Tài liệu Báo cáo tốt nghiệp: "Xây dựng mô hình học kết hợp để dạy sinh học 10 (THPT) nâng cao với sự hỗ trợ của phần mềm Moodle" - Pdf 10



TRƯỜNG………………
KHOA………………… WX

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

Xây dựng mô hình học kết hợp để
dạy sinh học 10 (THPT) nâng cao với sự
hỗ trợ của phần mềm Moodle

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, tôi đã nhận
được sự ủng hộ và giúp đỡ hết sức nhiệt thành từ tập thể, gia đình, cá
nhân và bè bạn.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn
Văn Hiền, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong
mọi mặt để tôi tiến hành khóa luận này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tập thể thầy, cô trong Bộ
môn Phương Pháp Dạy học Sinh Học, Khoa Sinh Học, Trường ĐHSP
Hà Nội đã giúp đỡ tạo điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn
thành khóa luận.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, thầy cô và bè bạn

1

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 8
1.1. Hình thức tổ chức dạy học 8
1.1.1. Khái niệm 8
1.1.2. Các hình thức tổ chức dạy học 9
1.1.3. Hình thức tổ chức dạy học có sự hỗ trợ của CNTT & TT 12
1.2. Học kết hợp (Blended Learning - BL) 13
1.2.1. Khái niệm học kết hợp 13
1.2.2. Các phương án dạy học kết hợp 17
1.2.3. Đặc điểm của học kết hợp - Blended Learning 18
1.2.4. Lộ trình triển khai 19
1.3. Thực trạng khai thác và sử dụng Internet trong dạy học ở một số trường
THPT 21
1.3.1. Mục tiêu điều tra 21
1.3.2. Kết quả tổng hợp và đánh giá 21
CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG MÔ HÌNH HỌC KẾT HỢP ĐỂ DẠY CHƯƠNG III
"VIRUS VÀ BỆNH TRUYỀN NHIỄM" (SINH HỌC 10, NÂNG CAO) VỚI SỰ HỖ
TRỢ CỦA PHẦN MỀM MOODLE 25
2.1. Giới thiệu về phần mềm mã nguồn mở Moodle 25
2.1.1. PMDH và PM mã nguồn mở 25
2.1.2. Giới thiệu về Moodle 25
2.1.3. Đặc điểm của phần mềm Moodle 27
2.2. Cấu trúc, nội dung chương III "Virus và bệnh truyền nhiễm" 28
2.2.1. Mục tiêu 28

3.4.2. Đánh giá tính hợp lý trong việc phân chia nội dung giữa dạy qua mạng và dạy trên
lớp 54
3.4.3. Đánh giá tính hợp lý trong cấu trúc bài dạy qua mạng 55
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 56
I. Kết luận 56
II. Đề nghị 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
PHỤ LỤC Tr êng §¹i Häc S Ph¹m Hµ Néi - Khoa Sinh häc
Bé m«n Ph ¬ng ph¸p d¹y häc sinh häc
3

BẢNG QUY ƯỚC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Stt Viết là Đọc là
01 CNTT Công nghệ thông tin
02 CNTT & TT Công nghệ thông tin và truyền thông
03 GV Giáo viên
04 HS Học sinh
05 PM Phần mềm

Để làm được điều đó, việc học không chỉ còn giới hạn trong nhà trường mà đã được
mở rộng hơn về không gian, thời gian và đa dạng hơn về hình thức tổ chức, hỗ trợ cho
nhu cầu "tự học" và "học suốt đời" của mỗi người. Trong Đề án "Xây dựng xã hội học
tập giai đoạn 2005 - 2010" của Chính phủ cũng nêu rõ: "Xây dựng cả nước trở thành
một xã hội học tập với tiêu chí cơ bản là tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi để mọi người
ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học tập thường xuyên, học liên tục, học suốt đời ở
mọi nơi, mọi lúc, mọi cấp, mọi trình độ; huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội
tham gia xây dựng và phát triển giáo dục; mọi người, mọi tổ chức đều có trách nhiệm,
nghĩa vụ trong việc học tập và tham gia tích cực xây dựng xã hội học tập" [18]. Vì
vậy, cần phải đưa ra những giải pháp cho vấn đề này, một trong số đó chính là học tập
trực tuyến. Việc nghiên cứu phát triển những mô hình học tập trực tuyến là nhiệm vụ
quan trọng trong giáo dục hiện nay.
1.2. Đề cập đến vấn đề đổi mới dạy và học hiện nay không thể không nhắc tới
vai trò của công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT & TT) trong việc cải tiến nội
dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy - học. Trong đó, E - learning là mức độ
cao nhất của việc ứng dụng CNTT & TT trong dạy - học. Với nhiều ưu điểm nổi bật,
E- learning được xem như là một giải pháp hữu hiệu cho nhu cầu "Học mọi nơi, học
mọi lúc, học mọi thứ, học mềm dẻo, học một cách mở và học suốt đời" [12] của mọi Tr êng §¹i Häc S Ph¹m Hµ Néi - Khoa Sinh häc
Bé m«n Ph ¬ng ph¸p d¹y häc sinh häc
5

người và trở thành một xu hướng tất yếu trong giáo dục và đào tạo hiện nay, tạo ra
những thay đổi lớn trong hoạt động dạy và học. Tuy nhiên, có thể thấy rằng, E -
learning vẫn chưa thể phủ nhận vai trò chủ đạo của các hình thức dạy học trên lớp,
máy tính vẫn chưa thể thay thế hoàn toàn được phấn trắng, bảng đen. Vì vậy, việc tìm
ra giải pháp kết hợp học trên lớp với các giải pháp E - learning là điều hết sức cần thiết
trong giáo dục hiện nay.

3.2. Khách thể: Giáo viên và học sinh trung học phổ thông có điều kiện tổ
chức dạy học qua mạng.
4. Giả thiết khoa học:
Nếu xây dựng được mô hình học kết hợp để dạy học sinh học 10 (THPT, nâng
cao) phù hợp với điều kiện dạy và học hiện nay sẽ góp phần đổi mới nội dung, phương
pháp và giúp nâng cao hiệu quả dạy học sinh học trong trường THPT.
5. Giới hạn nghiên cứu:
Đây là nội dung nghiên cứu còn khá mới trong điều kiện dạy và học ở Việt
Nam. Với thời gian và điều kiện cho phép, nghiên cứu của chúng tôi chỉ tập trung vào
xây dựng mô hình học kết hợp để dạy nội dung chương III "Virus và các bệnh truyền
nhiễm", Phần ba "Sinh học vi sinh vật", sinh học 10 (THPT, nâng cao).
6. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến đề tài: Hình thức tổ chức dạy học,
hình thức tổ chức dạy học có sự hỗ trợ của CNTT & TT, hình thức học kết hợp.
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng khai thác, vận dụng Internet vào hoạt động
dạy và học trong trường phổ thông hiện nay.
- Nghiên cứu, đánh giá một số mô hình đào tạo trực tuyến ở Việt Nam hiện nay.
- Nghiên cứu, ứng dụng phần mềm moodle vào xây dựng mô hình học kết hợp
để dạy học sinh học THPT.
- Nghiên cứu cấu trúc nội dung và xây dựng mô hình học kết hợp cho chương
III Virus và các bệnh truyền nhiễm, phần ba Sinh học vi sinh vật, sinh học 10 THPT
nâng cao.
- Tham vấn ý kiến chuyên gia về kết quả nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả
của mô hình học tập. Tr êng §¹i Häc S Ph¹m Hµ Néi - Khoa Sinh häc
Ph¹m Xu©n Lam - K56A
8

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Hình thức tổ chức dạy học
1.1.1. Khái niệm
Trong Triết Học "hình thức là phương thức tồn tại của sự vật, hiện tượng, là hệ
thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố của nó" hình thức và nội
dụng là hai mặt biểu hiện của một sự vật, hiện tượng [22, p244]. Theo từ điển tiếng
Việt (Hoàng Phê chủ biên), hình thức là cách thức và khuôn khổ bên ngoài, khác với
nội dung bên trong của sự vật, sự việc. Nội dung là cái bản chất, bất biến còn hình
thức là cái bề ngoài, cái thay đổi của sự vật hiện tượng.
Hình thức tổ chức dạy học là một khái niệm trong khoa học giáo dục. Theo
Đặng Vũ Hoạt (2006) hình thức tổ chức dạy học là "hình thức hoạt động dạy học
được tổ chức theo trật tự và chế độ nhất định nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy đại học
đã quy định" [8, p175], trong đó, hình thức tổ chức dạy học là một chỉnh thể thống
nhất giữa mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học. Theo
Thái Duy Tuyên (1998) "Hình thức tổ chức dạy học là hình thái tồn tại của quá trình
dạy học" [20, p251]. Theo Trần Thị Tuyết Oanh (2005) thì "Hình thức tổ chức dạy học
là hình thức vận động của nội dung dạy học cụ thể trong không gian, địa điểm và
những điều kiện xác định nhằm thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu dạy học [13, p245].
Trong dạy học sinh học "Hình thức tổ chức dạy học được xác định bởi thành

pháp, phương tiện dạy học, (3) Hình thức tổ chức dạy học, (4) Giáo viên và học sinh
[13, p135]. Như vậy, hình thức tổ chức dạy học là một yếu tố cấu thành của quá trình
dạy học. Nếu mục đích và nội dung dạy học là mặt bên trong, thì hình thức tổ chức
chính là mặt bên ngoài của quá trình dạy học. Mối quan hệ giữa các thành tố của quá
trình dạy học là quan hệ "nội dung" - "hình thức". Trong đó, mục đích dạy học sẽ quy
định nội dung dạy học, nội dung sẽ quy định phương pháp và phương tiện, căn cứ vào
đó và dựa theo điều kiện thực tế mà đưa ra các hình thức dạy học sao cho phù hợp.
1.1.2. Các hình thức tổ chức dạy học
Hình thức tổ chức dạy học có tính lịch sử. Do vậy, ứng với mỗi thời kỳ với sự
khác nhau về quan điểm, nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học sẽ có những
hình thức tổ chức dạy học khác nhau.
Hình thức tổ chức dạy học đầu tiên được nghiên cứu trên cơ sở lý luận là hình
thức học trên lớp do Cô-men-xki nhà giáo dục học lỗi lạc người Tiệp Khắc đề xuất và
phát triển. Theo đó, lớp học cần được tổ chức theo những quy tắc xác định như cấu
Ph¹m Xu©n Lam - K56A
10

trúc lớp học, phân phối thời gian, nội dung từng bài học, kế hoạch làm việc [4, p132].
Đây là hình thức tổ chức dạy học chính thức đầu tiên được đưa ra và vẫn được áp dụng
phổ biến trong giáo dục nước ta hiện nay, các hoạt động dạy và học được tổ chức chặt
theo những quy tắc nhất định. Tuy nhiên, hình thức này đôi khi còn thể hiện tính cứng
nhắc, người học phải tuân theo một quy trình đào tạo đã được đề ra sẵn, không được tự
do lựa chọn nội dung học tập phù hợp với mình, nhiều khi hạn chế tính sáng tạo của
giáo viên và của học sinh.
Đặng Vũ Hoạt [8] đã đưa ra ba nhóm hình thức tổ chức dạy học được áp dụng
trong hệ thống các trường đại học, đó là:
Loại 1: Hình thức tổ chức dạy học nhằm giúp sinh viên tìm tòi tri thức, hình

hỗ trợ nhiều hơn cho hoạt động của giáo viên và học sinh, từ đó, làm tăng hiệu quả dạy
học. Căn cứ theo những cách phân chia ở trên và theo khái niệm chúng tôi phân loại
các hình thức tổ chức dạy học hay hình thức học như sau:
Căn cứ theo địa điểm tổ chức có: Hình thức học trên lớp; Hình thức học ngoài
lớp (vườn trường, phòng thí nghiệm, thực tế thiên nhiên, ).
Căn cứ theo sự giáp mặt của giáo viên với học sinh có: Hình thức học giáp mặt
(F2F); Hình thức học không có sự giáp mặt giữa Gv và Hs hay còn gọi là tự học.
Trong đó, có hai hình thức tự học là hình thức tự học có hướng dẫn và hình thức tự
học không có hướng dẫn [17]
Căn cứ theo quy mô lớp học có: Hình thức dạy học toàn lớp; Hình thức dạy học
theo nhóm; Hình thức tổ chức dạy học cá nhân.
Căn cứ theo nội dung dạy học có: Hình thức tổ chức dạy học lĩnh hội kiến thức,
kỹ năng mới; Hình thức tổ chức ôn tập củng cố kiến thức; Hình thức tổ chức kiểm tra
đánh giá.
Căn cứ theo hoạt động của người dạy và người học mà có các hình thức:
Seminar, thảo luận, thuyết trình, thực hành, thí nghiệm.
Căn cứ theo mức độ ứng dụng của CNTT & TT vào trong dạy học có: Hình
thức tổ chức dạy học không có sự hỗ trợ của CNTT & TT; Hình thức tổ chức dạy học
có sự hỗ trợ của CNTT & TT; Hình thức tổ chức dạy bằng phương tiện CNTT & TT.
Trong giáo dục và đào tạo hiện nay, đang phổ biến hình thức tổ chức dạy học có sự hỗ
trợ của CNTT & TT. Ngoài ra, một hình thức tổ chức dạy học mới được chúng tôi
nghiên cứu ở đây là hình thức học kết hợp (Blended Learning).
Ph¹m Xu©n Lam - K56A
12

1.1.3. Hình thức tổ chức dạy học có sự hỗ trợ của CNTT & TT
Công nghệ thông tin và truyền thông là "Tập hợp đa dạng các công cụ và tài

13

- Hiêu quả dạy - học được nâng cao hơn so với dạy học truyền thống không có
sự hỗ trợ của CNTT & TT vì hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học
sinh luôn luôn nhận được sự hỗ trợ của CNTT & TT giúp nâng cao hiệu quả giảng dạy
và tiếp thu của học sinh.
- Vai trò, hoạt động của giáo viên và học sinh có sự thay đổi lớn so với dạy học
truyền thống, Trong đó, giáo viên chuyển từ vị trí là trung tâm của quá trình dạy học
sang vai trò là người tổ chức hướng dẫn cho các hoạt động học sinh; hoạt động dạy là
hoạt động chính được thay bằng hoạt động tích cực, chủ động tiếp thu kiến thức của
học sinh, hoc sinh trở thành trung tâm của các quá trình dạy học.
- Có tính linh hoạt, tính trực quan sinh động phát huy năng lực của người học.
Tuy nhiên, có những yêu cầu cao hơn về mặt kỹ năng của giáo viên và học sinh khi
tham gia vào các hình thức này
Như vậy, các hình thức tổ chức dạy học không xuất hiện một cách ngẫu nhiên
trong tiến trình phát triển của lịch sử giáo dục mà được xây dựng dựa trên sự phát
triển, kế thừa những ưu điểm của các hình thức đã có trước đó, cải tiến sao cho phù
hợp với thực tiễn dạy học hiện tại. Căn cứ vào yêu cầu, mục đích của dạy học hiện nay
có thể thấy, một hình thức tổ chức dạy học cần phải có các đặc tính sau: tính linh hoạt
về thời gian và địa điểm, tính mềm dẻo về phương pháp và phương tiện, tính mở về
công nghệ và nội dung đào tạo cũng như cơ hội tiếp cận cho mọi người. Xu hướng của
giáo dục hiện đại là đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học, đa dạng hóa các
phương pháp dạy học nhằm tạo thuận lợi nhất cho từng người học khi tham gia vào
các hoạt động học tập. Vì vậy, nếu có điều kiện áp dụng được nhiều hình thức tổ chức
dạy học sẽ đem lại hiệu quả giáo dục và đào tạo.
1.2. Học kết hợp (Blended Learning - BL)
1.2.1. Khái niệm học kết hợp
Học kết hợp "Blended Learning - BL" xuất phát từ nghĩa của từ "Blend" tức là
"pha trộn" để chỉ một hình thức tổ chức dạy học hết sức linh hoạt, là sự kết hợp "hữu
cơ" của nhiều hình thức tổ chức dạy học khác nhau. Đây là một hình thức học khá phổ

giáp mặt trên lớp (nhóm, cá nhân, seminar, hội thảo); hình thức học hợp tác qua mạng
máy tính (chat, blog, online, forum) và tự học (trực tuyến/ngoại tuyến, độc lập về
không gian). Với mỗi nội dung, người học được học bằng phương pháp tốt nhất,
phương tiện tốt nhất, hình thức phù hợp nhất và khả năng đạt hiệu quả cao nhất.
Ở Việt Nam, Blended Learning còn là một khái niệm mới, chưa được nghiên cứu
nhiều. Tác giả Nguyễn Văn Hiền có đưa ra một khái niệm tương tự là "Học tập hỗn
hợp" để chỉ hình thức kết hợp giữa cách học trên lớp với học tập có sự hỗ trợ của công
nghệ, học tập qua mạng [7]. Trong nghiên cứu của mình, tác giả Nguyễn Văn Hiền đã
thử nghiệm rèn luyện kỹ năng về công nghệ thông tin trong dạy học sinh học cho sinh
viên khoa sinh học - KTNN qua hoạt động kết hợp giảng dạy trên lớp với việc trao đổi
qua lớp học ảo trên địa chỉ [7]. Đây có thể được coi là một ví dụ về
học kết hợp ở bậc đại học.

Hình 1.2: Mô hình lớp học trên địa chỉ (theo Nguyễn Văn Hiền)
Tác giả Nguyễn Danh Nam cũng đưa ra nhận định: Sự kết hợp giữa e - learning
với lớp học truyền thống trở thành một giải pháp tốt, nó tạo thành một mô hình đào tạo
gọi là "Blended Learning" [10]
Ph¹m Xu©n Lam - K56A
16

Ở đây chúng tôi lựa chọn cách định nghĩa theo tác giả Victoria L. Tinio, theo
đó, học kết hợp là sự kết hợp, bổ sung lẫn nhau giữa hình thức tổ chức dạy học trên
lớp và hình thức tổ chức dạy học qua mạng. Như chúng ta đã biết, hình thức tổ chức
dạy học có sự hỗ trợ của CNTT & TT đã được triển khai rộng rãi và chúng ta thường
quen với một khái niệm là dạy học tích hợp CNTT & TT. Qua phân tích khái niệm,
chúng tôi nhận thấy, học kết hợp và học tích hợp CNTT & TT có những điểm giống
nhau và khác nhau. Về bản chất, cả hai đều là hình thức tổ chức dạy học có sử dụng

là cách sử dụng như thế nào và ra sao để đạt hiệu quả cao nhất và đem lại sự tiện lợi
nhất cho cả người dạy và người học. Theo sự phân tích ở trên và nhận định của chúng
tôi qua tài liệu và số liệu thống kê cho thấy giải pháp học kết hợp trong điều kiện hiện
nay là một tất yếu bởi những lí do sau:
(1) Xuất phát từ yếu tố khách quan và chủ quan. Về mặt khách quan, cơ sở vật
chất hạ tầng trong giáo dục nước ta thấp, chưa có khả năng phục vụ dạy học hoàn toàn
qua mạng. Về phía chủ quan, thiếu kinh nghiệm và kỹ năng trong việc quản lý, khai
thác cũng như sử dụng các hệ thống đào tạo trực tuyến
(2) Dựa trên cơ sở khoa học của tâm lý nhận thức: con người có năm giác quan
có thể tiếp thu thông tin từ môi trường, chúng ta nên tận dụng hết các phương thức tiếp
cận thông tin không chỉ thông qua môi trường mạng Internet mà còn thông qua nhiều
phương tiện khác để có được sự phát triển toàn diện nhất.
(3) Theo lí luận giáo dục: do đặc thù môn học, mục tiêu và kết quả học tập, tính
cách, trình độ của học viên và bối cảnh học tập. Phương pháp và phương tiện giảng
dạy thích hợp nhất.
1.2.2. Các phương án dạy học kết hợp
Trên thế giới, Blended Learning khá phổ biến trong lĩnh vực giáo dục và đào
tạo, đặc biệt là đào tạo nghề qua mạng, Blended Learning được coi là phương án tối ưu
nhất hiện nay khi mà giáo dục điện tử hay E - learning không thể thay thế được những
hình thức học trên lớp. Việc học kết hợp được thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau.
Theo một số nghiên cứu được công bố đã đưa ra bốn mức độ của sự kết hợp là kết hợp
ở mức hoạt động (Activity lever); kết hợp ở mức độ khóa học (Courrse lever); kết hợp
ở mức độ chương trình (Program lever) và kết hợp ở mức độ thể chế (Institutional
lever) [23]. Cách phân chia này dựa chủ yếu trên nội dung học. Theo chúng tôi còn có
thêm những kiểu kết hợp khác nữa, thể hiện trong sơ đồ:
Ph¹m Xu©n Lam - K56A
18

nội dung chương trình sinh học THPT được ban hành.
- Thứ năm: Hoạt động của giáo viên có mối liên hệ chặt chẽ và thống nhất với
các giáo viên khác và nhà kỹ thuật trong việc thiết kế các nội dung, đưa ra các chỉ dẫn
cho người tham gia vào khóa học.
- Thứ sáu: Hoạt động của học sinh là hoạt động tự học có hướng dẫn, với vai trò
chủ đạo của mình, học sinh tích cực tham gia vào hoạt động học trên lớp "thật" và trên
lớp học "ảo". Ngoài kiến thức về chuyên môn, học sinh còn trau dồi được kỹ năng tiếp
cận và làm chủ công nghệ.
1.2.4. Lộ trình triển khai
Học kết hợp xuất phát từ chính yêu cầu của quá trình dạy học khi công nghệ
ngày càng phát triển và thâm nhập sâu rộng vào các mặt của đời sống con người. Quá
trình xuất hiện của Blended Learning có thể thấy trong hình 1.4.

Hình 1.4: Mô hình sự phát triển của học kết hợp (theo Bonk, C. J. & Graham, 2004)
Trong điều kiện hiện nay, việc học kết hợp còn chưa được phổ biến. Do vậy, để
tiến tới dạy học qua mạng đạt hiệu quả, cần phải có một lộ trình triển khai thích hợp.
Ph¹m Xu©n Lam - K56A
20

Tác giả Nguyễn Danh Nam có đề xuất giải pháp kết hợp E - learning với lớp học
truyền thống theo những mức độ như hình 1.5.

Hình 1.5: Sơ đồ thể hiện các mức độ kết hợp E - learning với lớp học truyền thống [I.13]
Chúng tôi nhận thấy, để triển khai học kết hợp một cách hiệu quả cần phải thực
hiện một tuần tự theo một lộ trình thích hợp. Qua phân tích các yếu tố ảnh hưởng và
những yêu cầu cần thiết, chúng tôi đề xuất lộ trình triển khai việc học kết hợp qua ba
bước như sau:

- Điều tra mức độ sử dụng PMDH trong hoạt động dạy học của giáo viên
- Thăm dò ý kiến giáo viên về dạy học qua mạng
Đối với học sinh:
- Điều tra mức độ sử dụng và khai thác mạng Internet trong học tập
- Điều tra những khó khăn gặp phải khi sử dụng mạng Internet trong học tập
- Kỹ năng tự học của học sinh
1.3.2. Kết quả tổng hợp và đánh giá
Chúng tôi đã tiến hành điều tra, thăm dò ý kiến trên 56 giáo viên và 133 học
sinh của một số trường THPT tại khu vực Hà Nội, Bắc Giang, Lạng Sơn. Kết quả được
thống kê như sau:
Thứ nhất, về mức độ và sử dụng mạng Internet được thể hiện qua bảng 1.1. Ph¹m Xu©n Lam - K56A
22

Bảng 1.1: Mức độ sử dụng mạng Internet của học sinh THPT
Mức độ thường xuyên
Tỉ lệ
Không bao giờ
10%
Thỉnh thoảng
44%
Thường xuyên

qua tài liệu là 17,5%, có 24% số học sinh được học trong trường. Khi được hỏi về học
qua mạng có tới 76% tỏ ra ủng hộ, có 13% nêu ý kiến phản đối vì có thể gây ảnh
hưởng tới sức khỏe và tốn kém. Tr êng §¹i Häc S Ph¹m Hµ Néi - Khoa Sinh häc
Bé m«n Ph ¬ng ph¸p d¹y häc sinh häc
23

Đối với giáo viên, mức độ thường xuyên sử dụng mạng Internet trong dạy học
đươc tổng hợp trong bảng 1.3.
Bảng 1.3: Các mức độ sử dụng Internet của giáo viên THPT
Các mức độ sử dụng

tỉ lệ
Không bao giờ

04%

Thỉnh thoảng khi cần

22%

Thường xuyên

17%

Tùy thuộc vào từng bài.

53%


Về kỹ năng sử dụng phần mềm, phần lớn giáo viên đều có khả năng sử dụng
các phần mềm cơ bản vào việc thiết kế và sử dụng giáo án điện tử như MS Word, phần
mềm gõ tiếng việt, phần mềm trình chiếu, chỉ có một số ít biết sử dụng phần mềm
chỉnh sửa ảnh, phần mềm thiết kế Web, còn việc sử dụng phần mềm nguồn mở thì hầu
như không có. Qua đánh giá kết quả điều tra, chúng tôi đưa ra một số kết luận sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status