NHỮNG CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG LĨNH VỰC
QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN
Trong lĩnh vực quản lý môi trường (QLMT) nói chung và quản lý chất thải rắn
(QLCTR) nói riêng, một hệ thống các công cụ được sử dụng nhằm đem đến hiệu quả về
bảo vệ môi trường cao nhất; bao gồm các công cụ quản lý mang tính kỹ thuật và các công
cụ quản lý hành chính…
Trên đây là một mô hình về hệ thống quản lý kỹ thuật chất thải rắn đô thị đang
được áp dụng. Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả của công tác QLCTR, ngoài biện pháp
quản lý kỹ thuật như trên, những nhà quản lý, những nhà hoạch định chính sách còn đề
xuất sử dụng nhiều biện pháp quản lý khác.
Cách tiếp cận truyền thống đối với vấn đề này là phương pháp “Ra lệnh và Kiểm
soát” (CAC) – tức là người ta tính toán và định ra những tiêu chuẩn cụ thể nào đó, rồi
buộc những người gây ô nhiễm phải đảm bảo xả thải dưới mức tiêu chuẩn cho phép. Nộp
phạt là hình thức mà những người gây ô nhiễm “trả giá” cho hành vi phát thải vượt quá
tiêu chuẩn của mình.
Tuy nhiên, khoản phạt bao nhiêu là hợp lý, là đủ tính răn đe? Điều đó còn phải bàn
cải nhiều bởi trên thực tế, các khoản phạt hiện nay cho những hành vi gây ô nhiễm còn
quá thấp, thấp đến nỗi mà người gây ô nhiễm chấp nhận chịu phạt hơn là trang bị các
phương tiện khống chế ô nhiễm. Bên cạnh đó, cách tiếp cận CAC không tạo ra những
động lực khuyến khích người gây ô nhiễm cải thiện hành vi, cải tiến công nghệ, chủ động
hơn trong các vấn đề QLMT .
Nguồn phát sinh
T n tr , phân lo i t i ồ ữ ạ ạ
ngu nồ
Thu gom
Bãi chôn l pấ
Trung chuy n và ể
v n chuy nậ ể
Tái s d ng, tái ử ụ
ch và x lýế ử
Nhằm hỗ trợ cho công tác QLMT nói chung và QLCTR nói riêng, các công cụ
khó khăn.
Điều thú vị có thể nhận thấy ở đây là phí người sử dụng được xem như là một loại
phí mang tính áng chừng. Nghĩa là một mức phí được đặt ra thông qua việc áng chừng về
tỷ lệ phát sinh chất thải nào đó cũng như nhu cầu về dịch vụ CTR. Người phát sinh chất
thải phải trả khoản phí áng chừng này, khoản phí này có thể được giảm nếu người phát
sinh chất thải đủ cơ sở để chứng minh rằng gánh nặng môi trường mà họ có thể gây ra
thấp hơn so với khoản phí đó.
Ngân hàng thế giới nghiên cứu hàng loạt những công cụ kinh tế ở Châu Mỹ La
Tinh phát hiện rằng họ tập trung tạo ra lợi tức hơn là cải thiện chất lượng môi trường.
Phí người sử dụng trả cho hoạt động thu gom hoặc đổ thải đa số được thiết lập ở
mức thấp và nguồn thu được tạo ra không trực tiếp hỗ trợ cho lĩnh vực CTR. Colombia
và Ecuador cho phép một thuế cố định về CTR được bổ sung vào hóa đơn tiền điện giúp
cho việc bù lại toàn bộ chi phí. Các thành phố Mỹ La Tinh khác gặp khó khăn trong việc
thực hiện phí người sử dụng với kết quả về chi phí bù đắp dao động từ 10-70%.
Một vài thành phố sử dụng thùng chứa có kích thước và hình dạng cố định rồi tính
phí dựa trên số thùng chứa đã được đổ thải. Những thành phố khác sử dụng những túi đặc
biệt có kích cỡ nhất định và bán những túi đó với giá có thể bù đắp các chi phí dịch vụ.
Một nghiên cứu năm 1992 về 10 thành phố ở Mỹ sử dụng các túi 32 gallon được
dán nhãn và bán với giá 1,5 USD/túi tương ứng với phí bù cho việc thu gom CTR. Phí
khác nhau do số lượng khác nhau dẫn đến các hộ gia đình giảm 18% rác thải.
2. Các loại thuế
Các loại thuế được áp dụng trong lĩnh vực này bao gồm thuế bất động sản, thuế thu
nhập với một tỷ lệ hợp lý nào đó, thuế ô nhiễm, thuế đánh vào sản phẩm…. Ở đây, một
loại thuế đáng chú ý là “thuế xanh”/thuế sinh thái (Green-tax) được thiết kế để ảnh
hưởng lên việc tiêu thụ sản phẩm, phát sinh chất thải, tái sử dụng –tái chế chất thải và các
hành vi gây ô nhiễm khác.
Columbia, Brazil và Venezuela thực hiện một thuế lên việc tiêu thụ gỗ. Điều này
đã dẫn đến kết quả chất thải từ hoạt động khai thác và chế biến gỗ giảm, đồng thời
khuyến khích hoạt động tái chế những sản phẩm liên quan đến gỗ.
Brazil điều chỉnh tỷ lệ đóng góp về nguồn thu từ thuế giá trị gia tăng để cấp vốn
quỹ này có thể được hỗ trợ bởi các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.
Như vậy, những nguồn thu từ những công cụ kinh tế vừa trình bày ở trên cho
thấy rằng thu nhiều hơn là cung cấp sự hỗ trợ tài chính cho việc cải thiện các vấn đề
CTR; nhiều hơn là ảnh hưởng tới hành vi của những người phát thải, những người gây ô
nhiễm và những người sử dụng dịch vụ.
II. Nhóm công cụ kích thích đầu tư
Các công cụ kích thích đầu tư có thể thông qua:
- Chi phí đổ thải
- Các giấy phép kinh doanh chất thải
- Các chính sách, thủ tục
- Những luật nghiêm khắc…
Có thể nhận thấy rằng tiết kiệm tiền là một trong những mục đích của nhà sản xuất.
Tiết kiệm tiền có thể thông qua việc giảm trọng lượng sản phẩm/bao bì, từ đó có thể giảm
chi phí cho nguyên/nhiên liệu sản xuất cũng như chi phí vận chuyển…
Rõ ràng, giảm trọng lượng sản phẩm/bao bì sẽ trực tiếp làm giảm chất thải từ quá
trình sản xuất và gián tiếp làm giảm chất thải từ việc tiêu thụ. Chi phí đổ thải/phí chôn
lấp là một trong những động lực dẫn đến việc giảm thiểu chất thải. Việc giảm thiểu có
thể thực hiện thông qua việc làm nhẹ, thay thế vật liệu, tái chế-tái sử dụng, làm compost,
…
Coca-Cola giảm trọng lượng những lon soda khoảng 41%.
Federal Express giảm trọng lượng những bao thư khoảng 40%.
Chôn lấp luôn là phương pháp thải bỏ chất thải với giá thành thấp nhất (50% cho
việc làm compost, 10-20% cho việc chuyển hóa chất thải thành năng lượng). Pháp, Ý ,
Anh, Hà Lan áp dụng phí chôn lấp. Từ năm 1993, phí chôn lấp ở Pháp đã được dành
riêng cho quỹ quốc gia nhằm xúc tiến cách tân phương tiện xử lý chất thải, cung cấp ngân
sách cho việc nâng cấp bãi chôn lấp và đối phó tại khu vực bị ô nhiễm.
Khi chính phủ cho phép “kinh doanh” chất thải, một thị trường chất thải được hình
thành. Đó là cách thức mà một công ty có thể mua những khoản tiết kiệm phát thải của
một công ty khác. Công cụ kinh tế được sử dụng trong trường hợp này có thể gọi là “giấy
phép kinh doanh chất thải” (quota chất thải). Rõ ràng công cụ kinh tế loại này kích
- Biện pháp giáo dục, những chiến dịch nâng cao ý thức cộng đồng có mục tiêu
- Ký quỹ - hoàn trả (deposit – refund)
- Hệ thống hoàn trả nhà sản xuất (take-back)
- Phạt vi cảnh, phạt dân sự
- Hệ thống chất thải rõ ràng
- Luật có trách nhiệm pháp lý cao
- Danh sách đen những người gây ô nhiễm…
Chúng ta biết rằng, một thành phố không thể sạch nếu người dân không hợp tác
với các dịch vụ CTR được cung cấp. Nếu người ta vứt rác hoặc những túi chứa rác ra lề
đường một cách mất trật tự hoặc không đúng thời điểm thu gom thì thành phố vẫn trông
dơ bẩn, nhếch nhác bất chấp hệ thống thu gom CTR được trang bị đầy đủ.
Biện pháp chính trong công cụ này là giáo dục, bao gồm cả những chiến dịch
nâng cao nhận thức cộng đồng có mục tiêu.
Công cụ ký quỹ hoàn trả và hệ thống hoàn trả lại nhà sản xuất (take back) là
những động cơ làm giảm phát sinh chất thải và tăng cường tái chế.
Phần lớn những hệ thống ký quỹ hoàn trả là tự nguyện, hình thức phổ biến nhất,
mềm mỏng nhất là việc trả lại những chai và lon nước giải khát sau khi sử dụng. Tuy
nhiên cũng cần có những hệ thống ký quỹ -hoàn trả bắt buộc đối với sự tồn tại của những
chất thải nguy hại đặc biệt. Mexico không cho phép bán một bình ắcquy xe hơi mới trừ
khi cái cũ được trả lại.
Hệ thống take-back được tập trung trước tiên vào việc tái chế bao gói.
Năm 1991, luật đóng gói của Đức ra đời, yêu cầu nhà sản xuất thu hồi và tái chế
những phần được xác định của bao gói, sau đó nộp lại những báo cáo để chứng minh
những mục tiêu của họ đã được đáp ứng. Các nhà sản xuất ở Đức có thể tránh được việc
tự mình thu hồi và tái chế bao gói chỉ khi họ đảm bảo rằng có những cơ sở tái chế hợp
pháp thu gom và tái chế bao gói của họ - thông qua việc đặt nhãn hiệu Green-Dot trên sản
phẩm. Đối với những công ty nước ngoài muốn đưa sản phẩm của họ vào thị trường nước
Đức thì hoặc là họ sẽ nhận lại những bao bì và trả một mức phí thu gom, vận chuyển cao
hoặc là họ có thể giao cho một công ty nào đó của Đức đóng gói sản phẩm của họ với chi
phí cao hơn mức cần thiết.
trong nước và đa quốc gia có liên quan đến những giao dịch thương mại “sai lạc”, mờ ám
hoặc có các hoạt động gây ô nhiễm môi trường. Các danh sách này được đăng trên
internet, phương tiện tiếp cận dễ dàng và nhanh chóng trong thời đại hiện nay.
Tóm lại,
Ở một số quốc gia Châu Âu, không phải tất cả tiền được tạo ra thông qua công cụ
kinh tế là cần cho mục đích cải thiện môi trường. Sự gia tăng thuế sinh thái đang được
thiết lập ở một mức độ cao nhằm ngăn cản sự phát sinh chất thải và sự ô nhiễm; nguồn
thu thặng dư hiện đang được sử dụng nhằm giảm những thứ thuế khác.
Ở Anh, nguồn thặng dư từ thuế chất thải và thuế năng lượng được sử dụng để giảm
bớt phần đóng góp cho bảo hiểm xã hội mà người sử dụng lao động phải trả.
Nguồn thu từ thuế CO
2
của Ý được chia 60% cho bảo hiểm xã hội, 31% cho hoạt
động bồi thường và 9% cho tiết kiệm năng lượng và cải thiện môi trường.
Nghiên cứu của Ngân hàng thế giới về những công cụ kinh tế được áp dụng ở Mỹ
La Tinh đã kết luận rằng: mặc dù chúng có thể cải thiện việc quản lý môi trường, song
chúng chỉ đơn thuần đòi hỏi nhu cầu quản lý cao và không cho thấy một sự giải quyết
nhanh chóng những vấn đề có liên quan nhiều đến công cụ CAC truyền thống.
IV. Tiêu chuẩn lựa chọn công cụ
Việc thiết lập những công cụ kinh tế đòi hỏi nghiên cứu cẩn thận. Bởi vì những
công cụ này được hiểu như là phương tiện tác động đến đầu tư, hành vi và những áp lực
thị trường, chúng cũng có thể có những tác động ngược lại lên thương mại hoặc sự cạnh
tranh giữa các bang hay các quốc gia.
Thông qua việc xem xét các công cụ kinh tế khác nhau, những tiêu chuẩn đánh giá
sau được đề nghị:
- Hiệu quả môi trường: phải đạt được sự cải thiện môi trường như mong muốn, chẳng hạn
giảm phát thải, tăng hiệu quả tái chế, giảm khí thải từ hoạt động vận chuyển và chôn lấp,…
- Hiệu quả kinh tế: tạo ra sự khuyến khích đầu tư và đổi mới công nghệ trong việc giảm chi phí
kiểm soát ô nhiễm.
- Hiệu quả chi phí hành chính: phù hợp với mức độ sẵn có và khả thi về năng lực cũng như kỹ