 1-2 ngày của chính mẹ nó.
Lợn nái cho lợng sữa cao trong 21-22 ngày đầu, sau đó giảm dần. Lợng sữa nhiều hay ít
phụ thuộc vào tính di truyền của giống và nuôi dỡng con nái, ít phụ thuộc vào số con đẻ ra.
Do lợng sữa ổn định, nên số con đẻ ra nhiều thì khối lợng lợn con nhỏ, đẻ ít thì con to và
lớn hơn.
Trờng hợp lợn nái ăn cha đủ chất để sản xuất sữa nuôi con, lợn mẹ phải huy động chất dinh
dỡng trong cơ thể để đáp ứng nhu cầu sản xuất sữa nuôi con. Vì vậy lợn mẹ hao mòn cơ thể
nhanh phát sinh hiện tợng liệt chân sau, nhất là nái lai, động dục trở lại chậm, lứa đẻ tha
dần, lợn con chậm lớn, dễ bị loại thải.
Sữa mẹ là nguồn thức ăn có đầy đủ các chất dinh dỡng, không loại thức ăn nào có thể thay

Cần loại bỏ những con quá yếu, quá nhỏ sau khi nái đẻ xong. Lợn con để nuôi 10-12 con,
tơng đơng với số vú của mẹ là vừa. Nếu số con vợt số vú, có thể san cho con khác nuôi
với điều kiện chúng đã đợc bú sữa đầu 2 ngày của mẹ nó.
35
- Lợn con sau khi đẻ 1 giờ - 1 giờ 30 phút cần đợc bú mẹ, để vừa kích thích lợn mẹ đẻ tiếp,
lợn con tăng nhiệt chống lạnh. Để lâu hàm lợn con bị cứng không bú đợc lợn yếu dần. Lợn
tự tìm vú bú, con khỏe thờng chiếm vú ngực, con yếu bú vú bụng.
Khác với các gia súc kbác, lợn nái không có dự trữ sữa trong bầu vú, chỉ tiết sữa khi có tác
động thần kinh do lợn con kích thích vú khi bú. Do vậy, thời gian mút vú mẹ có thể từ 5 - 7
phút, nhng sữa mẹ tiết ra đợc chỉ khoảng 25 - 30 giây.
Sữa tiết ra thể hiện rõ nhất là con mẹ kêu ịt ịt, lúc đó sữa bắt đầu tiết, lợn con mút chặt đầu vú,
hai chân trớc đạp thẳng vào bầu vú, nằm yên, mút theo đợt tiết sữa của lợn mẹ. Sự tiết ra do
kích tố oxytoxin đợc tiết vào máu, kích thích tiết sữa cho nên sữa ở ngực tiết ra nhiều hơn, từ
đó có thể điều chỉnh lợn con nhỏ yếu bú vú ngực để chúng phát triển đồng đều.
Sau thời gian bú vài lần, lợn con có phản xạ bú đúng vú đợc chọn lúc đầu, con khác không
tranh đợc. Thời gian tiết sữa ngắn nên cần tránh những tác động làm ngắt quãng sự tiết sữa
của lợn mẹ và bú sữa của đàn con.
Trong những ngày đầu lợn bú từ 15-20 lần/ngày. Mỗi lần bú lợng sữa tiết ra khoảng 20-
40gam.
Sau 8 ngày tuổi, lợn con có thể tăng khối lợng gấp 1,2 - 1,5 lần; sau 3 tuần tuổi lợn tăng gấp
4 lần so với lúc sơ sinh. Đến 21 ngày tuổi lợn lai và ngoại thuần có thể đạt từ 3,5 - 5 kg/con.
ở lợn nội do trọng lợng sơ sinh thấp: 0,5 - 0,65 kg/con và sức tiết sữa thấp nên tới 25 ngày
cha vợt quá 2,5 - 3 kg/con. Vì vậy lấy khối lợng toàn ổ lúc 21 ngày tuổi để đánh giá khả
năng cho sữa của con mẹ. Lợn lai và lợn ngoại nuôi ở nớc ta đạt 45-50 kg toàn ổ là tốt. Lợn
nội 25 - 29 kg/ổ. Trong 3 ngày đầu sữa của con nái có đủ dinh dỡng cũng các chất kháng
thể đảm bảo cho lợn con tránh nhiễm bệnh. Chất sắt có trong sữa giảm dần, vì vậy cần tiêm
chất sắt để hỗ trợ cho lợn con. Thờng sau khi đẻ 4 ngày, tiêm 2cc dextran Fe loại có hàm
lợng 100 mg/cc để phòng bệnh thiếu máu.
Sau 21 ngày nuôi con lợng sữa mẹ giảm dần lợn con lại có nhu cầu dinh dỡng cao để phát
triển. Vì vậy phải cho lợn con ăn thêm những loạt thức ăn giàu dinh dỡng.

Thức ăn cho lợn con cần đủ chất dinh dỡng, gần đợc nh sữa mẹ, có độ ngọt thích hợp để
kích thích lợn con ăn.
Một công thức thức

ăn cho lợn con tập ăn th sau:
Tỷ lệ
%
Tỷ lệ
%
Bột sắn
Bột ngô
Đờng
Vi khoáng và sinh tố
40
15
10
0,5
Bột cá nhạt
Khô lạc
Bột xơng
Muối
20
10
2
0,5
3. Cai sữa lợn con
Lợn con đạt 7-8 tuần tuổi, tách khỏi mẹ, không còn đợc bú nữa.
Đối với con nái, chuyển sang chuồng khác để không nghe tiếng con hoặc thả chung vào với
nái chờ phối.
Cho lợn mẹ ăn tấm ngâm vài ngày để giảm hẳn tiết sữa. Lợn nái đã cạn sữa cho ăn thức ăn đủ

lãi.
A. Các loại thức ăn dùng trong chăn nuôi lợn
Khẩu phần thức ăn hàng ngày của lợn gồm các chất chính sau:
- Tinh bột (Bột đờng)
- Đạm (Protein).
- Khoáng (Đa lợng, vi lợng).
- Sinh tố (Vitamin).
Ngoài ra một số chất xơ, chất béo v.v... cần có một tỷ lệ nhất định trong khẩu phần.
a. Tinh bột
Là thức ăn cơ bản nhất trong chăn nuôi lợn, bao gồm: cám, ngô, khoai, sắn, rỉ đờng v.v..
Chất bột cung cấp nhiệt lợng để cơ thể điều hòa, cân bằng nhiệt và cung cấp nhiệt năng cho
mọi hoạt động của lợn.
Ăn nhiều tinh bột cơ thể sẽ chuyển hóa thành mỡ dự trữ lợn béo nhanh do tích lũy mỡ.
Thiếu chất bột cơ thể không hấp thu đợc đạm, lợn gầy nhanh, dễ kiệt sức.
Lợn nái nếu ăn nhiều tinh bột, lợn sẽ tích lũy nhiều mỡ, nhất là mỡ lá làm bào thai bị ép, ảnh
hởng đến sự phát triển của lợn con, con đẻ ra không đều, ít con.
Nhng với lợn nái nuôi con mà thiếu tinh bột, lợn mẹ sẽ không hấp thu đủ chất đạm để biến
thành sữa nuôi con, dễ dẫn đến bệnh sng vú và ít sữa.
Một số tính chất của các sản phẩm chứa tinh bột:
Cám: là thành phần chính trong thức ăn tinh của lợn. Trong khẩu phần cám chiếm tỷ lệ 40-
45% cho lợn lớn, còn lợn con không quá 25%, lợn ăn quá nhiều cám dễ bị ỉa chảy.
38
Cám nhanh hút ẩm nên dễ bị mốc, hôi, giảm các chất dinh dỡng và vitamin, thành thức ăn
độc. Cám không nên giữ lâu quá 1 tháng.
Ngô
: là thức ăn nhiều tinh bột. Ngô cũng không để lâu đợc dễ sinh nấm mốc và mất các
vitamin nh vitamin A có trong ngô vàng.
Tấm
: là loại tinh bột có giá trị. Cho lợn ăn sống, tấm cần đợc nghiền nhỏ để dễ tiêu. Với
lợn con tấm cần đợc nấu chín. Lợn ăn tấm thịt chắc và có màu trắng.

Thức ăn đạm gồm có:
+ Đạm thực vật:
- Đậu tơng có tỷ lệ đạm cao, ít sinh tố và khoáng, nhiều chất béo, cần phải rang khô để
sử dụng.
- Khô dầu đậu tơng có nhiều đạm.
- Bã đậu ít đạm, có nhiều sinh tố nên chỉ dùng làm thức ăn bổ sung.
- Khô dầu lạc là thức ăn có đạm cao, thiếu

sinh tố và khoáng.
39
+ Đạm động vật: dùng trong chăn nuôi chủ yếu là bột cá nguồn đạm cần thiết trong khẩu
phần ăn của lợn, vì có nhiều axit amin không thay thế. Nhng cũng không thể vợt ăn quá
10% trong khẩu phần hàng ngày.
Trong bột cá có bột cá nhạt tỷ lệ đạm cao dùng rất phổ biến trong chăn nuôi lợn.
Bột cá mặn (xác mắm) có tỷ lệ đạm thấp và tỷ lệ muối cao, khi sử dụng cần tính toán sao cho
lợng muối không quá 0,5% trong khẩu phần. Lợn ăn nhiều muối dễ bị ỉa chảy.
Chất đạm giúp tạo ra các phân tử trong thịt, xơng, lông da, phát triển tế bào để lợn tăng trọng
lợng cơ thể.
Lợn nái cần nhiều đạm để bào thai phát triển và sản xuất sữa nuôi con.
Đối với lợn hớng nạc, nhu cầu đạm cần cao hơn để sản xuất thịt.
Chất đạm do nhiều axit amin nh lizin, metionin, triptophan, acginin, valin v.v... tạo thành.
Trong đạm động vật (bột cá, bột tôm v.v...) có gần đủ các axit amin nói trên, nhng trong đạm
thực vật lại thiếu một số axit amin cần thiết. Vì thế, trong chăn nuôi lợn ngời ta thờng phối
hợp cả hai loại đạm động thực vật để bổ sung cho nhau và hạ giá thành thức ăn.
Trong thức ăn đạm, lizin co vai trò quan trọng nhất. Khẩu phần đủ lizin lợn tăng trọng nhanh,
hiệu quả sử dụng thức ăn tốt và chất lợng thịt cao.
Nhu cầu đạm tiêu hóa (%) trong thức ăn hỗn hợp cho các loại lợn
Loại lợn Nhu cầu đạm tiêu hoá trong
thức ăn hỗn hợp
Lợn con, lợn tập ăn 10-20kg


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status