Phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh phú thọ - Pdf 10

Phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh Phú Thọ Bùi Thị Huyền Trường Đại học Kinh tế
Luận văn ThS. ngành: Kinh tế chính trị; Mã số: 60 31 01
Người hướng dẫn: PGS.TS. Mai Thị Thanh Xuân
Năm bảo vệ: 2011 Abstract. Góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận, phương pháp luận cũng như
thực tiễn đối với sự phát triển kinh tế tư nhân (KTTN) cả nước nói chung và ở tỉnh
Phú Thọ nói riêng. Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển KTTN trên địa bàn tỉnh
Phú Thọ từ năm 2000 đến nay. Đề xuất định hướng và một số giải pháp chủ yếu
nhằm phát triển KTTN ở tỉnh Phú Thọ hiệu quả hơn.

Keywords. Tăng trưởng kinh tế; Kinh tế chính trị; Kinh tế tư nhân; Phú Thọ Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Một trong những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới 25 năm qua ở nước ta là đã
hình thành nền KTTT với nhiều thành phần kinh tế tham gia, trong đó, có thành phần kinh tế
tư nhân. Sự ra đời và phát triển của KTTN đã tạo nên luồng gió mới, góp phần đáng kể vào
sự phát triển kinh tế - xã hội. Là một bộ phận của kinh tế Việt Nam, KTTN trên địa bàn tỉnh
Phú Thọ ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng, đóng góp ngày càng
nhiều cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Tuy nhiên, so với yêu cầu của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế kinh tế tư

- Đối tượng nghiên cứu: các doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN với các loại hình tổ
chức sản xuất kinh doanh: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư
nhân hoạt động trong nền KTTT hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: do sự phát triển của kinh tế tư nhân trong lĩnh vực nông nghiệp trên
địa bàn tỉnh còn hạn chế nên luận văn chỉ tập trung vào nghiên cứu sự phát triển của KTTN
trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ của tỉnh Phú Thọ
+ Về thời gian: Từ năm 2000 đến nay và định hướng đến năm 2015.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên lý thuyết kinh tế của Chủ nghĩa Mác – Lênin, các
học thuyết kinh tế hiện đại; các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và
Nhà nước Việt Nam về phát triển KTTN.
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp như: trừu tượng hoá khoa học, phân tích tổng
hợp, thống kê so sánh, lô gíc và lịch sử. Gắn lý luận với thực tiễn để làm sáng tỏ vấn đề.
- Phương pháp trừu tượng hóa khoa học
Trong luận văn, người viết sẽ sử dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học để gạt
bỏ khỏi quá trình nghiên cứu các hiện tượng đơn lẻ, ngẫu nhiên, tạm thời hoặc tạm gác lại
một số nhân tố nào đó nhằm tách ra những cái điển hình, ổn định, vững chắc để nghiên cứu từ
đó tìm ra bản chất các hiện tượng và quá trình về phát triển KTTN, hình thành các phạm trù
và phát hiện ra quy luật phản ánh những bản chất đó.
- Phương pháp phân tích tổng hợp
Phương pháp phân tích tổng hợp được tiến hành thông qua các công đoạn: thu thập dữ
liệu, kiểm tra dữ liệu, phân tích dữ liệu, và kiểm tra kết quả phân tích. Đề tài tập trung phân
tích, đánh giá những mặt tích cực và hạn chế của KTTN trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong
những năm qua, những nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến sự thành công và thất bại, trên
cơ sở đó đề xuất những phương hướng và giải pháp phát triển KTTN của tỉnh Phú Thọ trong
thời gian tới.
- Phương pháp thống kê so sánh

Kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, bao
gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân hoạt động dưới hình thức hộ kinh
doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp của tư nhân.
Theo quan điểm hiện nay của Việt Nam KTTN có hai loại hình: kinh tế cá thể, tiểu
chủ và kinh tế tư bản tư nhân. Trên thực tê, Do sự vận động và biến đổi không ngừng của
KTTN nên việc phân định ranh giới giữa cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân ở nước ta
hiện nay là không đơn giản.
1.1.2. Bản chất của kinh tế tƣ nhân
KTTN xuất hiện một cách khách quan và tự nhiên. Nó phát triển ngày càng lớn mạnh
và ngày càng có vị trí quan trọng trong nền kinh tế. Bản chất của KTTN thể hiện ở những
điểm sau:
- KTTN dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất
- Hoạt động của KTTN chịu sự chi phối của quy luật giá trị thặng dư.
- Các doanh nghiệp tư nhân tự chủ trong tổ chức sản xuất và hoạt động kinh doanh
theo pháp luật
- Khu vực KTTN thực hiện hình thức phân phối dựa trên cơ sở đóng góp về sức lao
động và vốn cổ phần.
1.2. Đặc điểm và vai trò của kinh tế tƣ nhân trong nền KTTT định hƣớng XHCN
1.2.1. Đặc điểm của kinh tế tư nhân
KTTN ở Việt Nam ngoài những đặc điểm chung còn có những đặc điểm riêng của
nền kinh tế “chuyển đổi”. Đó là: quy mô và hình thức sở hữu rất đa dạng, quy mô nhỏ và vừa
là chủ yếu; bộ máy và đội ngũ quản lý gọn nhẹ, hiệu quả và rất năng động; sử dụng lao động
và công nghệ rất linh hoạt và hiệu quả, khả năng toàn dụng lao động cao nhưng trình độ lao
động và công nghệ còn lạc hậu; đầu tư vào những lĩnh vực cần ít vốn, thu hồi vốn nhanh như
thương mại, dịch vụ; mục đích kinh doanh gắn với tối đa hóa lợi nhuận; nguồn vốn và
phương thức huy động vốn đa dạng, linh hoạt.
1.2.2. Vai trò của kinh tế tƣ nhân
Sự phát triển của KTTN ở nước ta trong thời gian qua đã khơi dậy một bộ phận tiềm
năng của đất nước góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội. Cụ thể: tạo vốn cho nền kinh tế,
thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế quốc dân theo hướng CNH, HĐH;

- Về chính sách khuyến khích đầu tư: Chương trình hành động số 22/CTr–TU ngày
13/7/2002 về thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa
IX, Nghị quyết số 10/NQ–TU ngày 20/05/2002 về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách,
khuyến khích và tạo điều kiện phát triển KTTN ở Phú Thọ, quyết định số 3681/QĐ–UB ngày
26/10/2002 ban hành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 10/NQ–TU, quyết
định 3259/QĐ–UB ngày 21/10/2004 về quy định một số chính sách phát triển công nghiệp,
nghị quyết số 135/2008/NQ-HĐND ngày 01/04 /2008 về phát triển các loại hình kinh tế tư
nhân, kinh tế hợp tác và đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Nhà nước trong
nông, lâm nghiệp giai đoạn 2007 – 2010 và định hướng đến năm 2015, nghị quyết số
180/2009/NQ ngày 24/7/2009 về hỗ trợ đầu tư đối với các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Phú
Thọ, quyết định số 129/2009/Qd-UBND ngày 15/01/2009 về quỹ hỗ trợ thu hút đầu tư vào
thành phố Việt Trì và thị xã Phú Thọ. Các văn bản pháp quy đó đã tạo môi trường thể chế,
môi trường tâm lý xã hội thuận lợi cho sự phát triển KTTN nhanh và mạnh.
- Về cải cách thủ tục hành chính: tỉnh đã đưa ra những quy định về việc phối hợp
trách nhiệm các cấp, các ngành trong việc quản lý hoạt động của doanh nghiệp tư nhân sau
đăng ký kinh doanh; thực hiện cơ chế phối hợp một cửa liên thông giữa các cơ quan giải
quyết đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và cấp giấy phép khắc dấu đối với doanh nghiệp
thành lập, hoạt động theo luật doanh nghiệp,…
- Về các hoạt động trợ giúp KTTN: tỉnh có chủ trương cho phép thành lập một số hội
nghề nghiệp của các doanh nghiệp, phối hợp tổ chức các đợt tập huấn về Luật,…tạo điều kiện
để hình thành quỹ hỗ trợ lãi suất vay sau đầu tư, quỹ hỗ trợ xuất khẩu và xúc tiến thương
mại.Tỉnh đã xây dựng trang Webside của tỉnh nhằm cung cấp thông tin kinh tế xã hội cho các
doanh nghiệp, không phân biệt doanh nghiệp tư nhân hay doanh nghiệp nhà nước, thành lập
trung tâm xúc tiến thương mại và du lịch, dạy nghề; tăng cường kiểm tra về thực hiện luật
Lao động và các chế độ chính sách của Nhà nước đối với người lao động.
2.2. Thực trạng phát triển kinh tế tƣ nhân ở tỉnh Phú Thọ từ năm 2000 đến nay
2.2.1. Sự phát triển về lượng
Kể từ năm 2000, KTTN ở tỉnh Phú Thọ đã có sự phát triển vượt bậc cả về số lượng
doanh nghiệp, loại hình doanh nghiệp, quy mô và lĩnh vực hoạt động so với năm 2000. Theo
số liệu thống kê, tính đến hết năm 2009, tổng số doanh nghiệp của khu vực tư nhân đạt 2.643

327
100
79
24.2
136
41.6
112
34.3
2003
640
100
102
15.9
331
51.7
204
31.9
2005
1.040
100
146
14.0
546
52.5
348
33.5
2007
1.665
100
230

DN
Tỷ lệ
DN
Tỷ lệ
DN
Tỷ lệ
DN
Tỷ lệ
Tổng số
327
100
640
100
1040
100
1665
100
2643
100
N,LN,TS
12
3,7
23
3,6
42
4,0
83
5,0
102
3,9

Số vốn đăng ký kinh doanh của các doanh nghiệp tư nhân vẫn còn rất nhỏ, chủ yếu là
dưới 2 tỷ đồng (trên 60%) và chỉ có khoảng 0,5% doanh nghiệp có số vốn đăng ký trên 100 tỷ
đồng.
Quy mô lao động: Sau 9 năm, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp tư
nhân tăng lên 8,5 lần. Trung bình mỗi năm khu vực tư nhân của tỉnh tạo thêm 4.791 việc làm
mới cho người lao động.
Quy mô lao động ở hộ kinh doanh còn nhỏ, trung bình mỗi hộ kinh doanh cá thể chỉ
có khoảng từ 2 – 3 lao động.
2.2.2. Sự phát triển về chất
- Giá trị GDP và tốc độ tăng trƣởng của khu vực kinh tế tƣ nhân
Năm 2001, GDP toàn tỉnh là 4.183.110 triệu đồng, trong đó khu vực tư nhân đóng
góp 766.107 triệu đồng, chiếm 18,3% GDP toàn tỉnh. Trong giai đoạn 2001 – 2009, tỷ lệ
đóng góp của khu vực tư nhân vào GDP của tỉnh đạt trung bình 49,7%. Trong đó, năm 2009,
khu vực tư nhân đóng góp vào GDP của Phú Thọ 60,1% (8.375.985 triệu đồng), cao hơn cả
khu vực kinh tế nhà nước. Điều này thể hiện sự lớn mạnh của khu vực tư nhân của tỉnh trong
hầu hết các lĩnh vực và ngày càng giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế của tỉnh.
- Trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản
Trong cơ cấu giá trị của lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản ở tỉnh Phú Thọ thì giá trị
do khu vực KTTN tạo ra chiếm tỷ trọng chủ yếu, bình quân đạt 95,3%/năm. Điều này, chứng
minh vai trò to lớn của chính quyền các cấp trong việc tạo điều kiện cho khu vực KTTN đầu
tư phát triển nông, lâm nghiệp, thủy sản.
Bảng 2.3: Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản phân theo khu vực kinh tế (theo giá so
sánh năm 1994) Đơn vị: tỷ đồng, %
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Phú Thọ năm 2005, 2009) - Trong lĩnh vực công nghiệp – xây dựng

2.577
100
KTNN
64
3,9
42
2,2
73
3,3
80
3,4
56
2,2
KTTN
1.585
95,2
1.836
96,6
2.105
94,6
2.232
94,5
2.465
95,7
KT có vốn
đầu tư NN
15
0,9
22
1,2

nhưng lợi nhuận trung bình của các doanh nghiệp vẫn còn thấp: năm 2001: 1,9 tỷ đồng; năm
2005: 3,9 tỷ đồng; và năm 2009: 5,8 tỷ đồng. Trong đó, công ty cổ phần là loại hình doanh
nghiệp có lợi nhuận cao hơn so với các loại hình khác trung bình 1,4 lần/năm.
Lợi nhuận/hộ kinh doanh cá thể cũng có chiều hướng tăng lên: năm 2001: 37 triệu
đồng; năm 2005: 88 triệu đồng; và năm 2009: 106 triệu đồng. Có thể thấy, sự phát triển của
các hộ kinh doanh trong những năm qua tương đối tốt.
Năm
Khu vực
2001
2003
2005
2007
2009
Giá trị
Tỷ lệ
Giá trị
Tỷ lệ
Giá trị
Tỷ lệ
Giá
trị
Tỷ lệ
Giá
trị
Tỷ lệ
Tổng số
5.475
100
6.567
100

1.367
25
1.426
21,7
2.245
23
3.212
18,2
4.594
17,4
Năm

Khu vực
2001
2003
2005
2007
2009
Giá
trị
Tỷ lệ
Giá
trị
Tỷ lệ
Giá
trị
Tỷ lệ
Giá
trị
Tỷ lệ

470
76,4
749
84,9
1296
94,0
1985
94,2
- Sự phát triển nguồn nhân lực trong khu vực KTTN
Trong toàn bộ lực lượng lao động ở tỉnh Phú Thọ thì khu vực tư nhân, cá thể chiếm tỷ
trọng cao nhất với 404.500 người/tổng số 404.995 người,chiếm 88,9%. Tính đến hết năm
2009, khu vực KTTN của tỉnh có 48.213 lao động nhưng số lao động đã qua đào tạo chỉ có
9.739 lao động, chiếm 20,2%. Có thể thấy rằng trong các doanh nghiệp tư nhân, mặc dù thu
hút được nhiều lao động nhưng trình độ chuyên môn thấp. Đối với hộ kinh doanh cá thể, tuy
chiếm tỷ trọng lớn nhất về số lượng lao động nhưng tỷ lệ lao động qua đào tạo lại chiếm tỷ
trọng thấp nhất, chỉ có 3,6% (1.283 người) .
- Trình độ công nghệ
Những năm gần đây, nhiều cơ sở KTTN ở tỉnh Phú Thọ đã mạnh dạn đầu tư hàng
chục tỷ đồng để đầu tư kinh doanh đổi mới trang thiết bị, ứng dụng công nghệ mới và không
ngừng đào tạo đỗi ngũ nguồn nhân lực quản lý, nhân viên kỹ thuật trong đơn vị mình nhằm
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên, do thiếu vốn nên nhìn tổng thể các doanh nghiệp KTTN sử dụng phổ biến
máy móc cũ, lạc hậu, thiếu những hiểu biết và thông tin về khoa học – công nghệ. Số liệu
điều tra doanh nghiệp của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh vào năm 2009 cho thấy có tới 61,2%
số máy móc thiết bị trong khu vực KTTN là ở mức công nghệ trung bình và 19% ở mức lạc
hậu, chỉ có 19,8% là tương đối hiện đại và hiện đại.
2.3. Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế tƣ nhân ở Phú Thọ trong thời gian qua
2.3.1. Những đóng góp tích cực
Thứ nhất, đóng góp của khu vực KTTN vào tổng thu nhập nội địa của tỉnh ngày càng
tăng.

Thứ năm, KTTN góp phần quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa
bàn tỉnh.
Khu vực KTTN chủ yếu tập trung vào phát triển lĩnh vực công nghiệp – xây dựng và
dịch vụ, điều này đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng tích
cực, đăc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp – xây dựng.
2.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân
- Những hạn chế chính
Thứ nhất, cơ cấu doanh nghiệp trong khu vực KTTN theo ngành còn chưa hợp lý.
Các doanh nghiệp tư nhân của tỉnh chủ yếu đầu tư kinh doanh vào lĩnh vực công
nghiệp – xây dựng và dịch vụ chứ không đầu tư nhiều vào lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy
sản. Trong lĩnh vực công nghiệp, các doanh nghiệp chủ yếu đầu tư vào dệt may, chế biến
gỗ,…ít đầu tư vào chế tạo cơ khí máy móc, sản xuất kim loại. Nguyên nhân chính là do trong
lĩnh vực dịch vụ cần lượng vốn đầu tư thấp, thời gian thu hồi vốn nhanh có cơ hội thu được
lợi nhuận cao hơn.
Thứ hai, các dự án đầu tư tư nhân vào các lĩnh vực tiềm năng của tỉnh không nhiều
và không đồng đều giữa các vùng.
Mặc dù cơ chế ưu đãi đã thông thoáng nhưng việc triển khai còn chưa nhất quán, chưa
tạo được sự đồng thuận giữa doanh nghiệp và cơ quan quản lý nên chưa thu hút được các dự
án đầu tư tư nhân vào các lĩnh vực tiềm năng của tỉnh: thương mại du lịch, sản xuất, kinh
doanh vật liệu xây dựng; chế biến nông lâm sản, chế biến khai thác khoáng sản,…
Thứ ba, khả năng tài chính hạn chế, quy mô vốn của doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh
doanh còn quá nhỏ.
Khả năng tài chính của các cơ sở tư nhân còn nhiều hạn chế; tính bình quân vốn kinh
doanh của hộ kinh doanh cá thể và doanh nghiệp tư nhân rất thấp. Vốn thấp cũng làm hạn chế
đầu tư mở rộng thị trường kinh doanh, nâng cấp cơ sở vật chất, kỹ thuật, thuê mướn lao động
của các doanh nghiệp. (Mức vốn bình quân của hộ kinh doanh chỉ đạt trên 34 triệu đồng,
doanh nghiệp tư nhân chỉ đạt 4,6 tỷ đồng. So với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế
khác trong tỉnh thì doanh nghiệp tư nhân có quy mô vốn nhỏ nhất và tốc độ tăng vốn cũng
thấp nhất)
Thứ tư, nguồn nhân lực của các doanh nghiệp tư nhân còn hạn chế về trình độ tổ

doanh nghiệp tư nhân còn kém; Phần lớn đội ngũ cán bộ quản lý doanh nhân đào tạo không
cơ bản; kiến thức quản lý kinh tế, quản lý doanh nghiệp; Phần lớn các doanh nghiệp quy mô
nhỏ, công nghệ lạc hậu, thiếu vốn,…người tham gia góp vốn chủ yếu vẫn là các thành viên
trong gia đình, bàn bè nên tính không minh bạch và không hợp pháp trong quản lý công ty là
khá phổ biến.

Chƣơng 3
ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƢ NHÂN Ở TỈNH PHÚ THỌ
3.1. Định hƣớng phát triển kinh tế tƣ nhân của tỉnh đến năm 2015
Định hướng phát triển KTTN ở tỉnh trong thời gian tới: Tăng số lượng doanh nghiệp
mới thành lập, mở rộng những doanh nghiệp hiện có, hình thành một số doanh nghiệp có quy
mô lớn, năng lực cạnh tranh cao; Cải thiện môi trường đầu tư theo hướng minh bạch, dân chủ
hóa, tạo điều kiện thuận lợi, tăng cường cơ sở vật chất cho khu vực KTTN; Phát triển kinh tế
hộ trên cơ sở quy hoạch các ngành nghề của tỉnh; Tạo điều kiện để KTTN tham gia tích cực
vào chương trình xây dựng các sản phẩm công nghiệp chủ lực của tỉnh.
3.2. Một số giải pháp chủ yếu thúc đẩy phát triển kinh tế tƣ nhân tỉnh Phú Thọ theo
hƣớng hiệu quả
3.2.1. Tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển
- Tiếp tục rà soát những văn bản, chính sách đã ban hành; xóa bỏ những văn bản cản
trở sự phát triển của KTTN.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy và
chính quyền về triển khai thực hiện các chính sách, các luật và văn bản sau luật .
- Tăng cường phổ biến các văn bản pháp quy, vản bản hướng dẫn thi hành để các cấp
nghiên cứu hiểu đúng khái niệm, phạm vi thu thập thông tin thống kê.
- Tạo các cơ chế chính sách để doanh nghiệp tư nhân phát triển mạnh hơn nữa trong
các ngành, lĩnh vực có lợi thế; tạo điều kiện thuân lợi để các doanh nghiệp sớm tiếp cận được
các dự án đầu tư.
3.2.2. Tháo gỡ những khó khăn về đất đai và mặt bằng sản xuất cho kinh tế tư nhân
- Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tư nhân tham gia đấu giá công khai việc thuê

lợi người lao động, vừa bảo vệ lợi ích chính đáng của người sử dụng lao động.
3.2.5. Tăng cường quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân
- Thực hiện tốt phân công, phân cấp quản lý trên cơ sở quy định rõ chức năng, quyền
hạn, trách nhiệm và các mối quan hệ trong quản lý KTTN.
- Đẩy mạnh việc phân cấp quản lý nhà nước về hoạt động đăng ký kinh doanh trên địa
bàn tỉnh.
- Tiến hành phân cấp cụ thể trách nhiệm quản lý Nhà nước các cấp đối với doanh
nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp
- Triển khai có hiêu quả việc tin học hóa quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp.
- Giải quyết kịp thời các vướng mắc của nhà đầu tư.
- Thay đổi căn bản mối quan hệ giữa chính quyền với doanh nghiệp theo hướng đồng
hành và phục vụ doanh nghiệp
- Tiếp tục đổi mới, nâng cao vị trí, vai trò công tác thanh tra, kiểm soát trong khu vực
KTTN, bảo đảm cho hoạt động thanh tra có hiệu quả và hiệu lực.

KẾT LUẬN
KTTN của Phú Thọ trong những năm qua đã có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp
phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Các doanh nghiệp KTTN của tỉnh ngày càng đa dạng, hiệu
quả hoạt động không ngừng được nâng cao, năng lực cạnh tranh được cải thiện.
Tuy nhiên, cho đến nay KTTN tỉnh Phú Thọ vẫn chưa khai thác được hết các tiềm
năng vốn có của nó và vẫn còn gặp nhiều khó khăn.
Những hạn chế của khu vực KTTN ở Phú Thọ có là do cả nguyên nhân chủ quan và
khách quan, các doanh nghiệp vẫn chưa đặt hết niềm tin vào cơ chế chính sách của Nhà nước.
KTTN vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong vấn đề phân biệt đối xử về đất đai, nguồn vốn và tín
dụng, trong vấn đề quản lý nhà nước.
Nhìn chung, KTTN ở Phú Thọ trong gần 25 năm đổi mới đã có sự phát triển vượt bậc
mà chúng ta không thể phủ nhận thành tựu của nó. Để KTTN phát triển hơn nữa đúng với
tiềm năng của nó, Nhà nước cần có cơ chế, chính sách hợp lý nhằm tháo gỡ những khó khăn,
vướng mắc của KTTN. Mặt khác, các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế này cũng phải
cố gắng tự thân vận động, nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.

giới, Hà Nội.
16. Nghị định số 109/2004/NĐ – CP của Chính Phủ về đăng ký kinh doanh, (2004).
17. Nghị quyết số 14-NQ/TW (khóa IX) về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và
tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân, (2002).
18. Nghị định số 109/2004/NĐ-CP về đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật doanh nghiệp
(2004).
19. Lê Hữu Nghĩa, Đinh Văn Ân (2004), Phát triển kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam, lý luận
và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
20. Nguyễn Minh Phong (2004), Phát triển kinh tế tư nhân ở Hà Nội, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
21. Phú Thọ chào đón bạn (2005), Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội.
22. Đào Văn Phùng (2005), Kinh tế tư nhân Phú Thọ - thức dậy một tiềm năng, tạp chí Kinh tế và
dự báo, số 09.
23. Nguyễn Văn Sáng (2009), Xu hướng phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn thành phố Hồ
Chí Minh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, luận án tiến sỹ kinh tế.
24. Nguyễn Văn Sáu (2005), Giáo trình quản lý kinh tế (hệ cử nhân chính trị), Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
25. Sở lao động thương binh xã hội tỉnh Phú Thọ (2005), Tổng hợp kết quả thực hiện các chỉ tiêu
lao động, việc làm 2001 – 2005.
26. Sở kế hoạch & đầu tư tỉnh Phú Thọ, Báo cáo đánh giá 5 năm thực hiện Luật doanh nghiệp
1999.
27. Sở kế hoạch & đầu tư tỉnh Phú Thọ, Báo cáo đánh giá tình hình KTTN sau 4 năm thi hành
Luật DN 2005.
28. Mai Tết, Nguyễn Văn Tuất, Đặng Danh Lợi (2006), Sự vận động, phát triển của kinh tế tư
nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội.
29. Hà Huy Thành (2002), Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân: Lý luận và
chính sách, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
30. Phạm Văn Thuần (2007), Đảng viên làm kinh tế tư nhân ở Phú Thọ, tạp chí Xây dựng Đảng,
số 01.

Tỉnh Vĩnh Phúc: www.vinhphuc.gov.vn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status