ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯ -
2020
HÀ NỘI – 2012
HÀ NỘI – 2012
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 2
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3
5. Phƣơng pháp nghiên cứu 3
6. Đóng góp của luận văn 4
7. Kết cấu của luận văn 4
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM
THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƢ NHÂN 5
1.1. KINH TẾ TƢ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG
CỦA NHÂN LOẠI 5
1.1.1. Đặc điểm của kinh tế thị trƣờng nhìn từ góc độ sở hữu 5
1.1.2. Sự tồn tại khách quan và tính phổ biến của kinh tế tƣ nhân trong
các nền kinh tế thị trƣờng trên thế giới 10
1.1.3. Đặc điểm, bản chất và vai trò của kinh tế tƣ nhân 12
1.1.3.1. Về đặc điểm, bản chất của kinh tế tƣ nhân 12
1.1.3.2. Vai trò của kinh tế tƣ nhân 17
1.2. CHỦ TRƢƠNG, QUAN ĐIỂM, CHÍNH SÁCH ĐỔI MỚI CỦA
ĐẢNG VÀ NHÀ NƢỚC TA ĐỐI VỚI KINH TẾ TƢ NHÂN 22
1.2.1. Khái quát về chủ trƣơng, quan điểm, chính sách đối với kinh tế
tƣ nhân ở thời kỳ trƣớc đổi mới và hệ quả 22
1.2.2. Chủ trƣơng, quan điểm, chính sách đối với kinh tế tƣ nhân trong
thời kỳ đổi mới (từ Đại hội VI đến Đại hội XI của Đảng) và tác động
đến thực tế phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. 24
1.3. KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƢƠNG TRONG NƢỚC VỀ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƢ NHÂN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ RÚT RA CHO
TỈNH THÁI BÌNH 29
2.2.3 Hạn chế của kinh tế tƣ nhân trên địa bàn tỉnh Thái Bình và
nguyên nhân 54
2.2.3.1. Về hạn chế 54
2.2.3.2. Nguyên nhân của hạn chế 58
3.1. BỐI CẢNH MỚI VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN KINH TẾ TƢ NHÂN 63
3.1.1. Bèi c¶nh ph¸t triÓn cña ®Êt n-íc sau 25 năm đổi mới và t¸c ®éng ®Õn
kinh tÕ t- nh©n 63
3.1.2. Bối cảnh phát triển mới của tỉnh và tác động đến kinh tế tƣ nhân 65
3.2. PHƢƠNG HƢỚNG, QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN KINH TẾ
TƢ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI BÌNH GIAI ĐOẠN 2011 - 2020 65
3.2.1. Về phƣơng hƣớng và quan điểm phát triển 65
3.2.2. Mục tiêu phát triển 69
3.3. NHỮNG GIẢI PHÁP MỚI THÚC ĐẨY SỰ PHÁT TRIỂN VÀ
NÂNG CAO VAI TRÒ, HIỆU QUẢ CỦA KINH TẾ TƢ NHÂN Ở
THÁI BÌNH GIAI ĐOẠN 2011 - 2020 69
3.3.1. Tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách đối với kinh tế tƣ nhân 69
3.3.1.1. Về chính sách đầu tư – tín dụng 70
3.3.1.2. Về chính sách thương mại 72
3.3.1.3. Về chính sách khoa học – công nghệ 74
3.3.1.4. Về chính sách phát triển nguồn nhân lực cho kinh tế tư nhân 75
3.3.2. Áp dụng các đòn bẩy lợi ích khuyến khích kinh tế tƣ nhân nâng
cao vai trò và hiệu quả phát triển 78
3.3.2.1. Đòn bẩy khuyến khích kinh tế tư nhân giải quyết việc làm 78
3.3.2.2. Đòn bẩy khuyến khích kinh tế tư nhân tăng quy mô đầu tư vốn
vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh mà tỉnh Thái Bình có lợi thế 79
3.3.2.3. Đòn bẩy khuyến khích kinh tế tư nhân đổi mới công nghệ, đa
dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm 80
3.3.2.4. Đòn bẩy khuyến khích kinh tế tư nhân xây dựng và bảo vệ nhãn
hiệu hàng hóa 81
3.3.3 Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc
làm; huy động ngày càng nhiều nguồn vốn trong xã hội đầu tƣ vào sản xuất
kinh doanh; tỷ trọng của kinh tế tƣ nhân trong GDP ngày càng tăng; góp phần
chuyển dịch cơ cấu kinh tế; tăng kim ngạch xuất khẩu, thúc đẩy cạnh tranh, tăng
thêm số lƣợng công nhân và doanh nhân Việt Nam… Tuy nhiên, kinh tế tƣ nhân
ở nƣớc ta đến nay vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém: phần lớn có quy mô nhỏ,
vốn ít, công nghệ sản xuất lạc hậu, trình độ quản lí thấp, hiệu quả và sức cạnh
tranh yếu; mặt khác, hầu hết các doanh nghiệp tƣ nhân cũng đang khó tiếp cận
các nguồn lực - nhất là về vốn, còn gặp nhiều trở ngại về mặt bằng sản xuất kinh
doanh, về môi trƣờng pháp lí và môi trƣờng tâm lí xã hội
2
Là một bộ phận của nền kinh tế Việt Nam, Thái Bình có vị trí quan
trọng, gần các trung tâm kinh tế lớn của miền Bắc nhƣ Hải Phòng, Quảng
Ninh, Hải Dƣơng… và lại nằm trên trục đƣờng 10 nối liền với các cảng biển,
rất thuận tiện trong giao thông vận tải. Kinh tế tƣ nhân ở Thái Bình trong
những năm vừa qua đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển chung
của cả tỉnh: giải quyết việc làm, tạo nguồn thu cho ngân sách, thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn,…
Tuy nhiên, kinh tế tƣ nhân ở Thái Bình cũng còn nhiều hạn chế, yếu
kém, đặc biệt là trƣớc áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt của cơ chế thị
trƣờng. Hầu hết các doanh nghiệp tƣ nhân ở địa phƣơng này chỉ có quy mô
nhỏ, hiệu quả sản xuất kém, môi trƣờng kinh doanh còn nhiều bất cập, khả
năng tiếp cận các nguồn lực phát triển còn nhiều vƣớng mắc,
Tình hình nói trên đòi hỏi phải nghiên cứu, đánh giá đúng thực trạng,
tìm ra nguyên nhân, chỉ ra xu hƣớng phát triển của kinh tế tƣ nhân trên địa
bàn tỉnh Thái Bình; trên cơ sở đó xác định phƣơng hƣớng và các giải pháp
thích hợp để thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển, phát huy tốt hơn vai trò của
thành phần kinh tế này ở tỉnh Thái Bình trong những năm tới.
2. Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay, ở nƣớc ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về sự tồn tại
- Về không gian: Tập trung nghiên cứu về sự phát triển kinh tế tƣ nhân
trong quá trình chuyển đổi trên địa bàn tỉnh Thái Bình.
- Về thời gian: Tập trung vào giai đoạn 2001 – 2010 và đặt trong tầm
nhìn đến năm 2020.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phƣơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, luận văn áp dụng một số phƣơng pháp nghiên cứu phù
hợp với đối tƣợng, nhiệm vụ đã xác định, nhƣ logic kết hợp với lịch sử, thống
4
kê, xử lý các số liệu, tƣ liệu; phân tích, tổng hợp, so sánh, mô hình hóa; kế
thừa các kết quả nghiên cứu đã có…
6. Đóng góp của luận văn
- Phân tích đặc điểm của kinh tế tƣ nhân nhìn từ góc độ sở hữu để thấy
đƣợc tầm quan trọng của sở hữu tƣ nhân.
- Phân tích sự tồn tại khách quan và chỉ ra tính phổ biến của kinh tế tƣ
nhân trong nền kinh tế thị trƣờng thế giới.
- Nghiên cứu việc phát triển kinh tế tƣ nhân của các tỉnh Hƣng Yên và
Hải Dƣơng để rút ra bài học kinh nghiệm cho Thái Bình.
- Dự báo những tác động về mặt kinh tế- xã hội tới sự phát triển của
kinh tế tƣ nhân trên địa bàn tỉnh Thái Bình.
- Đƣa ra những giải pháp mới thúc đẩy sự phát triển và nâng cao vai trò
hiệu quả của kinh tế tƣ nhân ở Thái Bình giai đoạn 2011- 2020.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn đƣợc kết cấu thành 03 chƣơng:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về phát
triển kinh tế tƣ nhân
Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế tƣ nhân ở tỉnh Thái Bình trong
giai đoạn 2001 – 2010
Chương 3: Phƣơng hƣớng, giải pháp phát triển kinh tế tƣ nhân trên địa
6
phát triển của chủ nghĩa tƣ bản, kinh tế hàng hóa giản đơn phát triển thành
kinh tế thị trƣờng.
Kinh tế thị trƣờng nhƣ chúng ta đã biết là kinh tế hàng hóa đạt đến trình
độ xã hội hóa cao và trình độ kỹ thuật cao, trong đó toàn bộ hay hầu hết các
yếu tố đầu vào và đầu ra của nền sản xuất xã hội đều phải thông qua thị
trƣờng. Kinh tế thị trƣờng tồn tại trong xã hội chiếm hữu nô lệ, phong kiến,
trong chế độ tƣ bản chủ nghĩa và cả trong chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong các
thời kỳ lịch sử và ở những nƣớc khác nhau, kinh tế thị trƣờng có những đặc
điểm riêng cụ thể; nhƣng dù ở đâu và lúc nào cũng phải vận động, phát triển theo
những nguyên tắc phổ biến có tính quy luật, trong đó nổi bật là: tự do trong sản
xuất kinh doanh (tự do đầu tƣ), tự do trong quan hệ trao đổi (tự do thƣơng mại),
tự do trong tiêu dùng (mua hàng hóa hay không mua, mua ở đâu, của ai là do
ngƣời tiêu dùng tự quyết định); cạnh tranh trong nội bộ từng ngành, cạnh tranh
giữa các ngành bên trong nền kinh tế thị trƣờng của một nƣớc, cạnh tranh giữa
các nƣớc cùng sử dụng phƣơng tiện kinh tế thị trƣờng…
Lịch sử phát triển của nền kinh tế thị trƣờng đến nay cho thấy nó có
mặt ở nhiều chế độ kinh tế - xã hội khác nhau, mà điều kiện tiên quyết cho sự
tồn tại và phát triển của nó là sự hiện diện của nhiều hình thức sở hữu. Sở hữu là
quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời trong quá trình sản xuất, phản ánh quá
trình chiếm hữu của cải vật chất, mà ở đó sở hữu về tƣ liệu sản xuất giữ vai
trò quyết định. Sở hữu là mặt cơ bản của quan hệ sản xuất, vận động và biến
đổi cùng với hệ thống kinh tế - xã hội, đặc biệt là có quan hệ mật thiết với quá
trình phát triển của lực lƣợng sản xuất xã hội .
Khi nhà nƣớc xuất hiện, các quan hệ sở hữu đƣợc thể chế hoá bằng
pháp luật, hình thành nên chế độ sở hữu. Chế độ sở hữu quy định các quyền:
sử dụng, định đoạt, chuyển nhƣợng, cho thuê, thừa kế, thế chấp…, và là cơ sở
kinh tế và pháp lý để bảo đảm việc thực hiện các lợi ích của các chủ thể kinh
7
bằng mọi cách để bảo đảm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đó nhằm tạo ra
lợi nhuận và lợi nhuận siêu ngạch. Lịch sử của kinh tế thị trƣờng hơn 200
năm qua ở các nƣớc tƣ bản chủ nghĩa phát triển cho thấy, khu vực kinh tế tƣ
nhân bao giờ cũng có hiệu quả cao hơn so với khu vực kinh tế nhà nƣớc trong
việc sử dụng các nguồn lực đầu tƣ.
- Bắt nguồn từ tính xác định và minh bạch của quan hệ sở hữu, lợi ích
kinh tế được hình thành và trở thành động lực thúc đẩy các chủ thể kinh tế
phát triển sản xuất kinh doanh. Với tƣ cách là ngƣời sở hữu, mọi chủ thể hoạt
động trong kinh tế thị trƣờng đều hƣớng vào mục tiêu lợi ích mà trƣớc hết là
lợi ích kinh tế của chính mình. Bởi vậy, trong nền kinh tế thị trƣờng lợi nhuận
đƣợc coi là mục đích, là động lực của hoạt động kinh doanh và cạnh tranh là
môi trƣờng và điều kiện tất yếu.
- Trên cơ sở tồn tại khách quan của nhiều hình thức sở hữu, đặc biệt là
sở hữu tư nhân, cơ chế thị trường hình thành và chịu sự chi phối, điều tiết của
các quy luật kinh tế: quy luật giá trị, quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh,
quy luật lƣu thông tiền tệ…
- Do được đảm bảo về phương diện sở hữu, các chủ thể thị trường đều
có tính độc lập. Ngƣời sản xuất – kinh doanh có quyền tự do kinh doanh, tự
chủ trong việc ra các quyết định sản xuất cái gì, sản xuất nhƣ thế nào và sản
xuất cho ai; họ có quyền tự quyết định lựa chọn loại hình tổ chức và quản lý
sản xuất – kinh doanh thích hợp; độc lập trong gánh vác rủi ro và tự chịu
trách nhiệm lỗ - lãi trong sản xuất kinh doanh; theo đó, họ phải lấy lợi nhuận
làm động lực và mục tiêu của hoạt động kinh tế. Còn ngƣời tiêu dùng đƣợc
chủ động trong lựa chọn hàng hóa trên thị trƣờng và đƣợc xem là “thƣợng
đế”, ngƣời quyết định “ bỏ phiếu” cho việc mở rộng hay thu hẹp việc sản
xuất, kinh doanh một mặt hàng nào đó.
9
- Tính đa sở hữu là cơ sở để thị trường giữ vai trò quyết định phân bổ
các nguồn lực của xã hội. Các yếu tố đầu vào và đầu ra của sản xuất phải
đảm bảo đƣợc sự cạnh tranh hoàn hảo và khắc phục những bất ổn về xã hội,
nên trong nền kinh tế thị trƣờng hiện đại cần có sự quản lý của nhà nƣớc để
khắc phục các khuyết tật của thị trƣờng. Chính phủ tập trung thực hiện quản
lý các cân đối vĩ mô, sử dụng rộng rãi các công cụ, kế hoạch định hƣớng, hệ
thống luật pháp, chính sách và các đòn bẩy kinh tế mà không can thiệp sâu
vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
1.1.2. Sự tồn tại khách quan và tính phổ biến của kinh tế tƣ nhân
trong các nền kinh tế thị trƣờng trên thế giới
Xã hội loài ngƣời trải qua nhiều hình thức sở hữu khác nhau, từ sở hữu
bộ lạc đến các hình thức sở hữu tƣ nhân và sở hữu xã hội. Trên thực tế, cho
đến nay, chỉ tồn tại ba hình thức sở hữu cơ bản: Sở hữu công cộng, sở hữu tƣ
nhân và sở hữu hỗn hợp. Trong đó, sở hữu tƣ nhân, xét về nguồn gốc lịch sử
là hình thức sở hữu tồn tại lâu dài qua nhiều phƣơng thức sản xuất. Nó là hệ
quả trực tiếp của quá trình phát triển lực lƣợng sản xuất và của quyền tự do cá
nhân, phát huy mọi tiềm năng vốn có của mỗi cá nhân. Sở hữu tƣ nhân là
quan hệ sở hữu xác nhận quyền hợp pháp của tƣ nhân trong chiếm hữu, quyết
định cách thức tổ chức sản xuất, chi phối và hƣởng lợi từ kết quả của quá
trình sản xuất. Cho đến nay, những động lực do sở hữu tƣ nhân tạo ra khó có
hình thức nào thay thế đƣợc nó. Sở hữu tƣ nhân về quá trình sản xuất là cơ sở
ra đời khu vực kinh tế tƣ nhân. Thực tế cho thấy chƣa có nƣớc nào thành công
trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trƣờng lại thiếu khu vực kinh tế tƣ
nhân. Kinh tế thị trƣờng tồn tại dƣới nhiều mô hình khác nhau ở các quốc gia.
Chẳng hạn nhƣ mô hình kinh tế thị trƣờng xã hội ở Cộng hòa liên bang Đức,
mô hình kinh tế thị trƣờng kiểu Thụy Điển, mô hình kinh tế thị trƣờng kiểu
11
Nhật Bản, mô hình kinh tế thị trƣờng tự do kiểu Ăng lô – xắc xông ở Anh và
Mỹ, mô hình kinh tế thị trƣờng xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc, mô hình kinh
tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam… Song các mô hình
kinh tế thị trƣờng đều có đặc điểm chung là sự hình thành, phát triển đều phải
“yếu thế” thông qua hệ thống chính sách an sinh xã hội… Tuy nhiên, đối với
ngay cả các nƣớc tƣ bản chủ nghĩa phát triển nhất hiện nay, khoảng cách để
có thể đi tới chủ nghĩa xã hội đích thực nhƣ Mác dự báo cũng còn rất xa.
Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát rất thấp với nền
kinh tế nông nghiệp lạc hậu, chiến tranh tàn phá nặng nề. Trƣớc mắt, Việt
Nam phải phát triển những cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội bằng cách
thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần. Việt Nam muốn phát triển thành công nền kinh tế thị
trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa tất yếu phải đa dạng hóa các hình thức sở
hữu, tồn tại nhiều thành phần kinh tế trong đó có kinh tế tƣ nhân. Chính vì thế
từ Đại hội Đảng VI (1986) đến Đại hội XI (2011), Đảng Cộng sản Việt Nam
đã khẳng định một cách nhất quán chủ trƣơng, chính sách đa dạng hóa các
hình thức sở hữu, tạo cơ sở cho nền kinh tế thị trƣờng ở Việt Nam phát triển
theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa.
1.1.3. Đặc điểm, bản chất và vai trò của kinh tế tƣ nhân
1.1.3.1. Về đặc điểm, bản chất của kinh tế tư nhân
Xung quanh quan niệm về kinh tế tƣ nhân hay khu vực kinh tế tƣ nhân,
hiện nay có nhiều ý kiến chƣa thống nhất. Theo quan niệm phổ biến trên thế
giới, nền kinh tế thị trƣờng thƣờng đƣợc phân chia thành hai khu vực: Kinh tế
nhà nƣớc và kinh tế tƣ nhân. Kinh tế tƣ nhân là khu vực kinh tế đƣợc hình
thành và phát triển dựa trên nền tảng chủ yếu là sở hữu tƣ nhân về tƣ liệu sản
xuất và lợi ích cá nhân. Ở nƣớc ta, có quan niệm cho rằng, kinh tế tƣ nhân
13
đồng nghĩa với kinh tế tƣ bản tƣ nhân. Có quan niệm đồng nhất kinh tế tƣ
nhân với kinh tế ngoài quốc doanh. Có quan niệm cho rằng kinh tế có 100%
vốn nƣớc ngoài (thuộc sở hữu tƣ nhân) nằm trong kinh tế tƣ nhân. Ở Việt
Nam, Đại hội X của Đảng, xác định khu vực kinh tế tƣ nhân gồm: kinh tế cá
thể, tiểu chủ và kinh tế tƣ bản tƣ nhân hoạt động với hình thức hộ kinh doanh
cá thể và các loại hình doanh nghiệp của tƣ nhân. Trong đó, kinh tế cá thể,
ngƣời sở hữu duy nhất, bên cạnh đó, vai trò điều tiết phân phối của nhà nƣớc
tăng lên thì quan hệ phân phối trong các doanh nghiệp trở nên phức tạp hơn,
bằng nhiều hình thức khác nhau. Dù kinh tế tƣ nhân có nhiều trình độ phát
triển khác nhau nhƣng có bản chất chung là sở hữu tƣ nhân về tƣ liệu sản
xuất, về các nguồn lực sản xuất. Những doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế
tƣ nhân có đặc trƣng mang tính bản chất là họ sử dụng đồng vốn của chính họ
và họ có quyền đƣợc hƣởng thành quả lao động do họ làm ra. Tự bỏ vốn, tự tổ
chức, tự chủ trong kinh doanh và tự bù lỗ là nguyên tắc hoạt động của các loại
hình kinh tế tƣ nhân. Đó là điểm khác biệt quan trọng giữa khu vực kinh tế tƣ
nhân và khu vực kinh tế nhà nƣớc, là đặc trƣng cốt lõi của kinh tế tƣ nhân.
Tuy nhiên kinh tế tƣ nhân cũng bộc lộ mặt tiêu cực là bóc lột giá trị thặng dƣ
mà mức độ bóc lột phụ thuộc vào bản chất của chế độ chính trị, vì vậy vẫn
còn tồn tại một bộ phận doanh nghiệp tƣ nhân chạy theo lợi nhuận mù quáng
gây thiệt hại cho xã hội.
Xét về nguồn gốc, sở hữu tƣ nhân và kinh tế tƣ nhân ra đời là kết quả
tất yếu của sự phát triển lực lƣợng sản xuất. Sự phát triển của lực lƣợng sản
xuất là nguồn gốc cơ bản và trực tiếp ra đời của chế độ tƣ hữu.
Từ đó, nhìn chung, kinh tế tư nhân có những đặc điểm cơ bản:
- Kinh tế tư nhân gắn liền với lợi ích cá nhân mà lợi ích cá nhân trong
lịch sử phát triển của xã hội loài ngƣời là động lực trƣớc hết và chủ yếu thúc
15
đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Do đó, kinh tế tƣ nhân có sức sống mãnh
liệt, nó xuất hiện một cách tự nhiên để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con
ngƣời nên luôn chứa đựng bên trong những nhân tố ổn định tự có và ngay
trong môi trƣờng đào thải khắc nghiệt kinh tế tƣ nhân vẫn tồn tại. Trong các
nền kinh tế không có sự cấm đoán đối với kinh tế tƣ nhân thì các doanh
nghiệp thuộc loại hình tế tƣ nhân đƣợc hình thành rất linh hoạt, dễ dàng, thích
ứng theo nguyên tắc “ở đâu có cầu, ở đó có cung”.
- Kinh tế tư nhân với mô hình tiêu biểu là doanh nghiệp của tư nhân là
nhận và khuyến khích mô hình tổ chức doanh nghiệp của kinh tế tƣ nhân nhƣ
là một tự nhiên. Trong cơ chế thị trƣờng - một kiểu tổ chức kinh tế mà ngƣời
tiêu dùng và nhà sản xuất tác động lẫn nhau thông qua thị trƣờng – các hoạt
động của chủ thể đều phải tuân theo và phù hợp với những quy luật kinh tế
nên năng động và hiệu quả, chỉ những doanh nghiệp thích ứng đƣợc mới tồn
tại và phát triển, ngƣợc lại thì phá sản, qua đó các nguồn lực xã hội đƣợc sử
dụng ngày càng có hiệu quả. Trong khi đó, kinh tế quốc doanh đƣợc sinh ra
bởi các mục đích chính trị, vận hành theo mệnh lệnh của Nhà nƣớc gắn với cơ
chế kế hoạch hóa tập trung, dù đƣợc hƣớng dẫn, động viên, chỉ thị phải ứng
xử theo cơ chế thị trƣờng nhƣng vẫn khó thích ứng. Vì vậy, phát triển kinh tế
thị trƣờng chính là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển kinh tế tƣ nhân nói
riêng và nền kinh tế nói chung. Ngƣợc lại, sự phát triển của kinh tế tƣ nhân là
nền tảng của kinh tế thị trƣờng.
Kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay có đặc điểm khác so với kinh tế tư
nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa, thể hiện ở các mặt nhƣ sau:
- Sự tái lập kinh tế tƣ nhân ở nƣớc ta là sản phẩm của đổi mới, là kết
quả của chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, là bộ phận hữu cơ
của nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Các chủ hộ kinh
17
doanh cá thể và doanh nghiệp phần lớn xuất thân từ những đảng viên, đoàn
viên, cán bộ quân đội, tầng lớp tri thức sinh ra và trƣởng thành trong chế độ
mới. Ngƣời lao động cũng đƣợc hình thành trong xã hội mới. Lực lƣợng xã
hội tham gia kinh tế tƣ nhân là đông đảo các tầng lớp nhân dân. Trong các
doanh nghiệp, đã và đang hình thành tổ chức chính trị - xã hội do Đảng Cộng
sản Việt Nam tổ chức và lãnh đạo.
- Kinh tế tƣ nhân ở nƣớc ta phát triển theo định hƣớng do Đảng Cộng
sản Việt Nam đề ra đƣợc thể chế hoá thành hệ thống chính sách, pháp luật của
Nhà nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thể hiện ý chí nhân dân và vì
lợi ích của đông đảo nhân dân.
bình đẳng trƣớc pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành
mạnh. Văn kiện Đại hội XI đã vạch rõ định hƣớng cơ bản: Phát triển mạnh
các hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp tƣ nhân. Đồng thời
xoá bỏ mọi rào cản, tạo tâm lý xã hội và môi trƣờng kinh doanh thuận lợi cho
các loại hình doanh nghiệp của tƣ nhân, phát triển không hạn chế quy mô
trong mọi ngành nghề, lĩnh vực, kể cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh quan
trọng của nền kinh tế mà pháp luật không cấm. Về đối tƣợng tham gia vào
khu vực kinh tế tƣ nhân, đã mở rộng hơn: Mọi công dân có quyền tham gia
các hoạt động đầu tƣ, kinh doanh với quyền sở hữu tài sản và quyền tự do
kinh doanh đƣợc pháp luật bảo hộ; có quyền bình đẳng trong đầu tƣ, kinh
doanh, tiếp cận các cơ sở, nguồn lực kinh doanh, thông tin và nhận thông tin.
Về chính sách phát huy các nguồn lực, Đại hội XI chủ trƣơng: Khuyến khích
phát triển các loại hình doanh nghiệp, các hình thức tổ chức sản xuất kinh
doanh với sở hữu hỗn hợp, nhất là các doanh nghiệp cổ phần. Hoàn thiện cơ
chế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tƣ nhân theo quy hoạch và quy
định của pháp luật, thúc đẩy hình thành các tập đoàn kinh tế tƣ nhân, khuyến
19
khích tƣ nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nƣớc. Thu hút đầu tƣ
nƣớc ngoài có công nghệ hiện đại, thân thiện môi trƣờng và tăng cƣờng sự
liên kết với các doanh nghiệp trong nƣớc. Thực hiện Chƣơng trình quốc gia
về phát triển doanh nghiệp gắn với quá trình cơ cấu lại doanh nghiệp. Hỗ trợ
phát triển mạnh các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tạo điều kiện để hình thành
các doanh nghiệp lớn, có sức cạnh tranh trên thị trƣờng.
Từ khi đổi mới đến nay vai trò của kinh tế tƣ nhân ngày càng đƣợc thể
hiện rõ, đặc biệt là đối với sự phát triển của nền kinh tế thị trƣờng và đời sống
xã hội ở Việt Nam.
Vai trò của kinh tế tư nhân đối với sự phát triển của nền kinh tế thị
trường, thể hiện ở những điểm sau:
- Sự phát triển của kinh tế tƣ nhân là nền tảng của kinh tế thị trƣờng.